PHẦN MỞ ĐẦU
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay đã mang lại cho nước ta nhiều thành
tựu đáng kể, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực kinh tế - xã hội
đã xóa bỏ được cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN, ổn định và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện đầu tư,
thúc đẩy phát triển sản xuất, làm thay đổi bộ mặt của đất nước. Vì vậy, công tác cải cách
thủ tục hành chính cũng có tác động to lớn đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính sẽ gỡ bỏ những rào cản về
thủ tục hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt
giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành
chính.
Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ góp phần nâng cao hình ảnh
của Việt Nam trước cộng đồng trong nước và quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt
Nam về tính minh bạch, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Đây là những giá
trị vô hình nhưng có tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cụ
thể là có ảnh hưởng tích cực đến việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập khẩu, việc
làm, an sinh xã hội,...
Hiện nay, các thủ tục hành chính còn tồn tại một số hiện tượng mang tính khá phổ
biến như: rườm ra, trùng chéo, cứng nhắc (hợp pháp nhưng chưa hợp lý, chưa phù hợp
thực tế); thủ tục cũ, mới lẫn lộn. Bên cạnh đó, việc ban hành thủ tục hành chính có lúc,
có nơi còn tuỳ tiện, kể cả ban hành "giấy phép con"; cách thức giải quyết thủ tục vẫn còn
hiện tượng cửa quyền, hạch sách, chậm trễ theo lối "dân cần, quan không vội” và vẫn còn
qua nhiều khâu trung gian lòng vòng; thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết thủ tục nhiều
khi không rõ và vẫn còn hiện tượng tổ chức, công dân (khách hàng) đi lại nhiều lần mới
giải quyết xong công việc.
Có thể nói, tính bức xúc của việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính không chỉ
nhìn từ khía cạnh kinh tế, tức là tiết kiệm tiền của, là xây dựng môi trường pháp lý để các
thành phần kinh tế, các nhà đầu tư yên tâm làm ăn, phát triển; không chỉ nhìn từ khía
Cải cách thủ tục hành chính có thể được hiểu như là một quá trình thay đổi nhằm
nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành
chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ
máy hành chính Nhà nước. Cải cách thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng
cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý
Nhà nước của nhân dân. Cải cách thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách nền
hành chính Nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hành
chính quốc gia; thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, cải cách thủ tục hành
chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động.
Cải cách thủ tục hành chính là một công việc thuộc nội dung cải cách thể chế hành
chính, trong khi đó, cải cách thể chế hành chính là một trong bốn nội dung của Chương
trình tổng thể cải cách hành chính. Tuy nhiên, cải cách thủ tục hành chính lại được đặt ra
trước cải cách hành chính, được xem như là khâu đột phá của cải cách hành chính, và
trong tiến trình cải cách hành chính, vấn đề thủ tục hành chính thường xuyên được Chính
phủ quan tâm. Đó là vì thủ tục hành chính hàng ngày liên quan đến công việc nội bộ của
một cơ quan, cấp chính quyền, cũng như đến các tổ chức và cá nhân công dân trong mối
quan hệ với Nhà nước. Các quyền, nghĩa vụ của mọi công dân đã được quy định ở Hiến
pháp hay ở các bộ luật, cũng như các yêu cầu, nguyện vọng của họ có được thực hiện hay
không, thực hiện như thế nào đều phải thông qua thủ tục hành chính do các cơ quan, các
cấp chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện trên hầu khắp các lĩnh vực
đời sống xã hội, từ kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, dân tộc, tôn giáo cho đến an
ninh - quốc phòng, đối ngoại... Chức năng quản lý nhà nước không chỉ nhằm bảo vệ pháp
luật, chế độ chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, các quyền hợp pháp chính
đáng của mọi tổ chức và công dân, mà còn tạo điều kiện, môi trường pháp lý, môi trường
xã hội thuận lợi cho các tổ chức và công dân làm ăn, sinh sống. Việc tạo điều kiện, môi
trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức và công dân sinh sống, phát triển kinh tế thường
được xác định như là một chính sách; còn trên thực tế, sự thuận lợi hay khó khăn trong
Mục tiêu bao trùm của chiến lược cải cách thuế đến năm 2015 là xây dựng hệ
thống chính sách thuế đồng bộ, hợp lý, phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế, đồng thời hiện đại hoá công
tác quản lý thuế ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực cả về cơ chế quản lý,
công nghệ quản lý, bộ máy và con người quản lý.
Do đó để hội nhập với thế giới, thì việc cải cách chính sách thuế và cải cách quản lý
thuế là tất yếu trong quá trình đổi mới nền kinh tế và đổi mới nền hành chính quốc gia
trong đó có cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế tại việt Nam.
1.2 . Quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về cải cách thủ tục
hành chính đối với lĩnh vực thuế:
1.2.1. Quan điểm của Đảng:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: Thực hiện Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2011 - 2020 đã được Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng ta đã
khẳng định về nhiệm vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước là “tập trung xây
dựng nền hành chính Nhà nước trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quản lý thống nhất,
thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính và
hiện đại hóa nền hành chính quốc gia đúng với vị trí là một trong các nội dung của đột
phá chiến lược”.
Quan điểm của Đại hội XI của Đảng về cải cách bộ máy nhà nước, tạo bước
chuyển mạnh về cải cách hành chính:
Thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính và hiện đại hoá nền hành
chính quốc gia. Tiếp tục kiện toàn bộ máy Chính phủ, nâng cao hiệu quả quản lý vĩ mô,
nhất là chất lượng xây dựng thể chế, quy hoạch, năng lực dự báo và khả năng phản ứng
chính sách trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản
lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân.
Đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế,
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp
tác quản lý thu thuế; nâng cao tinh thần phục vụ của cơ quan thuế đối với người nộp thuế
và nhất là tạo mọi tiện ích, rút ngắn thời gian làm thủ tục, giảm thiểu chi phí và nhân lực
cho người nộp thuế.
Tóm lại, cải cách thuế lần này phải toàn diện, triệt để và sâu sắc. Không chỉ bó hẹp
trong ngành Thuế mà còn làm thay đổi cách nhìn nhận của xã hội và các đối tượng nộp
thuế. Trong Chi cục Thuế phải thay đổi từ bộ máy quản lý, phương tiện quản lý, cách
thức quản lý theo hướng tự động hoá, hiện đại hoá.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ Ở CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ LONG
XUYÊN THỜI GIAN QUA
Để khắc phục tất cả các điểm yếu kém, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, trước hết phải
đánh giá lại tình hình thực hiện chính sách thuế, công tác quản lý thuế trong thời gian
qua, để thấy rõ những mặt tích cực cũng như những tồn tại. Qua đó đưa ra những giải
pháp tích cực nhằm thay đổi chính sách thuế, thay đối bộ mặt quản lý, phương tiện quản
lý, cách thức quản lý theo hướng tự động hoá, hiện đại hoá tất cả các khâu quản lý.
2.1.
Đ ặc điểm tình hình Chi cục Thuế thành phố Long Xuyên:
Thực hiện Quyết định số 503/QĐ-BTC ngày 29/03/2010 của Tổng Cục Thuế quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục
Thuế, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc
Nhà nước. Tổ chức bộ máy cơ quan gồm có 09 Đội chức năng thuộc Chi cục Thuế thực
hiện nhiệm vụ tham mưu giúp việc Chi cục trưởng gồm: Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người
nộp thuế; Đội Kê khai kế toán thuế & Tin học; Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế;
Đội Kiểm tra thuế; Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán; Đội Kiểm tra nội bộ; Đội Hành
chính - Nhân sự - Tài vụ -Ân chỉ; Đội trước bạ & Thu khác; Một số Đội Liên xã phường.
giảm tần suất khai thuế GTGT từ 12 lần/năm xuống còn 4 lần/năm đối với người nộp
thuế có quy mô vừa và nhỏ; rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn nộp tờ khai thuế
từ 5 ngày làm việc xuống còn 3 ngày làm việc; bỏ thủ tục ”chứng từ nộp thuế: trong bộ
hồ sơ đề nghị hoàn thuế; rút ngắn thời gian giải quyết hoàn thuế đối với trường hợp
”kiểm trước, hoàn sau” từ 60 ngày xuống còn 40 ngày, đối với trường hợp ”hoàn trước,
kiểm sau” từ 15 ngày xuống còn 06 ngày; bổ sung quy định xóa nợ thuế đối với các
khoản nợ khó có khả năng thu hồi sau khi đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế và
các khoản nợ này đã kéo dài trong thời hạn 10 năm; nâng mức xử lý đối với hành vi
chậm nộp tiền thuế, cụ thể: 0,05%/ngày nếu thời gian chậm nộp không quá 90 ngày và
mức 0,07%/ngày nếu thời gian nộp chậm vượt quá 90 ngày; nâng mức xử phạt đối với
hành vi khai sai từ 10% lên 20%; bổ sung quy định thời gian truy thu thuế là 10 năm, kể
từ ngày kiểm tra phát hiện; sửa đổi mức giảm trừ gia cảnh: tăng từ 4 triệu lên 9 triệu
đồng/tháng đối với cá nhân chịu thuế; tăng từ 1,6 triệu đồng lên 3,6 triệu đồng/tháng đối
với người phụ thuộc; bổ sung quy định về các khoản trợ cấp, phụ cấp được trừ khi tính
thuế TNCN và bổ sung khoản thu nhập được miễn thuế bao gồm cả tiền lương hưu do
quỹ hưu trí tự nguyện chi trả.
Tóm lại, các nội dung sửa đổi, hoàn thiện chính sách thuế nêu trên đã bám sát
nguyên tắc và mục tiêu của Chiến lược cải cách hệ thống thuế nhằm tạo thuận lợi, minh
bạch trong thực hiện, phù hợp yêu cầu cải cách thủ tục hành chính về thuế.
Triển khai, phổ biến các chính sách về thuế mới ban hành
Thông qua nhiều hình thức tuyên truyền, tập huấn, toàn ngành đã tổ chức phổ
biến, triển khai kịp thời trên địa bàn chính sách thuế mới ban hành, nhất là chính sách
miễn, giảm, gia hạn nộp thuế theo các giải pháp của Quốc hội và Chính phủ, trong đó các
chính sách được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm như: miễn giảm thuế theo Nghị quyết số
08/2011/QH13 của Quốc hội, Nghị định số 101/2011/NĐ-CP ngày 04/11/2011 của Chính
phủ; chế độ gia hạn nộp thuế thêm 3 tháng đối với số thuế TNDN phải nộp quý I, quý II
năm 2011 (theo Quyết định số 04/2012/QĐ-TTg ngày 19/01/2012); miễn, giảm, gia hạn
nộp thuế theo Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ và Nghị quyết số 29/2012/QH13
quả tích cực, vừa đảm bảo giải quyết và quản lý chặt chẽ nhu cầu giải quyết thủ tục hành
chính của người nộp thuế, vừa rút ngắn được thời gian thực thi công vụ tại cơ quan
thuế.Với cơ chế bộ phận Hành chính - Nhân sự trực tiếp tiếp nhận thủ tục hành chính của
người nộp thuế gửi qua đường bưu chính để chuyển bộ phận chức năng giải quyết. Đối
với thủ tục hành chính có trả kết quả, bộ phận chức năng trực tiếp trả kết quả cho người
nộp thuế.
Bộ phận “một cửa” tại Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế làm việc ngày
thứ Bảy tiếp nhận thủ tục hành chính của người nộp thuế nộp trực tiếp tại cơ quan thuế
để chuyển bộ phận chức năng giải quyết kịp thời. Trong năm đã tiếp nhận và trả kết quả
giải quyết 1.970 lượt hồ sơ thuế, trong đó cấp MST 1005 hồ sơ, đăng ký phương pháp
tính thuế 1 25 hồ sơ, xác nhận nghĩa vụ thuế 210 hồ sơ, tiếp nhận hồ sơ miễn giảm thuế
60, hồ sơ trả môn bài, tạm nghỉ 350 hồ sơ và các đề nghị khác 220 hồ sơ. Bộ phận Kê
khai - Kế toán thuế trực tiếp tiếp nhận tờ khai thuế, quyết toán thuế của người nộp thuế
nộp tại cơ quan thuế để ghi nhận kịp thời thông tin phát sinh về thuế của kỳ khai thuế
song song với việc tiếp nhận hồ sơ khai thuế qua mạng điện tử. Bộ phận Quản lý thu
Trước bạ và thu khác tại các Chi cục Thuế trực tiếp tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành
chính của người nộp thuế đối với các khoản thu về quản lý đất đai, tài sản phát sinh tại
địa phương.
Đồng thời, Chi cục Thuế duy trì tốt phối hợp với các, Sở Kế hoạch & Đầu tư,
phòng Tài chính - Kế hoạch, phòng Tài nguyên - Môi trường thực hiện cơ chế “một cửa”
liên thông để giải quyết các thủ tục hành chính liên quan lĩnh vực thành lập doanh nghiệp
và xác định các khoản thu ngân sách liên quan quản lý đất đai.
Ứng dụng công nghệ thông tin
Ứng dụng và thiết bị công nghệ thông tin của ngành thuế An Giang được Tổng
cục Thuế triển khai trang bị và lắp đặt.
Trọng tâm công tác ứng dụng công nghệ thông tin ngành Thuế năm 2012 tập trung
hỗ trợ triển khai các luật thuế mới, đặc biệt là 02 luật thuế có phạm vi toàn xã hội (thuế
Sử dụng đất phi nông nghiệp và thuế Thu nhập cá nhân). Ngoài ra, triển khai kịp thời
đã sắp xếp bố trí tổ chức bộ máy gọn nhẹ đảm bảo thực hiên đầy đủ chức năng, nhiệm vụ
theo đúng quy định của Tổng cục Thuế và Cục Thuế, tập trung cán bộ cho các khâu quan
trọng trong quản lý thuế theo chức năng như: Kiểm tra, Quản lý nợ, Kê khai - Kế toán
thuế & Tin học, Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế.
Thực hiện bổ nhiệm cán bộ các chức danh theo quy định của ngành (Bộ Tài
chính) Chi cục Thuế đã bổ nhiệm 24 trường hợp gồm 01 Chi cục trưởng, 03 Phó Chi cục
trưởng, 08 Đội trưởng và 12 Phó Đội trưởng.
Trong năm 2012 đã giải quyết hưu trí 02 công chức, nghỉ việc theo nguyện vọng
02 trường hợp; các trường hợp nghỉ việc theo nguyện vọng được trợ cấp theo đúng quy
định. Ngoài ra, để đảm bảo quyền lợi công chức, đã kịp thời thực hiện nâng bậc lương
thường xuyên và tính hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung và điều chỉnh mức lương đối
với 63 lao động hợp đồng.
Trong năm đã tổ chức 7 lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, chính
sách pháp luật thuế cho 819 lượt công chức cụ thể: đào tạo chuyên môn trình độ Thạc sĩ
là 01 công chức, Đại học là 07 công chức, Trung cấp văn thư lưu trữ là 01 công chức; bồi
dưỡng Chính trị: Cao cấp cho 02 công chức, Trung cấp cho 17 lượt công chức; bồi
dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước: có 01 lượt công chức tham dự; Quản lý nhà nước
trình độ chuyên viên chính 01 lượt công chức tham dự Quản lý nhà nước trình độ chuyên
viên.
Cải cách tổ chức bộ máy hoạt động theo mô hình chức năng của ngành ngày càng
ổn định và phát huy hiệu quả tích cực, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ của ngành,
công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức được quan tâm đẩy
mạnh và thực hiện nghiêm túc, đúng quy định đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý,
năng lực chuyên môn cho công chức ngành thuế, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng
cao của ngành, từ đó góp phần thực hiện thành công cải cách và hiện đại hoá ngành
Thuế.
* Những nguyên nhân đạt được kết quả trên:
Chi cục Thuế nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành
ngoài; giữa người Việt Nam với người nước ngoài; vẫn còn lồng ghép nhiều chính sách
xã hội, còn nhiều mức miễn giảm thuế làm hạn chế tính trung lập, không đảm bảo công
bằng giữa các đối tượng nộp thuế, dễ phát sinh tiêu cực, làm phức tạp công tác quản lý
thuế.
Môi trường quản lý thuế chưa thật sự tạo điều kiện cho công tác quản lý thu: Công
tác quản lý thuế là công tác kinh tế - chính trị - xã hội tổng hợp liên quan đến mọi mặt
của đời sống kinh tế- xã hội. Vì vậy, để làm tốt công tác quản lý thuế đòi hỏi chính sách,
chế độ và các biện pháp quản lý thuế phải đơn giản, minh bạch, công khai, dân chủ để
nâng cao nhận thức của mọi thành viên trong xã hội nhằm tuân thủ tự giác các nghĩa vụ
về thuế. Song môi trường tác động đến công tác quản lý thuế trong thời gian qua vẫn còn
hạn chế thể hiện:
Nội dung các sắc thuế còn phức tạp, cơ chế quản lý thuế chưa được quy định rõ
ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật. Thủ tục hành chính thuế còn rườm rà, gây
khó khăn cho tổ chức, cá nhân nộp thuế. Chưa quy định rõ trách nhiệm của các cấp chính
quyền địa phương, các cơ quan chức năng, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác
thuế.
Nhìn chung, công tác cải cách thủ tục hành chính về thuế vẫn chưa đáp ứng tốt các
yêu cầu phục vụ doanh nghiệp và người nộp thuế nhất là thực hiện mô hình “một cửa”,
vẫn còn mang tính hình thức. Tổ chức cá nhân khi có yêu cầu liên hệ cơ quan thuế còn
phải qua nhiều khâu, nhiều bộ phận mới giải quyết xong công việc.
* Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế:
Chính sách thuế khi ban hành chưa nhận thức hết phạm vi điều chỉnh của từng sắc
thuế và chưa lường hết các nguồn thu sẽ phát sinh trong quá trình phát triển của nền kinh
tế thị trường. Trong quá trình thực hiện chưa sâu sát thực tế, chưa phát hiện và đề xuất
kịp thời các biện pháp để thu các khoản thu nhập mới phát sinh vào Ngân sách Nhà nước
như các khoản thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và một số khoản thu nhập khác
của tổ chức, cá nhân...
Trình độ hiểu biết về thuế ý thức chấp hành các luật, pháp lệnh về thuế của đại bộ
mọi mặt; chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành dọc và cấp uỷ, chính quyền địa phương.
Đội ngũ cán bộ quản lý thuế được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý và phẩm
chất. Áp dụng công nghệ tin học vào quản lý thuế. Do đó hiệu lực, hiệu quả của công tác
thuế ngày càng được nâng cao, góp phần quyết định vào việc hoàn thành và hoàn thành
vượt mức dự toán thu Ngân sách Nhà nước hàng năm do Cục Thuế và UBND thành phố
giao cho.
Công tác quản lý thuế được chuyển từng bước từ chế độ chuyên quản khép kín
sang chế độ người nộp thuế tự tính, tự khai và nộp thuế theo thông báo của Chi cục Thuế.
Cơ chế này đã đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế trước pháp luật; cơ quan
thuế tăng cường được chức năng tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, đôn đốc thu nộp,
kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm về thuế.
Tổ chức quản lý thuế được tổ chức thành 3 bộ phận độc lập: Bộ phận cấp đăng ký
mã số thuế, nhận và kiểm tra tờ khai thuế; Bộ phận tính thuế, thông báo nộp thuế và đôn
đốc thu nộp thuế; Bộ phận thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về thuế; đã hạn chế được
tiêu cực trong công tác quản lý thuế theo kiểu "khép kín" trước đây. Từng bước thực hiện
chuyên môn hoá quản lý thuế theo chức năng, nâng cao trình độ nghiệp vụ của công chức
thuế.
Công tác quản lý thuế đã có những chuyển biến tích cực theo hướng rõ ràng, công
khai, dân chủ và minh bạch hơn. Từng bước củng cố, mở rộng áp dụng chế độ kế toán
hoá đơn chứng từ đối với các thành phần kinh tế, đặc biệt là đối với thành phần kinh tế tư
nhân, từ đó tình trạng thất thu Ngân sách đã giảm nhiều so với trước đây.
Tóm lại, trong bối cảnh kinh tế xã hội trong tỉnh và cả nước có nhiều yếu tố không
thuận lợi nhưng công tác cải cách thủ tục hành chính ở Chi cục Thuế cũng góp phần tích
cực vào việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước. Thu ngân sách ngày càng tăng lên; phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế
theo cơ chế thị trường.
CHƯƠNG 3
MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ
thuế cung cấp," Ở hướng ngược lại, hoạt động kiểm tra, giám sát sự tuân thủ của người
nộp thuế cũng phải đạt tới trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu bằng cách phân tích, đánh
giá rủi ro, phân loại người nộp thuế tại tất cả các khâu đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế
và hoàn thuế.
Quy trình quản lý thuế cũng sẽ được chuẩn hóa phù hợp với thông lệ quốc tế và
điều kiện Việt Nam trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin. Giảm thời gian thực hiện
thủ tục hành chính thuế để phấn đấu đến năm 2015 là một trong năm nước đứng đầu khu
vực Đông Nam Á được xếp hạng có mức độ thuận lợi về thuế.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính về công tác
quản lý thuế ở Chi cục Thuế thành phố Long Xuyên đến năm 2015:
3 . 2 . 1. Biện pháp về quản lý thuế:
Một số giải pháp về công tác cải cách hành chính và hiện đại hoá công tác quản lý
thuế được đặt ra như sau:
Về thể chế:
Tăng cường nghiên cứu, đánh giá, phân tích hiệu quả và tác động của chính sách
thuế đối với các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất chủ yếu của địa phương, từ đó tham mưu
UBND về giải pháp quản lý, điều hành mang lại hiệu quả kinh tế cũng như nguồn thu
ngân sách; đồng thời tham gia với trung ương hoàn thiện chính sách theo nội dung Chiến
lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020.
Bám sát những thay đổi chính sách, chế độ về thuế để thông tin cho người nộp
thuế kịp thời nắm bắt nhằm chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế; đồng thời được hưởng đầy
đủ chính sách ưu đãi về thuế được ban hành.
Tham gia đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện chính
sách thuế và ưu đãi thuế đối với các công trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ.
Tổng kết, đánh giá việc thi hành Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp sau 01
năm thực hiện.
Về thủ tục hành chính thuế:
trên mạng; tiếp tục xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về đối tượng nộp thuế đảm bảo đầy
đủ và độ tin cậy; ban hành quy chế sử dụng mạng nội bộ, tăng cường sử dụng văn bản
điện tử, khai thác hiệu quả các giao dịch điện tử trong xử lý công việc; đẩy mạnh tập
huấn, đào tạo cho lãnh đạo, công chức, viên chức các kiến thức, kỹ năng ứng dụng công
nghệ thông tin và sử dụng các tiện ích trên mạng để chỉ đạo và xử lý công việc qua hệ
thống mạng.
3.2.2. Đẩy nhanh tiến trình cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế:
Tiếp tục vận động và hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng hình thức khai thuế điện tử
để giảm thời gian, công sức khai thuế theo phương pháp thủ công.
Phát triển thêm các dịch vụ mới để phục vụ người nộp thuế qua cổng thông tin
điện tử. Khai thác và vận hành tốt các dự án hiện đại hóa ngành thuế phối hợp các ngành
tài chính - kho bạc - hải quan - ngân hàng để quản lý chặt chẽ các nguồn thu ngân sách
nhà nước.
Tham gia thực hiện ”Đề án ứng dụng chữ ký số trên địa bàn”, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc trao đổi, chia sẻ thông tin điện tử giữa các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh
(theo Chỉ thị số 05/2012/CT-UBND ngày 28/5/2012 của UBND tỉnh về việc đẩy mạnh
công tác cải cách hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh An
Giang).
Tập trung phát triển ứng dụng tin học phù hợp với yêu cầu Luật Quản lý thuế.
Trong đó, chú trọng chỉ đạo thực hiện công khai, minh bạch thông tin về chính sách, thủ
tục hành chính thuế trên mạng; tiếp tục xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về đối tượng nộp
thuế đảm bảo đầy đủ và độ tin cậy; ban hành quy chế sử dụng mạng nội bộ, tăng cường
sử dụng văn bản điện tử, khai thác hiệu quả các giao dịch điện tử trong xử lý công việc;
Duy trì tốt hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008.
Đảm bảo hệ thống vận hành phù hợp tiêu chuẩn được công nhận, đồng thời nghiên cứu
cải tiến để nâng cao chất lượng theo đề án hiện đại hóa của ngành.
Hiện đại hóa công sở: Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng trụ sở cơ quan thuế
theo kế hoạch được duyệt, sớm đưa các công trình vào sử dụng, đáp ứng yêu cầu công tác
pháp luật thuế trên địa bàn, cung cấp kịp thời thông tin phản ảnh các vấn đề về công tác
thuế tại địa phương và tình hình chấp hành của người nộp thuế; nêu bật những điển hình
về tổ chức, cá nhân có thành tích tiêu biểu thực hiện nghĩa vụ thuế, cảnh báo, xử lý và
phê phán đối tượng có hành vi gian lận, vi phạm về thuế.
Triển khai trong nội bộ Chi cục Thuế để nắm vững chính sách hướng dẫn cho
người nộp thuế và triển khai rộng rãi dưới nhiều hình thức và tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho các doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh cá thể và người nộp thuế được hưởng đầy
đủ chính sách của Chính phủ theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013; tiếp tục
phát triển các dịch vụ phục vụ người nộp thuế thông qua cổng thông tin điện tử của Cục
Thuế. Cập nhật kịp thời chính sách, chế độ quy định về thuế đi đôi với tăng cường tìm
hiểu vấn đề mà người nộp thuế quan tâm để cung cấp thông tin hướng dẫn kịp thời.
3 . 2 . 4 . Công tác tổ chức và đào tạo cán bộ:
Tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ cán bộ thuế thực thi công vụ. Nâng cao
hiệu quả hoạt động kiểm tra nội bộ, tăng cường khả năng phát hiện, ngăn chặn kịp thời
các sai phạm trong quản lý thuế. Giải quyết kịp thời các thông tin phản ảnh từ đường dây
nóng của cơ quan thuế các cấp.
Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp theo mô hình quản lý
chức năng. Tổ chức đánh giá từng cán bộ công chức để sắp xếp bố trí công việc cho phù
hợp. Đặc biệt bố trí công việc phải khách quan, công tâm, chú ý sắp xếp những người có
trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức tốt vào những vị trí phải tiếp xúc, giải đáp trực tiếp
cho người nộp thuế tại bộ phận một cửa.
Chú trọng công tác đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực, tập trung bồi dưỡng kiến
thức chuyên sâu theo từng chức năng quản lý cho cán bộ, công chức thuế; Tăng cường
đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành cho cán bộ trẻ, có chuyên môn tốt, có năng lực phát
triển. Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo gắn kết với việc xem xét động viên,
khích lệ và bổ nhiệm nhằm khuyến khích, thu hút cán bộ tăng cường học tập và tự học
tập.
Đẩy mạnh tập huấn, đào tạo cho lãnh đạo, công chức, viên chức các kiến thức, kỹ
loại hình của các thành phần kinh tế để chúng ta hoàn thiện cơ chế thị trường dưới sự
lãnh đạo của Nhà nước.
Cùng đi suốt chặng đường với sự phát triển đổi mới của đất nước, Cục Thuế nói
chung và Chi cục Thuế nói riêng đã đóng góp tích cực vào vai trò điều tiết thu cho ngân
sách nhà nước, trong nhiều năm qua đã thực hiện hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự
toán thu ngân sách hàng năm, đảm bảo nhu cầu chi ngân sách của thành phố. Trong tình
hình hiện nay, khi nền kinh tế quốc dân phát triển với các bước tiến vượt bậc của khoa
học công nghệ, khi các thành phần kinh tế, các hình thức kinh doanh đã, đang phát triển
một cách đa dạng và phức tạp đòi hỏi yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của Chi cục Thuế
thành phố Long Xuyên càng trở nên khó khăn và nặng nề hơn.
Năm 2013 và những năm tiếp theo, với dự báo kinh tế thế giới và trong nước tiếp
tục gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của ngành Thuế. Để phấn
đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước được UBND tỉnh và Cục Thuế tỉnh
giao, Chi cục Thuế triển khai thực hiện kịp thời, minh bạch chủ trương của Nhà nước,
nhất là các giải pháp về thuế để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, tạo thuận lợi tối đa cho
người nộp thuế; tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp, chương trình cải cách hành chính về
thuế; không ngừng cải tiến các quy trình quản lý và đơn giản hóa các thủ tục hành chính
theo Tuyên ngôn của ngành là “Minh bạch - Chuyên nghiệp - Liêm chính - Đổi mới”.
2 . KIẾN NGHỊ:
Chi cục Thuế xác định cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ cấp bách, khâu đột
phá, có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
kinh doanh, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, Chi cục Thuế đã và đang
triển khai xây dựng Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 với những