tiểu luận cao học Thực trạng và giải pháp công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện châu thành, tỉnh an giang từ năm 2010 2015 - Pdf 38

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm qua vấn đề tệ nạn xã hội và đấu tranh phòng, chống tệ nạn
xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và bước đầu thu được
những kết quả đáng khả quan. Đã từng bước hoàn thiện được các văn bản pháp
luật về phòng, chống tệ nạn xã hội, tăng cường sự chỉ đạo triển khai thực hiện các
chương trình hành động quốc gia về công tác này, giảm được các tụ điểm tệ nạn xã
hội phức tạp.
Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa với các mặt trái của nó đang làm nảy sinh
và lan nhanh nhiều tệ nạn xã hội mới như cá độ bóng đá qua internet, nghiện game,
ảnh hưởng văn hóa phẩm đồ trụy du nhập từ bên ngoài, xâm hại tình dục trẻ em...
Số người mắc các loại tệ nạn xã hội vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức
tạp trên diện rộng, đặc biệt là các tệ nạn ma tuý, cờ bạc, xâm hại tình dục trẻ em...
Hàng năm Nhà nước ta từ Trung ương đến địa phương phải chi ra hàng ngàn tỉ
đồng cùng với một lực lượng lớn về con người để tập trung đấu tranh triệt phá các
ổ nhóm, đường dây buôn bán ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em. Tổ
chức chữa bệnh, cai nghiện phục hồi và tái hoà nhập cộng đồng cho người nghiện
ma tuý và gái mại dâm, song hiệu quả chưa cao. Tỷ lệ tái phạm còn rất lớn. Hàng
ngày, hàng giờ bộ phận dân cư mắc các tệ nạn xã hội đã tiêu phí một lượng tiền rất
lớn ném vào ma túy, ăn chơi sa đoạ, không những không mang lại lợi ích kinh tế.
Ngược lại làm cho một bộ phận dân cư này ngày càng rơi vào tình trạng đói nghèo,
ảnh hưởng tới sự phát triển của giống nòi và nguồn nhân lực của đất nước trong
tương lai, làm phát sinh tội phạm. Tệ nạn xã hội gia tăng, gây mất an ninh trật tự,
làm xói mòn đạo đức, làm sai lệch những chuẩn mực và giá trị truyền thống văn
hoá tốt đẹp của dân tộc, phá hoại hạnh phúc của mỗi con người, mỗi gia đình, đe
doạ đến tính mạng, sức khoẻ của nhân dân. Sự gia tăng của tệ nạn xã hội còn là
nguyên nhân chủ yếu làm lây lan nhanh căn bệnh HIV/AIDS trong cộng đồng dân
cư.

1



chuẩn mực, đạo đức xã hội và quy định của pháp luật hiện hành, gây tác hại đến
đời sống vật chất, tinh thần của quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự an
toàn xã hội.
Tệ nạn xã hội có những đặc trưng sau:
- Là những thói hư tật xấu, phong tục tập quán lạc hậu;
- Là hiện tượng tiêu cực mang tính phổ biến lây lan;
- Vi phạm các chuẩn mực xã hội, trái với đạo đức, pháp luật xã hội chủ
nghĩa;
- Tệ nạn xã hội gây ra những hậu quả tác hại nhất định.
1.1.2. Phân loại tệ nạn xã hội:
- Tệ nạn mại dâm.
- Tệ nạn cờ bạc.
- Tệ nạn ma túy
- Tệ mê tín dị đoan…
Ở nước ta, tệ nạn xã hội xuất hiện và diễn biến phức tạp trong từng thời
gian, với những dạng biểu hiện khác nhau. Tuy nhiên, xét về đặc điểm, loại đối
tượng tham gia, tính chất nguy hiểm và mức độ phổ biến trong giai đoạn hiện nay
trên địa bàn huyện Châu Thành thì cần tập trung vào các loại tệ nạn xã hội sau đây:

3


* Tệ nạn ma túy:
Ma túy là một chất độc gây nghiện có hướng tác động vào tế bào thần kinh
trung ương, làm biến đổi chức năng sinh lý của nó trên hai hệ thống:
- Thần kinh vận động (tư duy và vận động có ý thức).
- Thần kinh thực vật (các hoạt động tự động và ngoài ý thức). Từ đó làm
biến đổi tức thì hay dần dần những hoạt động có tính chủ động và thụ động của
con người.
Đặc điểm của chất ma túy:

động về tệ nạn xã hội, bao gồm những hành vi nguy hiểm trong số các hoạt động
về tệ nạn xã hội được pháp luật hình sự quy định trong những điều kiện cụ thể.
Trên địa bàn huyện hiện nay thường xảy ra những loại tệ nạn và tội phạm về
tệ nạn xã hội nguy hiểm nổi lên như:
Những loại tội phạm về tệ nạn xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự
năm 1999 được sửa đổi bổ sung vào năm 2009 bao gồm: Tội đánh bạc (Điều 248),
tội tổ chức đánh bạc (Điều 249), tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112), tội giao cấu với
trẻ em (Điều 115), tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy (Điều 194).
1.2. Tác hại của tệ nạn xã hội:
1.2.1. Tác hại của tệ nạn xã hội đến kinh tế - xã hội:
Tệ nạn xã hội đang tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã
hội, là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi
giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Từ những hậu quả đó kéo theo
hệ lụy là làm gia tăng đói nghèo, phân tầng xã hội, mất cân đối các nguồn lực, làm
biến động ổn định trật tự xã hội. Chi phí xã hội tăng do phải giải quyết các vấn đề xã
hội phức tạp do tệ nạn xã hội gây ra.

5


Tệ nạn nghiện ma tuý, mại dâm và một số các loại tệ nạn xã hội khác gây ra
cho con người mắc các căn bệnh hiểm nghèo, rất khó khăn trong việc chữa trị như
bệnh tâm thần kinh, các bệnh nội ngoại khoa, đặc biệt là HIV/AIDS. Đồng thời là
nguồn bệnh làm nguy cơ lây lan nhanh trong cộng đồng, làm suy giảm sức khoẻ.
Thực tế cho thấy đại đa số những người sử dụng ma tuý, đặc biệt là phụ nữ là
những người bán dâm để lấy tiền mua ma tuý có tỷ lệ lây nhiễm HIV rất cao.
1.2.2. Tác động xấu đến an ninh trật tự:
Tệ nạn xã hội là nguồn gốc phát sinh ra tội phạm. Tệ nạn nghiện ma tuý, cờ

hội có chiều hướng gia tăng và phức tạp, đang ngày càng tác động xấu đến an
ninh trật tự và kinh tế xã hội. Trước tình hình đó, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành và toàn xã hội
đẩy mạnh phòng ngừa và đấu tranh với tệ nạn xã hội.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nêu rõ "Tình trạng tham nhũng, buôn
lậu, làm ăn phi pháp chưa được ngăn chặn, có chỗ còn nghiêm trọng hơn. Những hoạt
động văn hoá không lành mạnh và các tệ nạn xã hội vẫn phát triển". Và đưa ra nhiệm
vụ là "kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội,
tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, đẩy
lùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội, nhất là tệ trộm cướp, cờ bạc, mua bán dâm
và ma tuý".
Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng ta đánh giá: "Công tác phòng chống tệ nạn xã
hội đã được đẩy mạnh hơn. Nhiều địa phương đã có những giải pháp tốt phòng
chống ma tuý, tệ nạn mại dâm và ngăn chặn các hoạt động văn hoá không lành
mạnh. Các hình thức cai nghiện ma tuý, quản lý người sau cai nghiện ma tuý hiệu
quả hơn". Song "Một số tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Cuộc đấu
tranh chống các thói hư tật xấu thiếu các biện pháp đồng bộ và chưa tạo được
chuyển biến rõ nét; tệ nạn ma tuý, mại dâm còn diễn biến phức tạp”. Và Đảng ta đã
đề ra mục tiêu:

7


Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết việc làm, khuyến khích làm
giàu hợp pháp, xóa đói, giảm nghèo, phát triển hệ thống an sinh; đẩy lùi các tệ nạn xã
hội. Phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nêu cao hiệu lực quản
lý nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo bước chuyển rõ nét về cải cách hành
chính, ngăn chặn và đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Ngoài các văn kiện Nghị quyết của Đảng, Ban Bí thư, Bộ Chính trị còn ban
hành các Chỉ thị lãnh đạo chuyên đề về công tác phòng chống tệ nạn xã hội.

Nghị định số: 163/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành biện pháp giáo dục tại phường, xã, thị trấn.
Nghị định số: 135/2004/NĐ-CP ngày 10/06/2004 của Chính phủ quy định chế
độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa
bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người
chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.
Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội
thông qua ngày 21.12.1999 được sửa đổi bổ sung vào ngày 19/06/2009 điển hình:
Tội đánh bạc (Điều 248) có khung hình phạt cao nhất bị phạt tù từ 2 năm – 7 năm,
có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng – 30.000.000 đồng. Tội hiếp dâm trẻ em
(Điều 112) có khung hình phạt cao nhất bị phạt tù từ 12 năm – 20 năm, tù chung
thân hoặc tử hình. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy (Điều 194) có khung hình phạt cao nhất bị phạt tù 20 năm, tù chung
thân hoặc tử hình.
Nhà nước Việt Nam còn tích cực tham gia cam kết các điều ước Quốc tế và phối
hợp với các nước trong khu vực về đấu tranh phòng chống ma tuý, phòng chống buôn
bán người, bảo vệ quyền con người...

9


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TỆ NẠN XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHÂU THÀNH:
2.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội ở huyện Châu Thành:
- Đặc điểm về địa lý tự nhiên:
Huyện Châu Thành tiếp giáp với Thành phố Long Xuyên là trung tâm hành
chính, kinh tế của tỉnh An Giang, nằm về phía tây sông Hậu, có diện tích đất tự
nhiên là 35.506,21 ha chiếm 10.04% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó diện
tích đất nông nghiệp của huyện là 30.739,10 ha, chiếm 86,57% diện tích tự nhiên;

- Đặc điểm về xã hội:
Huyện Châu Thành có 13 đơn vị hành chính, gồm 12 xã và 01 thị trấn, dân
số tính đến năm 2012 là 177.988 người, trong đó nữ 87.645 người, số người trong
độ tuổi lao động là 117.693 người, mật độ dân số 480/km 2, có ba dân tộc chủ yếu,
sinh sống trên địa bàn huyện: Kinh 18.940 người, chiếm 94,91%; Khơme 4.363
người, chiếm 2,45%, Chăm 979, chiếm 0,55%; dân tộc khác 173 người.
Với mật độ dân cư đông đúc, nhiều thành phần dân tộc, tôn giáo gây không
ít khó khăn trong công tác giải quyết việc làm, quản lý địa bàn của chính quyền cơ
sở.
2.2. Tình hình tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện Châu Thành và kết quả
công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội những năm qua (2010 – 2013):
2.2.1. Tình hình tệ nạn xã hội:
Trên địa bàn huyện Châu Thành nổi lên các tệ nạn như ma túy, cờ bạc, đặc
biệt xâm hại tình dục trẻ em và diễn biến phức tạp. Các đối tượng hoạt động ngụy
trang bằng nhiều hình thức rất tinh vi, cấu kết, tụ tập nhiều đối tượng ở nhiều địa
phương khác nhau, có phân công người canh đường, cảnh giới hoặc cho người sử
dụng điện thoại di động ở nhiều điểm trên đường bộ, đường sông. Nếu phát hiện có
lực lượng truy bắt thì đối tượng canh đường dùng điện thoại di động báo cho đối

11


tượng buôn bán, sử dụng ma túy hoặc đối tượng tổ chức trường gà để bọn chúng tự
giải tán. Riêng đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy thường sử dụng thuốc nếu
lực lượng công an đưa đi thử test ma túy thì không phát hiện được. Ngoài ra các
đối tượng hoạt động tệ nạn xã hội thường xuyên thay đổi địa điểm hoạt động, gây
khó khăn cho việc phát hiện và bắt xử lý, làm ảnh hưởng tình hình trật tự ở địa
phương. Đặc biệt hiện nay chúng còn cho người theo dõi lực lượng công an làm
nhiệm vụ này. Nếu có cơ hội chúng móc ngoặc, lôi kéo. Riêng về xâm hại tình dục
trẻ em thường xảy ra các vùng sâu. Đối tượng thường bị ảnh hưởng của phim ảnh

Thường xuyên nắm địa bàn, tổ chức triển khai các đợt cao điểm tấn công
trấn áp tệ nạn xã hội: Từ năm 2010 - 2103 triệt phá 4 tụ điểm mua bán, tổ chức sử
dụng ma túy; phát hiện và xử lý 189 vụ với 381 đối tượng sử dụng trái phép chất
ma túy, điều tra, truy tố, xét xử 04 vụ với 04 bị cáo, đã tổ chức xét xử lưu động tại
nơi xảy ra tội phạm để tăng cường giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện:
Tổ chức cai nghiện bắt buộc 47 người nghiện ma túy tại các Trung tâm
Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội. Giáo dục tại xã, thị trấn cho 94 người
nghiện ma túy, lập danh sách quản lý 250 người nghiện ma túy.
Quản lý, dạy nghề cho 30 người sau cai nghiện. Công tác quản lý sau cai
được giao cho gia đình, cơ quan, đoàn thể giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng.
- Tệ nạn mại dâm: Thường xuyên tổ chức đoàn kiểm tra liên ngành triển
khai kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm
như Karaoke, quán nhậu, cà phê... Tuy nhiên chưa xử lý trường hợp nào liên quan
tệ nạn mại dâm.
- Tệ nạn cờ bạc:
Từ năm 2010 - 2103 triệt phá 582 tụ điểm đá gá, lắc tài xỉu, đánh bài, số đề,
cá độ bóng đá… Xử lý 2.047 đối tượng, xử phạt 1.420.000.000 đồng, điều tra, truy
tố, xét xử 02 vụ với 04 bị cáo.
- Xâm hại tình dục trẻ em:

13


Từ năm 2010 - 2103 điều tra, truy tố, xét xử 09 vụ với 10 bị cáo.
Trong nhiều năm qua, Châu Thành đã tập trung nguồn lực và chỉ đạo đẩy mạnh
công tác tuyên truyền giáo dục về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về
phòng, chống tệ nạn xã hội. Đồng thời phát động toàn dân tích cực tham gia đấu tranh
tố giác, truy quét tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh các phong trào xây dựng ấp Văn Hóa, gia
đình văn hóa không có tệ nạn xã hội, nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện phục hồi,

chống tệ nạn xã hội. Song song đó, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã phối hợp tốt
trong việc chọn địa điểm đưa ra xét xử lưu động những vụ án phát sinh từ tệ nạn xã
hội tại những điểm phù hợp, phục vụ cho công tác tuyên truyền trong quần chúng
nhân dân.
Ý thức của người dân trong phòng, chống tệ nạn xã hội được thể hiện rõ rệt
trong năm qua, đã hỗ trợ tích cực đối với hoạt động phòng, chống tệ nạn xã hội và
có ý nghĩa vô cùng to lớn để đảm bảo sự thắng lợi của hoạt động này.
2.2.3. Một số hạn chế :
- Tệ nạn xã hội trên địa bàn còn diễn biến phức tạp tăng, giảm không ổn
định. Số người tái phạm và vi phạm mới vẫn còn tăng.
- Tệ nạn mại dâm thực tế có xảy ra nhưng chưa triệt phá được.
- Tình hình tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý, cờ bạc, cá độ bóng đá, số đề
vẫn thường xuyên diễn ra trên diện rộng nhưng việc đấu tranh xử lý chưa được
nhiều. Đa phần chỉ dừng lại ở mức độ xử phạt hành chính, chưa đủ tính răn đe, giáo
dục.
- Các lực lượng chuyên môn thường chỉ tập trung chống, chưa quan tâm đến
công tác phòng ngừa.
- Việc giáo dục, giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện có làm nhưng chỉ
qua loa, hình thức, không đi vào chiều sâu, thiếu thường xuyên. Chưa tổng rút kinh
nghiệm.

15


- Công tác tuyên truyền có nơi, có lúc chỉ mang tính hình thức chưa có nhiều
nội dung phong phú, một số cuộc tuyên truyền chưa có nội dung phù hợp với đối
tượng được tuyên truyền.
- Chưa khai thác và vận dụng một cách tốt nhất vai trò của quần chúng nhân
dân, chưa thực sự làm dấy lên tinh thần đấu tranh của quần chúng trong việc đấu
tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội. Tình trạng người dân quay lưng với công tác

thành công cho công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hôi.
- Đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội có hiệu quả phải phát huy được sức
mạnh của cả hệ thống chính trị với sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân.
- Trong triển khai thực hiện cần quán triệt phương châm: Lấy phòng ngừa là
chính. Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức là cơ bản. Lấy dân làm gốc, gia
đình làm tế bào, xã, thị trấn, ấp, cơ quan xí nghiệp, đơn vị, trường học làm điểm
tựa, lực lượng công an làm nồng cốt.
- Thực tế tại địa phương những năm qua cho thấy:
Ở nơi nào lực lượng quần chúng được tuyên truyền giáo dục bồi dưỡng kiến
thức về pháp luật phòng chống tệ nạn xã hội, về phương thức thủ đoạn hoạt động
của tệ nạn xã hội; áp dụng biện pháp phòng ngừa thông qua việc tập hợp tổ chức
quần chúng, phát huy vai trò nồng cốt của lực lượng công an và các tổ chức làm
công tác an ninh trật tự thì nơi ấy phong trào quần chúng mạnh, nhân dân tích cực
tham gia phòng chống tệ nạn xã hội thì tình hình an ninh trật tự được đảm bảo, tệ
nạn xã hội giảm. Điều quan trọng nữa là phải chú ý làm tốt công tác phối hợp với
các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội để quản lý, cảm hóa giáo dục để họ tái hòa
nhập cộng đồng. Đặc biệt quan tâm đến việc giúp họ thoát khỏi mặc cảm và tạo
công ăn việc làm ổn định cho họ.
- Việc đấu tranh tệ nạn xã hội muốn đạt hiệu quả cao phải có kế hoạch cụ
thể, đặc biệt lực lượng công an phải có chương trình hành động cụ thể như lên

17


danh sách các đối tượng hoạt động nổi, đối tượng chủ mưu cầm đầu các tụ điểm tệ
nạn xã hội, vẽ sơ đồ các tụ điểm phức tạp, sử dụng các phương tiện khoa học kỹ
thuật thu thập chứng cứ như quay phim, chụp ảnh… Để khi triệt phá các tụ điểm tệ
nạn xã hội phải xử lý được các đối tượng tham gia, đặc biệt đối tượng cầm đầu,
chứa chấp. Việc xử lý phải nghiêm minh, công bằng và đúng pháp luật nhằm răn
đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội, kết hợp các phương tiện thông tin

luật phải kiên quyết, nghiêm minh, đảm bảo công bằng của mọi người trước pháp
luật. Với mục tiêu đẩy lùi tệ nạn xã hội, tạo ra được môi trường sống trong sạch
lành mạnh, hạn chế được tác động xấu của nó tới an ninh trật tự và phát triển kinh
tế - xã hội, góp phần thực hiện được mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh”.

19


3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phòng, chống tệ nạn xã hội:
3.2.1. Giải pháp chung:
Một là, tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân, để mọi người tham gia
tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội.
Tuyên truyền, giáo dục cho quần chúng nhân dân nhận thức các quy luật,
phương thức thủ đoạn hoạt động và tác hại của các tệ nạn xã hội. Từ đó, làm cho
họ có ý thức tự giác tham gia đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội.
Hình thức tuyên truyền phải gắn liền với thực tiễn của từng xã, ấp nhưng
chủ yếu bằng các hình thức sau: Đài phát thanh, truyền hình, các diễn đàn lắng
nghe ý kiến nhân dân...
Hai là, cấp ủy Đảng, Chính quyền, các Ngành, Đoàn thể phải thấy từ sự
phức tạp của tình hình tệ nạn xã hội hiện nay và tính cấp thiết của việc đẩy mạnh
thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tệ nạn xã hội gắn với nhiệm vụ xây dựng và phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Xác định đây là nhiệm vụ chung của cả hệ
thống chính trị, của toàn xã hội và của mọi công dân.
Ba là, các cấp, các Ngành, Đoàn thể căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của
mình, xây dựng kế hoạch, giải pháp phối hợp cụ thể thiết thực; nhằm thực hiện
công tác phòng, chống tệ nạn xã hội đạt kết quả cao nhất. Đề cao vai trò của nhà
trường, gia đình, nhất là thầy cô giáo, các bậc cha mẹ phải nêu gương tốt và có
trách nhiệm giáo dục quản lý không để học sinh, con em vi phạm tệ nạn xã hội.

b. Giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội:
Ưu tiên giải quyết việc làm cho đối tượng ma túy, cờ bạc để họ tái hoà nhập
cộng đồng. Muốn vậy, phải đẩy mạnh các hoạt động tư vấn hướng nghiệp về việc
làm, tư vấn pháp lý, tăng cường công tác đào tạo nghề phù hợp với thị trường lao
động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm.

21


Chăm lo hơn nữa công tác giáo dục phổ cập, chăm lo sức khoẻ nhân dân,
giáo dục tâm lý, giới tính và hiểu biết về giới. Hạn chế tình trạng trẻ em bỏ học, trẻ
em lang thang đi làm ăn xa kiếm sống.
c. Giải pháp về nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về phòng chống tệ
nạn xã hội:
Đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tệ nạn xã
hội có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ để đảm bảo triển khai các
chương trình được thông suốt và thực thi có hiệu quả.
Bên cạnh đó các cấp Ủy đảng và chính quyền cũng như các ban ngành đoàn
thể và các tổ chức kinh tế xã hội phải đưa công tác phòng, chống tệ nạn xã hội
thành nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan đơn vị và tổ chức mình. Nâng cao năng
lực quản lý xã hội, thực thi quyền lực một cách nghiêm minh, tăng cường công tác
quản lý hành chính, thường xuyên thanh tra, kiểm tra địa bàn để phát hiện xử lý
kịp thời. Điều đó được thực hiện bằng cách thường xuyên kiểm tra sự di chuyển
dân cư, ngăn ngừa các hình thức kinh doanh, dịch vụ trái phép, quy hoạch sắp xếp
các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị tệ nạn xã hội lợi dụng hoạt động như các trò
chơi có thưởng, dịch vụ internet, dịch vụ cầm đồ... Ngoài ra, để thuận lợi cho việc
quản lý và kiểm tra kiểm soát, phải chấn chỉnh việc cấp đăng ký kinh doanh theo
đúng các tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể. Đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính
quyền với các đoàn thể quần chúng cùng với gia đình để quản lý, giáo dục các đối
tượng vi phạm. Hàng năm phải có tổng kết đánh giá tình hình kết quả thực hiện,

nên sự cấu kết cộng đồng vững mạnh. Sự cấu kết này chính là sức mạnh để cộng
đồng có thể tự giải quyết được các vấn đề xã hội tiêu cực phát sinh và tất yếu sẽ
chủ động giải quyết được vấn đề về tệ nạn xã hội. Những giá trị truyền thống văn
hoá tốt đẹp được duy trì chính là những lá chắn vững chắc không cho tệ nạn xã hội
xâm nhập và lan ra cộng đồng.
Xây dựng xã, thị trấn, cơ quan đơn vị văn hoá lành mạnh, không có tệ nạn
xã hội. Các hành vi vi phạm tệ nạn xã hội chỉ xảy ra ngay tại địa bàn cơ sở, ngay
tại cơ quan đơn vị. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh có ý nghĩa
quan trọng đẩy lùi tệ nạn xã hội. Nội dung xây dựng xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị

23


văn hoá, cần tập trung thực hiện nếp sống văn minh lành mạnh nơi công sở, hay ở
cơ quan đơn vị. Mọi người đều phải có ý thức chấp hành kỷ luật nội quy, quy chế
của cơ quan đơn vị cũng như pháp luật của Nhà nước. Đối với xã, thị trấn phải gắn
chặt các nội dung của cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá ở khu dân cư” và đạt được các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới cũng
như phong trào xây dựng các ấp không có tệ nạn xã hội. Đối với xã, thị trấn trọng
điểm phải tập trung chỉ đạo để làm chuyển biến rõ nét. Tăng cường công tác tổng
kết thực tiễn ở địa phương kết hợp với học tập các mô hình hay của các huyện bạn
để xây dựng được mô hình điển hình làm tốt công tác phòng, chống tệ nạn xã hội,
từ đó rút kinh nghiệm nhân ra diện rộng trên địa bàn toàn huyện.
e. Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội
trong hệ thống nhà trường:
Học sinh, sinh viên là đối tượng rất dễ bị tệ nạn xã hội lợi dụng. Trong số
đối tượng nghiện ma tuý, hoạt động mại dâm phần lớn là ở lứa tuổi thanh thiếu
niên và trong số đó có một bộ phận là những học sinh, sinh viên vi phạm bị đuổi
học. Thực tế phần lớn các em đều nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về tệ nạn xã
hội, về giới, bình đẳng giới, cũng như tâm lý tuổi vị thành niên, nhân cách và giới

Điều tra khảo sát nắm chắc tình hình người nghiện để phân loại đưa các đối
tượng nghiện nặng, tái sử dụng ma tuý nhiều lần vào các Trung tâm cai nghiện bắt
buộc theo quy định của pháp luật, cách ly môi trường cung cấp chất gây nghiện. Nâng
cao chất lượng chữa trị, cai nghiện phục hồi, cho người nghiện ma tuý và người mại
dâm ở các Trung tâm để khi họ trở về với cộng đồng, với gia đình thì họ nâng cao
được nhận thức, thay đổi hành vi, có cuộc sống ổn định, có việc làm, chống tái phạm.
Chất lượng giáo dục, chữa bệnh ở các Trung tâm cần chú ý đến giáo dục văn hoá,
giáo dục pháp luật, giáo dục phục hồi hành vi nhân cách nhằm giúp họ nâng cao nhận
thức tự giác chấp hành, tránh xa các tệ nạn xã hội. Tổ chức dạy nghề và nâng cao chất
lượng dạy nghề, đảm bảo khi về cộng đồng họ tự có đủ khả năng tìm kiếm được việc
làm phù hợp có thu nhập.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status