Tổ chức dạy học theo dự án một số kiến thức thuộc phần “từ trường và cảm ứng điện từ” – học phần điện và từ đại cương cho sinh viên ngành kỹ thuật trường đại học giao thông - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________

Nguyễn Thanh Nga

TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC
THUỘC PHẦN “TỪ TRƯỜNG VÀ CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”
– HỌC PHẦN ĐIỆN VÀ TỪ ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN
NGÀNH KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________

Nguyễn Thanh Nga

TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC
THUỘC PHẦN “TỪ TRƯỜNG VÀ CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”
– HỌC PHẦN ĐIỆN VÀ TỪ ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN
NGÀNH KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số

: 60 14 10

triển mạnh mẽ về mọi mặt của đời sống xã hội. Để đáp ứng yêu cầu phát triển ngày
càng cao của xã hội, đòi hỏi con người không ngừng học hỏi, nâng cao tri thức và
kỹ năng của mình. Sứ mệnh đó đã đặt lên vai ngành giáo dục một trọng trách lớn
lao: đào tạo con người đáp ứng yêu cầu xã hội ngày càng phát triển.
Giáo dục hiện đại đang đứng trước yêu cầu và thách thức lớn lao của xã hội
hiện đại. Trong trường đại học, việc học tập của sinh viên không thể là thụ động
tiếp thu bài giảng của giảng viên mà phải là sự tham gia tích cực vào các hoạt động
học tập, độc lập sáng tạo, tích cực tham gia các hoạt động tập thể để có thể tham gia
vào các hoạt động sản xuất và xã hội sau này. Việc dạy của giảng viên không chỉ là
cung cấp kiến thức, mà phải tạo cho sinh viên có cơ hội tham gia khám phá thế giới
thực, phân tích và giải quyết vấn đề. Kết quả cần rèn luyện cho sinh viên là tính
năng động cá nhân, tư duy sáng tạo, năng lực thực hành giỏi, khả năng hợp tác, khả
năng giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra.
Thời gian qua, giáo dục nước ta đã và đang thực hiện những thay đổi trong
toàn bộ quá trình dạy học: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức
thực hiện, đánh giá. Việc đổi mới phương pháp nhằm phát triển con người toàn diện
hơn, đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoà nhập vào
sự tiến bộ chung của khu vực và trên thế giới. Điều đó đã được khẳng định trong
luật giáo dục, điều 28.2 Luật giáo dục ghi rõ: “…Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[9]; đối với giáo dục đại


học, điều 40.2 ghi rõ: “...Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học
phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự
nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện
cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”[9].
Một lần nữa, nghị quyết TW2 khoá VIII khẳng định: “...Đổi mới mạnh mẽ

viên hầu như chỉ tập trung giảng giải, trình bày, thông báo các kiến thức để sinh
viên vận dụng giải các bài tập thuần tuý lý thuyết mà ít liên hệ đến các ứng dụng
thực tế, có chăng chỉ là giới thiệu mang tính đại khái, chung chung để cho sinh viên
biết…Hầu như không có giảng viên nào giao cho sinh viên các nhiệm vụ học tập
phức hợp, vận dụng nội dung kiến thức bài học và kiến thức liên môn để giải quyết
vấn đề trong thực tế, qua đó sinh viên phải tự nghiên cứu, lập kế hoạch, thực hiện kế
hoạch, cộng tác với bạn bè và thầy cô để có thể giải quyết được vấn đề đặt ra, từ đó
sinh viên tự trang bị cho mình kỹ năng vận dụng kiến thức (được học, tự nghiên
cứu) để giải quyết linh hoạt các vấn đề thực tiễn, tạo sự say mê, hứng thú ở chính
người học.
Trong học phần Điện và Từ đại cương dành cho sinh viên các trường Đại học
kỹ thuật, một số kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ có rất nhiều ứng
dụng hay và lý thú. Người học sẽ học tập tích cực hơn nếu các kiến thức được vận
dụng vào giải quyết những vấn đề cụ thể, thực tế, điều đó làm cho các kiến thức trở
nên có nghĩa đối với người học, khơi dậy lòng say mê, hứng thú ở họ. Với mục đích
trang bị cho sinh viên kiến thức vững chắc, rèn luyện kỹ năng giải quyết các vấn đề
thực tế đặt ra, khơi dậy tính tích cực, tự chủ của sinh viên thì việc tổ chức dạy học
dự án sẽ đem lại hiệu quả cao.
Dạy học dự án (DHDA) là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện
quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt
động và quan điểm dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành,
tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng
lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh
thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học.


Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng
trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với dạy học theo dự án. Tuy vậy
trong lĩnh vực dạy học, DHDA này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích
đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao. Một vài năm gần đây, tuy đã có một

tổng hợp, đánh giá) cho người học.
* Các đặc điểm của dạy học dự án:
- Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn, kết quả dự án có ý nghĩa thực tiễn-xã
hội.
- Chủ đề và nội dung của dự án phù hợp với hứng thú của người học.
- Người học tham gia tích cực và tự lực vào tất cả các giai đoạn của quá trình
dạy học: đề xuất vấn đề,lập kế hoạch giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề và trình
bày kết quả thực hiện.
- Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, huy động nhiều giác quan.
- Đó là những sản phẩm hành động có thể công bố, giới thiệu được.
- Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc các môn học
khác nhau.
- Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm.
Trong những năm gần đây, chương trình dạy học cho tương lai do Intel tổ
chức cũng đã nhấn mạnh vai trò của dạy học dự án, đã thu hút được đông đảo các
quốc gia trên thế giới tham gia, trong đó có Việt nam, bước đầu đã thu được thành
công. Ở Việt nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu lý luận và tổ chức dạy học dự án,
có thể kể một số công trình như:
“Dạy học theo dự án-một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo
viên” của hai tác giả Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo (tạp chí GD;
2004/ số 80.15-17), tác giả tiếp cận dạy học dự án từ góc độ lý luận.
“Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” của tác giả Đỗ Hương Trà (tạp chí
GD; 2007/ số 157.12-14, 23).Tác giả đã đưa ra tiến trình thực hiện dạy học dự án,
thông qua đó để vận dụng vào tổ chức dạy học dự án một cách hiệu quả.


“Đặc điểm cấu trúc của dạy học dự án và kết quả việc vận dụng vào dạy học
môn kỹ thuật số” của tác giả Lê Văn Hồng ( tạp chí GD; 2006/ số 133.31-32,17),
tác giả đã nghiên cứu lý luận của dạy học dự án và vận dụng vào dạy môn kỹ thuật
số bước đầu đã thu được thành công.

hút được sự tham gia tích cực, khơi dậy lòng say mê, hứng thú của người học. Ngày
26/03/2005, Sở GD-ĐT TPHCM đã tổ chức hội thảo về mô hình dạy học dự án tại
trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai - nơi mô hình dạy học này được triển khai
mạnh mẽ nhất.
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác và
một số học viên cao học đã vận dụng quan điểm của dạy học dự án vào tổ chức dạy
học ở một số trường tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà Nội…bước đầu đã thu được
nhiều thành công trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực,
tự chủ của người học, lôi cuốn người học vào thực hiện dự án học tập một cách tự
giác.
5. Giả thuyết khoa học
Dựa trên cơ sở lí luận của dạy học dự án cũng như dựa trên việc phân tích
các nội dung kiến thức cần dạy thì có thể tổ chức dạy học dự án một số kiến thức
phần Từ trường và Cảm ứng điện từ- học phần Điện và Từ đại cương cho sinh viên
ngành kỹ thuật nhằm phát huy tính tính cực, tự chủ và kích thích hứng thú cho
người học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu bản chất của hoạt động dạy học nói chung, bản chất của hoạt
động dạy học Vật lý nói riêng.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án, quá trình thiết kế dự án, quá
trình hướng dẫn người học lập dự án vào việc tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát
triển các hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của sinh viên.
- Điều tra ban đầu để phân tích những thuận lợi, khó khăn của giảng viên và
sinh viên trường Đại học GTVT khi dạy học các kiến thức phần Từ trường và Cảm
ứng điện từ- học phần Điện và Từ đại cương.


- Nghiên cứu nội dung kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ- giáo
trình Vật lý đại cương và các tài liệu khoa học liên quan.
- Vận dụng dạy học dự án vào việc soạn thảo tiến trình dạy học một số kiến

trường và Cảm ứng điện từ”- học phần Điện và Từ đại cương.
- Cung cấp số liệu và thông tin khoa học làm phong phú thêm tài liệu tham
khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học.
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lý ở đại học theo tinh thần
của dạy học hiện đại.


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN
1.1. Bản chất của hoạt động dạy học
1.1.1. Bản chất của hoạt động học
1.1.1.1. Khái niệm hoạt động học
Khi nói đến hoạt động học cần làm rõ khái niệm học và khái niệm hoạt động
học.
- Trong cuộc sống đời thường con người luôn luôn có quá trình tiếp thu, tích
luỹ những kinh nghiệm sống, trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học,
làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà trường. Đó chính là việc
học, là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, giống như con
người khi sinh ra đến khi chết lúc nào cũng phải học ăn học nói học gói học mở, đi
một ngày đàng học một sàng khôn…
- Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù ( phương thức nhà trường) mới có
khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua
đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi
của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được
dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo.
1.1.1.2. Bản chất của hoạt động học
Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở
người học. Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại. Sự thuận lợi cho người
học ở đây đó là con đường để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu
trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại. Và để tái tạo lại, người học không có cách

trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân
lý khoa học mà loài người chưa biết đến. Có thể nói: đối tượng của hoạt động học là
cái mới với cá nhân người học nhưng không mới đối với nhân loại.
1.1.1.4. Phương tiện học tập
Hoạt động bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể, và chủ thể phải có
những phương tiện, những điều kiện cụ thể để chiếm lĩnh đối tượng. Trong hoạt


động học tập, ngoài những phương tiện như: giấy, bút, sách, giáo trình, máy tính…
nó còn mang tính chất đặc thù của hoạt động học tập đó là mọi yếu tố của nó đều
được hình thành trong quá trình học tập. Phương tiện học tập không có sẵn trong
tâm lý chủ thể mà hình thành chính trong quá trình chủ thể tham gia hoạt động học
tập.
Phương tiện chủ yếu của hoạt động học tập đó là các hành động học tập: so
sánh, phân loại, phân tích, khái quát hoá. Tâm lý học đã khẳng định so sánh, phân
loại là những hành động học tập, là phương tiện đắc lực cho việc hình thành những
khái niệm kinh nghiệm, còn phân tích, khái quát hoá là phương tiện để hình thành
nên những khái niệm khoa học.
Cần nhấn mạnh rằng trong hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư duy.
Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết.
1.1.1.5. Điều kiện học tập
Hoạt động học muốn được diễn ra phải có điều kiện của nó. Điều kiện đầu
tiên đó là có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như: có sự hướng dẫn
của thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình… Điều kiện thứ hai đó là có sự vận
động của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu tố nội lực. Đó là những tri
thức mà người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí,
hứng thú của người học…
Khi có đầy đủ những điều kiện đó, người học dù trong hoàn cảnh có thầy với
trò, hay không có sự có mặt của thầy thậm chí khi ra trường, hoạt động học vẫn diễn
ra. Từ đó có thể hiểu học là quá trình tương tác các yếu tố ngoại lực và yếu tố nội

của hoạt động học) trở thành động cơ của hoạt động ấy. Động cơ hoàn thiện tri thức
là động cơ chính của hoạt động học tập. Nhưng trên thực tế còn có động cơ quan hệ
xã hội. Nó “bám vào”, “hiện thân” trên động cơ hoàn thiện tri thức, trở thành một
bộ phận của động cơ hoàn thiện tri thức. Khi động cơ hoàn thiện tri thức được đáp
ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ quan hệ xã hội cũng được thoả mãn. Cả hai
loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ
thể, tuỳ theo điều kiện nào đó mà động cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan
trọng hơn, nổỉ lên và chiêm ưu thế trong thứ bậc động cơ. Sự phân chia động cơ


như vậy chỉ có tính chất tương đối.
ii) Mục đích học tập.
Theo tâm lý học hoạt động, mục đích được hiểu là cái mà hành động đang
diễn ra hướng tới. Hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ và nó được tiến hành
dưới các hành động học. Vì vậy, mục đích của hoạt động học là các khái niệm, các
giá trị, các chuẩn mực...mà hành động học đang diễn ra hướng đến nhằm đạt được
nó.
Quá trình hình thành mục đích bắt đầu từ việc hình thành trong chủ thể dưới
các dạng là các biểu tượng, sau đó được tổ chức để hiện thực hoá biểu tượng trên
thực tế, và khi thực tế có hoàn thành được thì mục đích được hoàn thành. Mục đích
của hoạt động học cũng được hình thành như vậy, chỉ có điều nó có tính đặc thù
riêng đó là việc hình thành mục đích học tập hướng đến là để thay đổi chính chủ thể
ở đây là người học. Mục đích này chỉ có thể được bắt đầu hình thành khi chủ thể bắt
đầu bắt tay vào thực hiện hành động học tập của mình. Trên con đường chiếm lĩnh
đối tượng nó luôn diễn ra quá trình chuyển hoá giữa mục đích và phương tiện học
tập. Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ thì nó lại trở thành công cụ để chiếm
lĩnh các mục đích tiếp theo.
iii) Sự hình thành các hành động học tập
Học là một quá trình, do đó khi nói đến hoạt động học là phải nói đến sự
hình thành các hành động học tập. Hành động học ở đây được hiểu là hành động trí

đề cho hoạt động của người học. Hành động dạy của người thầy có tác dụng trực
tiếp tới người học, đó là sự định hướng đối với hành động của người học, sự tương
tác, trao đổi, tranh luận giữa người học với nhau và qua đó cung cấp những thông
tin liên hệ ngược từ phía người học cho giáo viên. Còn hành động học của người
học đối với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của người học với tình huống
học tập thích đáng nhằm chiếm lĩnh tri thức. Sự tương tác của người học với tư liệu
còn đem lại cho giáo viên những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo
của giáo viên đối với người học.
1.1.4. Bản chất của hoạt động dạy học ở đại học
Bản chất của hoạt động dạy học ở đại học là quá trình nhận thức độc đáo có
tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức và điều
khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học.
Tính chất nghiên cứu của sinh viên trong quá trình học tập ở đại học được
thể hiện ở những điểm sau:
- Trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên phải tự mình chiếm lĩnh hệ
thống các tri thức, kỹ năng, phải nắm vững cơ sở của nghề nghiệp tương lai ở trình
độ đại học và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu
dài do thực tiễn xã hội đặt ra.
- Khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ có năng lực nhận thức
thông thường mà cần tiến hành các hoạt động nhận thức mang tính nghiên cứu trên
cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao. Điều đó có nghĩa
là dưới vai trò hướng dẫn của người thầy, sinh viên không tiếp thu một cách máy
móc những chân lý có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhận chân lý đó với óc phê phán,
có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu vấn
đề…
- Trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên đã bắt đầu tham gia vào hoạt
động tìm kiếm chân lý mới. Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status