MỤC LỤC
Trang
Nhóm 6 – KH15TCC
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những quốc gia đa dân tộc. Trải qua mấy nghìn năm
dựng nước và giữ nước, các dân tộc luôn kề vai sát cánh, gắn bó máu thịt bên
nhau trong đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên tai địch họa, xây dựng đất
nước. Các dân tộc nước ta là một cộng đồng thống nhất, cư trú xen kẽ, phân tán
trên mọi vùng miền với cơ cấu dân số và trình độ phát triển kinh tế - xã hội
không đồng đều, bản sắc văn hóa đa dạng, phong phú. Vì vậy, vấn đề dân tộc và
đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta,
là nguồn sức mạnh và dộng lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn đối với vùng
đồng bào dân tộc thiểu số để phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng – an ninh,
chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ
dân trí, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,... theo nguyên tắc cơ bản là: “Bình đẳng
đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển”. Những nguyên tắc cơ bản này
được Đảng và Nhà nước thể hiện một các nhất quán trong các văn kiện của
Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và được cụ thể hóa bằng những chính sách phù
hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng của nước ta. Trong
giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng, Nhà nước đã ban hành
hàng loạt những chính sách cụ thể, nhằm đảm bảo cho nhân dân các dân tộc thực
sự bình đẳng về mọi mặt. Và chính sách về phát triển du lịch ở vùng thiểu số là
một chính sách không thể thiếu.
Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng em nghiên cứu về vấn đề triển khai thực
hiện chính phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số
và quản lý hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du
lịch được giữ cho cộng đồng” (Theo Quỹ bảo tồn thiên nhiên Thế giới WNF)
Du lịch cộng đồng gắn với nhiều hoạt động như tham quan các làng nghề cổ,
khám phá núi rừng thiên nhiên, tìm hiểu văn hóa các dân tộc..., trong đó, tiêu
biểu nhất là loại hình homestay - hình thức khách du lịch đến ở nhà người dân
địa phương để cùng ăn, nghỉ, tham gia các công việc hàng ngày cũng như các
hoạt động văn hóa, văn nghệ.
2. Đối tượng nghiên cứu
Du lịch vùng dân tộc thiểu số
-
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát
Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp thống kê
PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở khoa học
1.1. Sự cần thiết của chính sách phát triển du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, ngày càng có vị trí quan trọng đối
với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường. Du lịch
góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế; mang lại nguồn thu ngân sách quốc
gia và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Ngành du lịch tác động tích cực
đối với việc phát triển các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là ngành thủ công
mỹ nghệ với các làng nghề như gốm sứ, mây tre đan,...
3
Nhóm 6 – KH15TCC
thực vật, 229 loài động vật có xương ở Bắc Kạn; hồ Núi Cốc ở Thái Nguyên; có
hồ Thác Bà ở Yên Bái; đỉnh Phan Xi-păng cao 3.400m; có vùng Sa Pa Lào Cai
nơi du lịch nổi tiếng ở độ cao mây mù tuyết phủ; có nhà máy thuỷ điện Hoà
Bình, có động cô tiên Sơn La; có mùa xoè hoa, uống rượu cần, có bản Apa Chải,
xã Xín Thầu, huyện Mường Nhé Lai Châu giáp 3 quốc gia Việt Nam, Trung Hoa
và Lào.v.v..
4
Nhóm 6 – KH15TCC
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
Đi vào Miền Trung, Tây Nguyên có dãy Trường Sơn hùng vĩ, có con
đường Hồ Chí Minh thênh thang mới có sau 30 năm chiến tranh ghi dấu ấn lịch
sử dân tộc Việt Nam anh hùng chống Mỹ. Ở Quảng Nam có khu tháp cổ Mỹ
Sơn; động Phong Nha Quảng Bình là di sản văn hoá thế giới; ngược lên Tây
Nguyên ta có Biển Hồ Gia Lai; ngã ba Đông Dương, cửa khẩu B'y Kon Tum; 3
nước Việt Nam, Lào, Campuchia, có hồ Lắc, Đắc Lắk; thành phố cao nguyên Đà
Lạt với núi Lang Biang nổi tiếng cao 2300m so với mặt biển; có khu tháp Chàm
cổ kính của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận.v.v..
Đến vùng dân tộc Khmer Nam Bộ với hệ thống kênh rạch như mạng
nhện, ở Kiên Giang có núi Đá dựng, có nhiều hang động lung linh, màu sắc, có
xứ thơ Hà Tiên cao 100m giữa cánh đồng, có núi Bà Đen Tây Ninh, có vùng núi
giữa đồng bằng như vùng Tri tôn Bảy núi, có 450 chùa Khmer cổ kính, đó là
những điểm đến của khách du lịch danh thắng các vùng dân tộc Việt Nam.
Không chỉ vậy, các vùng miền ở trên gắn liền với các chiến công của dân
và quân tư cách mạng tháng 8-1945 đến nay sẽ là một nội dung lý thú để tuyên
truyền cho các tour du lịch, để đáp ứng trí tò mò, tìm hiểu, khám phá của du
thấp, khi ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế
khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực
khác trong nền kinh tế. Khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du
khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên
đáng kể. Các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong
phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn. Do đó nó đòi hỏi các doanh nghiệp
phải không ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá. Để làm được
điều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, tuyển
chọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao đáp ứng được nhu cầu của du khách.
Dẫn đến việc thu nhập cá nhân đưuọc nâng cao và góp phần làm tăng trưởng
kinh tế của đất nước nói chung, của vùng nói riêng.
Trong thời kỳ hội nhập, phát triển du lịch còn là cơ hội để các vùng dân tộc
thiểu số giao lưu, hội tụ các nền văn minh vật thể và phi vật thể vào sự đa dạng
chung của ngành du lịch đất nước. Từ đó, tạo niềm tin, sự hiểu biết, tình đoàn
kết giữa các dân tộc.
Đặc biệt, các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch tại các vùng dân tộc
thiểu số đang gia tăng đáng kể. Dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng. Công ty lữ
hành địa phương và quốc tế cung cấp các tour du lịch tham quan các bản làng
dân tộc thiểu số, đi bộ và tour du lịch xe đạp, đi thuyền kayak và du lịch ra nước
ngoài cho du khách Việt Nam, đặc biệt là gắn kết với các quốc gia láng giềng
Campuchia, Lào và Thái Lan.
1.3.
Mục tiêu
Vùng DTTS có nhiều lợi thế vị trí tiềm năng để phát triển du lịch. Chính
vì vậy, trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước, cũng như định hướng
phát triển kinh tế xã hội của đất nước đều có chủ trương đưa ngành du lịch của
vùng xứng đáng với vị trí là một trong những trọng tâm du lịch của cả nước và
trở thành ngành kinh tế quan trọng của vùng, xứng đáng với tiềm năng của địa
Điều 15 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc đã quy đinh rõ rằng:
“Tập trung hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi
trường, sinh thái; hỗ trợ quản bá, đa dạng hóa các loại hình, các sản phẩm du
lịch, khai thác hợp lý các tiềm năng, danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch”.
Điều 12 Thông tư số 12/2014/TT-BVHTTDL quy định chi tiết thi hành chính
sách du lịch vùng dân tộc thiểu số. Cụ thể:
1. Ưu tiên hỗ trợ hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch các vùng
dân tộc thiểu số; nghiên cứu, khảo sát tiềm năng du lịch, lựa chọn xây dựng các
sản phẩm du lịch đặc trưng cho các vùng dân tộc thiểu số; phát triển mô hình du
lịch miền núi có sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Cụ thể như sau:
a) Hỗ trợ công tác nghiên cứu, khảo sát tiềm năng du lịch, xây dựng quy
hoạch du lịch của các vùng dân tộc thiểu số;
b) Hỗ trợ việc lựa chọn và xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng của
các vùng dân tộc thiểu số có tiềm năng du lịch phát triển, phù hợp với quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch của vùng, khu vực, địa phương;
c) Ưu tiên xây dựng, phát triển loại hình du lịch dựa trên địa hình miền
núi, có sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số; hỗ trợ việc bảo vệ, gìn
giữ môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn tại nơi có các hoạt động du lịch;
d) Hỗ trợ công tác quảng bá, xúc tiến các điểm đến, các sản phẩm du lịch
của vùng dân tộc thiểu số; tạo điều kiện để đơn vị quản lý các điểm du lịch tham
gia các sự kiện, chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch của vùng và quốc gia.
2. Hỗ trợ phát triển du lịch theo mô hình bền vững, có trách nhiệm, bảo đảm
cộng đồng vùng dân tộc thiểu số có quyền tham gia và hưởng lợi từ hoạt động
du lịch:
a) Ưu tiên các hoạt động khảo sát, đánh giá tiềm năng du lịch ở các vùng
dân tộc thiếu số; tổ chức khai thác hợp lý tài nguyên, cảnh quan du lịch theo
nguyên tắc khai thác gắn chặt với bảo tồn, thu hút người dân địa phương tham
gia và được hưởng lợi từ hoạt động du lịch;
b) Ưu tiên hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại các bản, làng của đồng
bào dân tộc thiểu số theo mô hình lưu trú tại nhà dân (homestay); khai thác, phát
tạo đồng bộ về cơ cấu ngành nghề du lịch với các trình độ từ sơ cấp nghề đến
đại học và sau đại học;
e) Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá
nhân nước ngoài tham gia phát triển nhân lực du lịch là người dân tộc thiểu số;
f) Dành ngân sách nhà nước theo phân cấp quản lý và áp dụng cơ chế tài
chính đặc thù để thực hiện nhiệm vụ, chương trình, dự án về đào tạo, bồi dưỡng
phát triển nhân lực du lịch là dân tộc thiểu số, đặc biệt tại những vùng có tiềm
năng phát triển du lịch;
g) Khuyến khích các cơ sở đào tạo du lịch, doanh nghiệp du lịch đầu tư đào
tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch là người dân tộc thiểu số; tạo điều kiện thuận lợi
để doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, sử dụng nhân lực du lịch là dân tộc thiểu
số.
3. Cơ sở thực tiễn
9
Nhóm 6 – KH15TCC
3.1.
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
Thực trạng triển khai chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
3.1.1. Kết quả đạt được
Qua nhiều năm thực hiện chính sách văn hoá đối với vùng đồng bào dân
tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu nhất định: Nhận thức của cán bộ, đảng
viên và các tầng lớp nhân dân về văn hóa nói chung, văn hóa dân tộc thiểu số
nói riêng được nâng lên một bước; Đời sống văn hoá cơ sở đã có bước phát
triển, ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, đời sống văn hoá tuy còn thấp so
với đô thị và đồng bằng, nhưng đã có những cải thiện rõ rệt; Công tác giữ gìn,
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
nhanh chóng. Thậm chí có dân tộc (như người Ơ Đu) ít tìm được các nét văn hóa
đặc trưng. Nhiều chính sách được thực hiện thông qua những dự án, đề án, và
chương trình mục tiêu quốc gia còn chưa thể hiện rõ vai trò và tầm quan trọng
của văn hóa/chính sách văn hóa đối với các chính sách cũng như biện pháp phát
triển kinh tế- xã hội ở vùng các dân tộc thiểu số và đối với các dân tộc thiểu số;
Sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá còn lớn: Ở nhiều vùng nông thôn, nhất là
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng,
kháng chiến trước đây, vùng biên giới, hải đảo, hoạt động văn hoá còn nghèo
nàn, sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá so với thành thị còn lớn; Đầu tư của
Nhà nước cho bảo tồn văn hoá còn thấp và manh mún, đặc biệt đầu tư bảo tồn
và phát triển văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hoạt động du lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi dường như mới chỉ
là bước đầu. Sự phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng thiên nhiên và
nhân văn của vùng dân tộc thiểu số. Tỷ lệ khách du lịch đến vùng dân tộc thiểu
số, miền núi còn thấp so với các vùng khác trong cả nước. Bên cạnh đó do nhiều
nguyên nhân, hoạt động du lịch cũng có những tác động mặt trái đối với môi
trường tự nhiên và xã hội vùng dân tộc thiểu số. Môi trường sinh thái bị xuống
cấp do các hoạt động du lịch, bản sắc văn hoá bị mai một, lai căng.
Việc huy động các nguồn vốn khác đầu tư cho văn hoá rất hạn chế do
chính sách khuyến khích chưa cụ thể và thiết thực; Vai trò của chủ thể, của
người dân, của cộng đồng chưa được phát huy và đặt đúng vị trí trong việc lập
kế hoạch, xây dựng dự án cũng như triển khai, tổ chức quản lý, giám sát các dự
án từ cơ sở đối với các dự án nói chung và các chương trình, dự án về văn hoá,
ảnh hưởng tới chất lượng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân
tộc thiểu số Việt Nam; Đội ngũ cán bộ quản lý và làm công tác văn hoá vùng
đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu, yếu, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ, có năng lực
là người dân tộc thiểu số. Người có uy tín và các nghệ nhân người dân tộc thiểu
có đoàn khách đến chỉ đơn thuần là ngủ đêm, có đoàn khách thì sử dụng dịch vụ
ăn tối tại nhà dân, xem biểu diễn văn nghệ (rất ít). Hầu hết các đoàn tự phát và
chưa có các công ty du lịch dẫn khách đến theo lịch trình. Với thời gian lưu lại
ngắn nên khách du lịch ít sử dụng các dịch vụ khác tại cộng đồng nên chi tiêu
của khách du lịch tại cộng đồng còn rất khiêm tốn.
Hệ thống các thiết chế và cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá nhìn
chung vẫn ở tình trạng xuống cấp, chắp vá, thiếu đồng bộ và hiệu quả sử dụng
còn thấp. Việc đưa văn hoá, văn nghệ đến phục vụ đồng bào các dân tộc tuy đã
có cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều địa phương vùng cao, vùng
sâu, vùng xa còn thiếu các sản phẩm văn hoá, nhất là các sản phẩm văn hoá có
nội dung và hình thức phù hợp với trình độ và thị hiếu của đồng bào.
Những bất cập trên xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản và then chốt:
Nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của việc bảo tồn, phát triển
văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhiều lúc, nhiều nơi còn chưa đúng,
chưa thật đầy đủ, chưa thống nhất cao; Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
truyền thống các dân tộc thiểu số đã được thể chế hoá, nhưng từ văn bản đến
hiện thực vẫn còn nhiều khoảng cách mà nguyên nhân là thiếu sự tương thích
giữa bảo vệ, giữ gìn với phát huy phát triển. Điều này có nguyên nhân sâu xa từ
12
Nhóm 6 – KH15TCC
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
chỗ chưa có sự đồng thuận của những chủ thể văn hóa; Đội ngũ cán bộ làm công
tác văn hóa ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số còn rất thiếu, trình độ không đồng
đều, nhiều nơi còn rất yếu, không đáp ứng được yêu cầu công tác trong tình hình
mới; Nghiên cứu lý luận còn thiếu khả năng dự báo và định hướng; chưa làm rõ
nhiều vấn đề có liên quan đến văn hoá, đặc biệt là văn hoá các dân tộc thiểu số
phương. Đến nay, Hà Giang đã xây dựng được 25 làng văn hóa du lịch cộng
13
Nhóm 6 – KH15TCC
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
đồng tại hầu hết các huyện trong tỉnh, tiêu biểu là các làng Tiến Thắng, Hạ
Thành (Tp. Hà Giang); Nậm Hồng và Phìn Hồ (huyện Hoàng Su Phì)… Làng
văn hóa du lịch Hạ Thành có 117 hộ dân với 558 nhân khẩu, chủ yếu là đồng
bào dân tộc Tày, trong đó có 5 hộ tham gia hoạt động du lịch cộng đồng. Bản đã
thành lập đội ngũ hướng dẫn viên gồm 3 người (1 nam, 2 nữ) có trình độ học
vấn trên 12 để dẫn khách tham quan bản. Đến đây, du khách còn có dịp tham gia
chương trình du lịch “30 phút làm công dân thôn Hạ Thành” với nhiều hoạt
động thú vị như: nghỉ đêm tại nhà dân, câu cá, làm nương, thưởng thức các món
ăn dân dã hay tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian như: múa sen,
hát cọi, hát then, hát giao duyên… Bà con thôn bản đã bắt đầu có ý thức về du
lịch cộng đồng và mong muốn chính quyền địa phương tạo điều kiện hỗ trợ về
cơ sở vật chất và đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực phục vụ du lịch để
phát triển hơn nữa loại hình du lịch này trong thời gian tới.
Ở Lào Cai, du lịch cộng đồng phát triển khá mạnh. Nằm ở vùng núi Tây
Bắc của Tổ quốc, mang trong mình nhiều giá trị đặc sắc về cảnh quan thiên
nhiên hùng vĩ cũng như bản sắc văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc,
Lào Cai là một trong những địa phương tiên phong trong việc phát triển loại
hình du lịch cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống cho người dân bản địa.
Thực tế cho thấy, du khách, đặc biệt là khách nước ngoài đến Lào Cai thường
thích đi thăm những bản làng dân tộc để cùng sống và sinh hoạt với dân bản,
thưởng thức các tiết mục văn nghệ dân gian và mua những sản phẩm thổ cẩm,
mỹ nghệ, mây tre đan làm quà lưu niệm. Năm 2013, các điểm du lịch cộng đồng
khách du lịch trong nước và quốc tế. Năm 2014, bản Mển đã đón 1.200 đoàn
khách tới thăm. Vào dịp kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, bản Mển
mỗi ngày đón 5 đoàn khách đến thăm. Bản Phiêng có cảnh quan đẹp, có 30 hộ
gia đình tham gia dịch vụ du lịch, những tháng đông khách mỗi hộ cũng thu
được từ 3-5 triệu đồng..
Với những đặc trưng riêng về cảnh quan thiên nhiên cũng như bản sắc văn
hóa các dân tộc, mỗi địa phương đã lựa chọn những hướng đi khác nhau nhằm
phát triển hoạt động du lịch cộng đồng, đem lại lợi ích kinh tế cho người dân
bản địa. Để loại hình du lịch này ngày càng hấp dẫn, thu hút nhiều du khách hơn
nữa, các tỉnh cần có sự liên kết chặt chẽ, góp phần tạo ra các sản phẩm du lịch
phong phú, đa dạng, mang đậm dấu ấn riêng của mỗi địa phương.
Bên cạnh kết quả đã đạt được, các điểm du lịch cộng đồng vùng Tây Bắc
còn một số hạn chế. Nhiều tỉnh phát triển du lịch cộng đồng một cách ồ ạt,
không có quy hoạch, dẫn đến sự cạnh tranh khá khốc liệt. Một số điểm du lịch
trước kia đón hàng nghìn khách quốc tế mỗi năm thì nay vắng khách. Nhiều hộ
gia đình đầu tư hàng chục triệu đồng làm phòng nghỉ, nhà vệ sinh phục vụ du
lịch... thì nay không có khách.
Tình trạng phát triển du lịch cộng đồng không hiệu quả do nhiều nguyên
nhân. Thứ nhất là, chính quyền địa phương và người dân nhận thức du lịch cộng
đồng dễ làm, đầu tư ít nên phát triển khá ồ ạt. Hệ quả là 3/4 số làng đó không
đón được du khách. Thứ hai là, chính quyền địa phương chưa giải quyết được
vấn đề giữa phát triển du lịch với phát triển các ngành nghề khác. Vấn đề đô thị
hóa các bản vùng ven thành phố cũng là nguyên nhân làm nghèo tài nguyên du
15
Nhóm 6 – KH15TCC
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
cập nhật các quan điểm, nhận thức và chuyên môn kỹ thuật.
- Sự gia tăng xả rác và nước thải khiến tình trạng ô nhiễm không khí,
tiếng ồn và nguồn nước ngày càng trở nên trầm trọng, làm phá hủy môi trường
tự nhiên.
3.3.3. Giải pháp
Cộng đồng người dân dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu bằng nghề nông
– lâm nghiệp, đời sống còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nền
kinh tế thị trường, của quá trình đô thị hóa nên đồng bào với rất nhiều nét văn
hóa truyền thống đã bị biến đổi, mai một dần, nhiều phong tục gần như mất hẳn.
16
Nhóm 6 – KH15TCC
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
Việc phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc là việc làm không mới
nhưng cần thiết để tạo ra sinh kế cho người dân địa phương vừa góp phần bảo vệ
môi trường tự nhiên, vừa góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống bản địa.
Nhằm kích cầu hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như tính
chuyên nghiệp của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, từ đó tạo môi trường
du lịch lành mạnh, góp phần tạo dựng thương hiệu du lịch, Sở Văn hóa - Thể
thao và Du lịch đã xây dựng kế hoạch thực hiện chuỗi 5 nhóm giải pháp. Đó là:
Cơ chế chính sách và quản lý du lịch; thị trường và quảng bá du lịch; sản phẩm
du lịch; đầu tư du lịch và giải pháp về chất lượng, giá cả dịch vụ. Mỗi nhóm giải
pháp được cụ thể hóa trên cơ sở khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương.
- Hoàn thiện cơ chế chính sách và quy định của pháp luật.
+ Tạo cơ chế, chính sách thuận lợi cho đầu tư du lịch; khuyến khích đầu
tư vào các vùng đất còn hoang sơ, đặc biệt là vùng sâu vùng xa;
+ Hỗ trợ kinh phí ngân sách phát triển hạ tầng các khu, điểm du lịch, ưu
tiên vùng có hoàn cảnh đặc biệt, vùng sâu, vùng xa, biên giới và vùng các
DTTS;
+ Tiếp tục chính sách khuyến khích xã hội hoá và tạo điều kiện để các cá
nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu tư phát triển du lịch;
+ Lồng ghép các chương trình mực tiêu quốc gia, các dự án của các Bộ,
ngành trên địa bàn gắn với phát triển du lịch;
+ Phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng
cao trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ ngành du lịch ở cơ sở, đặc biệt chú
trọng đồng bào các dân tộc thiểu số.
+ Cần đào tạo nguồn nhân lực có đủ các kỹ năng cơ bản (giao tiếp, ứng
xử,…); nghiệp vụ chuyên ngành (nghiệp vụ buồng, nghiệp vụ nhà hàng, nghiệp
vụ hướng dẫn, nghiệp vụ đón tiếp khách, nghiệp vụ chế biến món ăn,…); ngoại
ngữ trong đó ưu tiên tiếng Anh. Ngoài ra, còn phải giáo dục người dân ý thức
bảo vệ môi trường và đặc biệt là văn hóa bản địa.
- Chú trong xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn và có sức cạnh
tranh trong khu vực và quốc tế, tiến tới xây dựng thương hiệu du lịch từng vùng.
+ Đẩy mạnh xây dựng sản phẩm du lịch độc đáo, đặc sắc có chất lượng
gắn với tài nguyên tự nhiên, với văn hoá cộng đồng các dân tộc thiểu số và với
hệ thống cửa khẩu biên giới.
+ Phát triển du lịch cộng đồng gắn với xoá đói giảm nghèo.
-Tăng cường phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch.
+ Đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông dọc tuyến biên giới, hệ thống giao
thông nông thôn, đặc biệt là hệ thống giao thông đến các khu, điểm du lịch;
+ Nâng cấp hệ thống cửa khẩu đáp ứng nhu cầu khách du lịch;
+ Xây dựng hệ thống các công trình dịch vụ, cứu nạn, cứu hộ đảm bảo
điểm đến an toàn, thân thiện.
-Tăng cường hợp tác quốc tế phát triển du lịch tại các địa phương.
+ Hợp tác trong khuôn khổ quốc gia.
+ Xây dựng chương trình hợp tác theo khuôn khổ địa phương có chung
Chính sách phát triển du lịch vùng DTTS
PHẦN 3: PHẦN KẾT LUẬN
Triển khai thực hiện chính sách dân tộc là một trong những nhiệm vụ tất
yếu, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số nói
riêng và của cả đất nước nói chung. Chính sách phát triển du lịch vùng thiểu số
là một trong những chính sách cần thiết mà Đảng và Nhà nước đề ra. Phát triển
du lịch dân tộc, đồng nghĩa với việc quảng bá đất nước, văn hoá, hình ảnh tốt
đẹp của con người Việt Nam tới bạn bè trên khắp thế giới, nâng tầm vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, song song với phát triển du lịch là việc
bảo tồn những bản sắc văn hoá tốt của các dân tộc, các danh lam thắng cảnh, các
di tích lịch sử văn hoá. Đây không chỉ là việc của riêng Đảng, Nhà nước, các cấp
chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, mà đó còn là việc mà mỗi người
chúng ta nên làm. Chúng ta cần bắt đầu từ việc nhỏ nhất là không vứt rác bừa
bãi tại các khu du lịch, di tích,... Chỉ cần hành động nhỏ như vậy thôi, vừa giữ
gìn được không gian sạch sẽ ở các khu du lịch, di tích, vừa làm nên hình ảnh đẹp
của con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
Hi vọng rằng, trong tương lai không xa, du lịch vùng thiểu số sẽ ngày càng
phát triển, là một phần quan trọng trong việc phát triển đất nước.
HẾT
20