PHẦN MỞ ĐẦU
Nghề nghiệp và việc làm một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu,
là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia. Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền
kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước đã đạt được những kết quả nhất định
trong phát triển kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong một số năm, giải
quyết tốt vấn đề về lương thực...Tuy nhiên Việt Nam cũng còn phải đối phó với
những thách thức to lớn trong quá trình phát triển. Một trong những thách thức đó là
tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu về việc làm đang tạo lên sức ép to lớn đối với nền kinh
tế.
Trong bối cảnh đó, việc chăm lo công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm,
đặc biệt là giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đã trở thành nhiệm vụ cơ bản
và cấp bách, đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội phải quan tâm.
Trong những năm qua, chúng ta đã có những thay đổi đáng kể trong công tác đào tạo
nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn, thúc đẩy sự chuyển biến nguồn lao động
theo hướng tích cực nhất và cũng đã đạt được những thành quả nhưng cũng còn
những bất cập nhất định.
Chính vì vậy, em chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề,
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở phường Mỹ Thới đến năm 2015”
nhằm đánh giá việc thực hiện công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm ở địa bàn
trong thời gian qua, đồng thời đưa ra ý kiến, giải pháp giải quyết những khó khăn còn
vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm ở
phường Mỹ Thới đến năm 2015. Trong khuôn khổ thời gian và năng lực có hạn, bài
viết của em không tránh khỏi những thiếu xót. Em xin chân thành cám ơn những ý
kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn.
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1 Môt số khái niêm
Việc làm đầy đủ: theo định nghĩa việc làm đầy đủ trong cuốn sử dụng
lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam (trang 23- Nhà xuất bản sự thật), thì việc
làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu việc làm của bất cứ ai có khả năng lao động trong
nền kinh tế quốc dân. Hay nói cách khác việc làm đầy đủ là trạng thái mà mỗi người
có khả năng lao động, muốn làm việc thì đều có thể tìm được việc làm trong thời gian
ngắn.
-
Thiếu việc làm: được hiểu là không tạo được điều kiện cho người lao
động sử dụng hết thời gian lao động của mình.
c.
Thất nghiệp
Theo khái niệm của Tổ chức lao động Quốc tế, thất nghiệp (theo nghĩa chung
nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm
nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định.
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động,
không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm.
Theo quan niệm nêu trên, tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế được đánh giá
bằng chỉ tiêu “Tỷ lệ thất nghiệp”. Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số
người thất nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động.
Như vậy, thất nghiệp là hiện tượng có sự tách rời , không phù hợp giữa sức lao
động với tư liệu sản xuất mà sức lao động lại gắn với từng con người cụ thể vì thế
nên người thất nghiệp là người không có phương tiện để sản xuất và đang muốn tìm
b.
Nhu cầu của việc làm đáp ứng trong thời kỳ mới
Việc làm đang là một vấn đề kinh tế - xã hội gay gắt ở nước ta, đặc biệt là ở
các thành phố. Theo điều tra của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 1998 cả
nước có 9,4 triệu người thiếu việc làm và 856 nghìn người thất nghiệp. Tỉ lệ thiếu
việc làm ở vùng nông thôn là 28,2%. Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 6,8%. Bối cảnh
kinh tế xã hội sinh ra nhiều mâu thuẫn giữa khả năng tạo việc làm còn hạn chế trong
khi đó nhu cầu giải quyết việc làm ngày càng tăng, tất yếu dẫn đến tình hình một bộ
phận lao động chưa có việc làm. Lao động ở nước ta chủ yếu là lao động phổ thông,
lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp, bộ đội xuất ngũ, công nhân giảm biến chế, ...
Trong khi đó nhu cầu hiện nay thì đòi hỏi lao động lành nghề, lao động có trình độ,
chuyên môn kỹ thuật cao.
Nhà nước và nhân dân ta đang tìm mọi biện pháp để giải quyết việc làm và sử
dụng hợp lí sức lao động, vì nguồn nhân lực có ý nghĩa cực kì quan trọng để phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta.
1.3 Cơ chế, chính sách xã hội về đào tạo nghề, giải quyết việc làm hiện nay
-
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định:
Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng
sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hóa các nguồng lực và phương thức
xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục
dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và
khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát
nghèo.( Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XI, trang 229 )
-
Giới thiệu việc làm cho 600 lao động/năm. Giảm tỷ lệ hộ nghèo vào cuối nhiệm kỳ
còn 0,5 - 0,75% (theo chuẩn nghèo mới). Thực hiện hoàn thành 98% chương trình y
tế quốc gia; duy trì nâng chất chuẩn quốc gia về y tế, hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
dưới 1,1% ; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến cuối nhiệm kỳ còn 12%. ( Văn kiện ĐH
Đảng bộ phường Mỹ Thới lần thứ XII, trang 9 )
-
Các chính sách cho người lao động theo Đề án 1956
Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công
với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất
canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề
dưới 3 tháng) với mức tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo
từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày
thực học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa
không quá 200.000 đồng/người/khoá học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15
km trở lên;
Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của
hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề
dưới 3 tháng) với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo
từng nghề và thời gian học nghề thực tế);
Lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ
cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học
(mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế);
Lao động nông thôn học nghề được vay để học theo quy định hiện hành về tín
dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc ổn định ở nông thôn
sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay để học nghề;
Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính
Phường Mỹ Thới đang đứng trước cơ hội tiềm năng rất lớn và đan xen những
thách thức khó khăn không nhỏ, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra của đảng bộ phường lần XII
sẽ “ phát huy sức mạnh đoàn kết, dân chủ, huy động mọi nguồn lực xã hội, xây dựng
phường Mỹ Thới giàu đẹp, văn minh".
b.
Đặc điểm về kinh tế xã - hội
Đa số nhân dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp càng phát
triển đi vào chiều sâu theo hướng thâm canh đa dạng hóa cây trồng vật nuôi; hình
thành các vùng chuyên chanh lúa Nhật, lúa cao sản phục vụ thiết thực nhu cầu tiêu
dùng và chế biến xuất khẩu. Khuyến khích đầu tư mở rộng 61 ha diện tích ao nuôi
hầm cá theo hình thức công nghiệp, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất từ
đó giảm chi phí tăng thu nhập cho nông dân bình quân 70 triệu đồng/ ha/năm. Mở
rộng khu công nghiệp kêu gọi chủ đầu tư xây dựng 6 nhà máy, xí nghiệp trong khu
công nghiệp, thu hút giải quyết việc làm cho 2.500 lao động, dịch vụ đang phát triển
có 315 cơ sở, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp.
2.2 Thực trạng công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hôi ở phường Mỹ Thới và những vấn đề đặt ra
2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân
2.2.1.1.
a.
Kết quả
Về chỉ đạo tổ chức thực hiện
Trên cơ sở Nghị quyết 07-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang,
có nghề nghiệp ổn định, tự tạo việc làm, tăng thu nhập cho gia đình, ổn định cuộc
sống, từ đó sẽ nâng cao ý thức tự vươn lên, có tinh thần tương thân tương ái, sống có
trách nhiệm với cộng đồng và tự lực vượt khó vươn lên thoát nghèo.
Nhằm thực hiện tốt chủ trương đào tạo nghề, giải quyết việc làm trong công
tác xóa đói giảm nghèo của Đảng ủy phường Mỹ Thới, thời gian qua các ban, nghành,
đoàn thể của phường phối hợp cùng 10 khóm tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nội
bộ và ngoài quần chúng nhân dân về chủ trương đào tạo nghề theo đề án 1956 của
chính phủ bằng những hành động thiết thực, cụ thể như: tờ tin Mỹ Thới, câu chuyện
truyền thanh và các buổi họp tổ dân phố. Đồng thời cũng thực hiện tốt công tác điều
tra thống kê, bình nghị công khai và cập nhật hộ nghèo theo qui định.
c.
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động
Trong các năm qua, Phường Mỹ Thới đã triển khai thực hiện tốt các chính sách
thu hút, khuyến khích đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp (may mặc, da giầy, chế biến
thủy sản, chế biến lương thực thực phẩm...), cơ sở kinh tế, hộ gia đình mở rộng sản
xuất kinh doanh (vật liệu xây dựng, kỹ nghệ hàn tiện, sửa chữa máy móc thiết bị phục
vụ sản xuất nông nghiệp.), làng nghề truyền thống (lưỡi câu, bánh tráng) được phục
hồi và phát triển đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động.
Mặt khác, thông qua hình thức giao lưu, hội chợ việc làm nhằm cung cấp
thông tin về thị trường lao động, tạo cầu nối giữa người lao động và người sử dụng
lao động để trao đổi và giải quyết cung, cầu lao động; thông qua hệ thống các Trung
tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố, thông qua sự hướng dẫn của người
thân để giải quyết việc làm tại các khu chế xuất hoặc khu công nghiệp ngoài tỉnh như
Bình Dương, Đồng Nai, Long An, TP Hồ Chí Minh. và giải quyết việc làm tại địa
phương từ nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm.
Từ năm 2006 - 2010, đã giải quyết việc làm cho hơn 2.000 lao động trên địa
Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm luôn được chú trọng giải quyết lồng
ghép với các dự án phát triển kinh tế xã hội nhằm hỗ trợ trực tiếp cho người lao động,
người nghèo có được việc làm kể cả làm việc trong tỉnh và ngoài tỉnh để có thu nhập
và nâng cao mức sống. Đồng thời thông qua các nguồn vốn tín dụng với lãi suất ưu
đãi đã góp phần tích cực giúp cho các hộ nghèo, hộ gia đình chính sách và những
người yếu thế có điều kiện và cơ hội tự tạo được việc làm để có thêm thu nhập và ổn
định cuộc sống.
Mạng lưới các trường, trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm của tỉnh đóng
trên địa bàn thành phố được tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng, quy mô đào tạo nghề có
bước phát triển, ngành nghề đào tạo được gắn kết với giải quyết việc làm và thị
trường lao động. Tính liên kết cộng đồng trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm
ngày càng cao và chặt chẽ, thông qua các mô hình do các đoàn thể tổ chức như tổ
tương trợ tiết kiệm, tổ tự nguyện góp vốn, tích luỹ nguồn quỹ để dành trợ giúp những
hội viên khó khăn, tổ giúp vốn, kỹ thuật, tự hướng dẫn nhau về kinh nghiệm sản xuất.
Thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội
với nhiều hình thức, mô hình giải quyết việc làm phát triển đa dạng ở các địa phương
góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu lao động.
Công tác xuất khẩu lao động đã có nhiều chuyển biến khá, thông qua công tác
tuyên truyền phổ biến các chủ trương chính sách về xuất khẩu lao động đã giúp cho
người dân từng bước có ý thức và tự nguyện đăng ký; số lao động đi làm việc ở nước
ngoài đều có trình độ tay nghề cao, đăng ký làm việc tại các nước có trình độ phát
triển cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đa số đều chịu khó lao động, tiết kiệm
gởi tiền về trả nợ vay và giúp đỡ gia đình cải thiện cuộc sống; có trường hợp lao động
đã hoàn thành hợp đồng, sau khi trở về nước tiếp tục đăng ký đi lần hai.
Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích đào tạo nghề, học nghề, giải quyết việc
làm, xuất khẩu lao động cũng như giảm nghèo được ban hành đồng bộ đã phát huy
được hiệu quả của công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động và
giảm nghèo trên địa bàn thành phố.
kém, không chí thú làm ăn, tiêu xài phung phí... Đăng ký tham gia đi và không bao
lâu thì trở về trước thời hạn rồi tuyên truyền phản tác dụng làm ảnh hưởng công tác
này. Tình trạng nợ quá hạn cũng gia tăng do một số người lao động thiếu trách nhiệm
đối với vốn vay đi xuất khẩu lao động, nhất là những lao động về nước trước thời
hạn, gây khó khăn cho công tác thu hồi tạo nguồn quỹ cho vay đi xuất khẩu lao động.
Chưa quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất
khẩu lao động, còn giao khoán cho cán bộ phụ trách. trong quản lý điều hành còn có
những mặt chưa sâu sát và nắm hết công việc, chưa có kế hoạch và giải pháp thực
hiện phù hợp. Cán bộ phụ trách công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm kiêm
nhiệm công tác khác nên không có thời gian, chưa nhiệt tình và sâu sát với công việc,
nhận thức còn đơn giản nên thời gian qua thiếu sự phối hợp giữa cán bộ chuyên trách
công tác này với các ngành chức năng và đoàn thể để thực hiện tốt vai trò tham mưu,
chủ động xây dựng kế hoạch giúp lãnh đạo địa phương chỉ đạo điều hành công tác có
hiệu quả. Đồng thời, chưa mạnh dạn họp tổ dân phố để công khai hoá, phê phán
nghiêm khắc những hộ rượu chè bê tha, lười lao động, thiếu trách nhiệm với con cái
để sa vào các tệ nạn, tạo gánh nặng cho xã hội
2.2.2.2.
Nguyên nhân
Nhu cầu và tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn vẫn còn nhiểu hạn chế và
chưa hợp lý về cơ cấu. Chất lượng nguồn lao động ở phường Mỹ Thới tương đối thấp
hơn mức bình quân chung của thành phố Long Xuyên.
Thời gian đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải tập trung từ 1 đến 3
tháng, dẫn đến số lượng đăng ký học ban đầu là rất đông nhưng chỉ qua một thời gian
đào tạo đã bỏ học nhiều, không duy trì được số lượng. Mặt khác, thời gian và số
lượng học viên để mở lớp cũng không phù hợp với đối tượng có nhu cầu học nghề.
Còn thiếu sự quan tâm chỉ đạo, thiếu sự phối hợp giữa các ban ngành trong
Từng bước nâng số lao động qua đào tạo nghề được cấp Chứng chỉ nghề hoặc
Bằng nghề (gồm bán lành nghề và lành nghề) tăng dần qua hàng năm theo cơ cấu tỷ
lệ lao động qua đào tạo hợp lý hơn, đặc biệt chú trọng đào tạo nhân lực khoa học
công nghệ, cán bộ quản lý và công nhân lành nghề ở những ngành mũi nhọn như
công nghệ thông tin, viễn thông, cơ khí, gò, hàn, điện cơ, điện tử. hoặc những ngành
nghề có nhu cầu sử dụng lao động lớn như may công nghiệp, chế biến nông sản, thủy
- hải sản, xây dựng, thương mại để cung ứng lao động cho các doanh nghiệp, các khu
công nghiệp trong tỉnh, ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động.
Hàng năm, phường Mỹ Thới dự kiến đào tạo nghề bằng nhiều hình thức cho
trên 200 người, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 50% vào năm 2015 để đáp ứng tốt
nhu cầu thị trường lao động. Đào tạo nghề cho 450 lao động nông thôn được học
nghề trong giai đoạn từ 2011 đến 2015. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai
đoạn này tối thiểu đạt 70%.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu
nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh
tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
b.
Phương hướng
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của
các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Đẩy mạnh xã hội hóa
công tác đào tạo nghề, Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao
động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học
nghề đối với mọi lao động nông thôn, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham
gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Học nghề là quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nông thôn nhằm tạo việc làm,
hợp dạy lý thuyết và thực hành nghề tại cơ sở). Đối với dạy nghề trình độ cao đ ng
nghề, trung cấp nghề: Dạy nghề chính quy tại trường dạy nghề (kết hợp dạy lý thuyết
tại cơ sở dạy nghề, thực hành nghề tại các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh
doanh và dịch vụ).
Huy động tất cả các cơ sở đào tạo nghề thuộc các cơ quan ban, ngành, đoàn
thể địa phương, các trường và trung tâm đào tạo nghề của các tổ chức chính trị - xã
hội, các doanh nghiệp và các cơ cở sản xuất kinh doanh - dịch vụ có đăng ký hoạt
động dạy nghề.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề, giải
quyết việc làm đến năm 2015
3.2.1.
Nâng cao nhận thức của các cấp, các ban ngành, đoàn thể xã hội, của
cán bộ, công chức phường, xã và lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối
với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông
thôn:
Hàng năm, ủy ban nhân dân phường chủ động xây dựng kế hoạch, chương
trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy về công tác đào
tạo nghề cho lao động nông thôn, tổ chức triển khai và tuyên truyền, giáo dục sâu
rộng nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức
và người dân về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Phát huy vai trò của các ngành, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và tổ
chức xã hội các cấp, các hội nghề nghiệp thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức
và phương pháp tuyên truyền. Chủ động lồng ghép với các phong trào vận động trên
địa bàn để phát huy hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động với các nội dung về
các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn. Tư vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận động các thành viên của tổ chức
thống phù hợp với điều kiện dất đai, điều kiện tự nhiên từng vùng.
Phục hồi, bổ sung những cây trồng đòi hỏi nhiều lao động thủ công là cơ sở
nguyên liệu cho việc phục hồi và phát triển ngành nghề truyền thống. Ngoài ra chúng
ta cần thực hiện thâm canh, chuyên môn hoá những cây trồng mũi nhọn. Bởi vì trong
hoàn cảnh dư thừa lao động, ngành nghề tạm thời chưa phát triển, chuyển đổi cơ cấu
cây trồng còn hạn chế...biện pháp này ít nhiều đóng góp cho việc nâng cao tỷ suất sử
dụng lao động ở nông thôn.
-
Phát triển ngành nghề mới cùng với hoàn thiện cơ sở hạ tầng:
Trong “những quan điểm chỉ đạo phát triển ngành nghề ở nông thôn" của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có nêu: Phát triển ngành nghề nông thôn phải
gắn chặt với sản xuất nông nghiệp. Đây là hai ngành kinh tế mà trong quá trình sản
xuất có mối quan hệ chặt chẽ về nguyên liệu, lao động, thị trường và môi trường.
Phát triển ngành nghề nông thôn phải chú ý phát triển các ngành nghề mới. Kết hợp
hài hòa nhiều quy mô, nhiều loại hình tổ chức và sở hữu, lựa chọn công nghệ, kết hợp
công nghệ hiện đại với công nghệ truyền thống, thiết bị tiên tiến thủ công, cơ khí nhỏ
trong nhiều loại hình doanh nghiệp. Khôi phục, tái tạo và phát triển ngành nghề
truyền thống nhằm tạo thêm nhiều nguồn việc cho khu vực nông thôn. Các ngành
nghề trong nông thôn bao gồm công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ, hải sản, ngành
cơ khí , xây dựng và vật liệu xây dựng, các dịch vụ khoa học kỹ thuật, cung ứng vật
tư thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất,các nghề thủ công truyền thống...
Ngoài ra, chúng ta phải quan tâm đặc biệt đến đào tạo và hoàn thiện kỹ năng
nghề nghiệp cho người lao động thành thị ở trình độ cao, thông qua việc phát triển
các trung tâm huấn luyện cao cấp ở một số địa bàn trọng điểm.
Phát triển ngành nghề, lĩnh vực có khả năng thu hút nhiều lao động phù hợp
với đặc điểm lao động thành thị. Trong đó, phát triển khu vực phi kết cấu, các doanh
người lao động
3.2.5.
Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động.
Thời kỳ đổi mới những kết quả quan trọng trên mặt trận kinh tế đã tạo tiền đề
vững chắc cho những đổi mới tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính
sách BHXH cho người lao động nói riêng. Nhằm đảm bảo chỗ dựa vững chắc về tinh
thần và vật chất cho người lao động trước những rủi ro: ốm đau, bệnh nghề nghiệp,
tai nạn lao động, nghỉ hưu...BHXH đã nhanh chóng trở thành lĩnh vực hàng đầu trong
hệ thống an sinh xã hội nước ta. Hiến pháp năm 1992 xác định: “ Nhà nước thực hiện
chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến
khích phát triển hình thức BHXH đối với người lao động."
Trong thời gian tới, chúng ta cần thực hiện chính sách BHXH đặc biệt là chính
sách bảo hiểm thất nghiệp. Đây là một trong những biện pháp được nhiều nước quan
tâm vì nó không chỉ đảm bảo chính sách cho cá nhân người bị thất mà còn góp phần
ổn định xã hội. Bảo hiểm thất nghiệp được hình thành nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập
cho người lao động trong thời kỳ họ bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm việc
làm mới trong thị trường lao động. Bảo hiểm thất nghiệp vừa là công cụ góp phần
giải quyết thất nghiệp vừa là một chính sách xã hội rất quan trọng.
Chính sách BHXH góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước, thực hiện
công bằng xã hội, an toàn và tiến bộ.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I.
Kiến nghị
Để thực hiện tốt công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm trên địa bàn
-
Quan tâm vấn đề trẻ chưa đủ tuổi lao động, lao động làm việc chưa qua
đào tạo tại các doanh nghiệp để có chính sách cho các đối tượng này có điều kiện
tham gia học nghề.
II.
Kết luận
Đào tạo nghề, giải quyết việc làm nâng cao chất lượng lao động là một biện
pháp quan trọng của phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội ở Việt Nam. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước kế
hoạch giải quyết việc làm được đặc trưng bởi sự lồng ghép của các kế hoạch lao động
việc làm với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để có được một xã hội
đảm bảo công bằng văn minh thì mọi người phải có công ăn việc làm, dân giàu thì
nước mới mạnh.
Sau nhiều năm thực hiện công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm trong
chương trình xóa đói, giảm nghèo chúng ta đã thu những kết quả quan trọng. Chương
trình ngày càng nhận được sự quan tâm to lớn của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự
đồng tình hưởng ứng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Giải quyết việc làm, đào
tạo nghề không còn là vấn đề của các cấp ủy Đảng và chính quyền mà đã trở thành
mối quan tâm, hiệp lực của toàn xã hội.
Đề tài này đã giúp em hiểu thêm về thực trạng giải quyết việc làm, đào tạo
nghề ở địa phương và việc thực hiện tốt công tác này góp phần thực hiện thắng lợi
các nhiệm vụ của địa phương, ngoài ra còn góp phần phục vụ nhu cầu công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước. Trong phạm vi đề tài này em đã có sự tìm hiểu và nghiên
cứu tuy nhiên bài viết còn nhiều hạn chế về lý luận, thực tiễn và phương pháp trình
bày. Mong thầy cô cho em những đánh giá để em có thể hoàn thiện tốt hơn trong