Luận văn giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại sở giao dịch – ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - Pdf 38

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

Luận văn:
“Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch

– Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam”

Nguyễn Việt Hùng

1

KhoaNH - TC


Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
Bắt đầu từ Đại hội Đảng năm 1986, Việt Nam đã tiến hành quá trình đổi
mới nền kinh tế, xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp,
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản
lý của Nhà nước. Công cuộc đổi mới nền kinh tế đã tạo ra nhiều thành phần kinh
tế mới, trong đó có các DNNQD. Hiện nay, các DNNQD đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước, góp phần tạo công ăn việc
làm cho người lao động, góp phần đang kể vào GDP của đất nước. Xét về mặt
quản lý thì DNNQD chính là lực lượng quan trọng góp phần nâng cao hiệu suất
và tính linh hoạt của nền kinh tế. Tuy nhiên hiện nay các DNNQD Việt Nam


Chuyên đề tốt nghiệp

Qua chuyên đề này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Th.S
Lê Hương Lan và các cán bộ nhân viên tại SGDI – NHĐT&PTVN, những người
đã tận tình giúp đỡ em để em có thể hoàn thành chuyên đề này.
Nội dung chuyên đề ngoài lời mở đầu và phần kết luận còn bao gồm ba
chương:
Chương I - Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh.
Chương II - Thực trạng về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.
Chương III - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tại Sở giao dịch – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam

Nguyễn Việt Hùng

3

KhoaNH - TC


Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

- Khách hàng (người đi vay) chỉ được sử dụng tạm thời trong một
khoảng thời gian nhất định. Sau khi hết thời hạn theo thoả thuận phải hoàn trả
lại cho ngân hàng (người cho vay).
- Giá trị mà khách hàng hoàn trả lại cho ngân hàng thường lớn hơn giá
trị lúc vay, tức là khách hàng phải trả thêm lãi.

1.1.2. Phân loại tín dụng NHTM.
Theo các tiêu thức khác nhau thì có các cách phân loại tín dụng ngân
hàng khác nhau. Sau đây là các cách phân loại tín dụng ngân hàng phổ biến hiện
nay:
* Căn cứ theo thời gian cho vay:
- Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn dưới một năm,
thường nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc cho nhu cầu sử dụng vốn ngắn
hạn. Nó bao gồm các loại chính: bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp; chiết
khấu chứng từ có giá...
- Tín dụng trung hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5

năm. Loại tín dụng này thường được sử dụng để đầu tư mua sắp tài sản cố định,
đổi mới trang thiết bị, cải tiến kỹ thuật...
- Tín dụng dài hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại

tín dụng này chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn của khách
hàng như: xây dựng nhà xưởng, máy móc, thiết bị, những dự án có thời gian thu
hồi vốn dài...
* Căn cứ vào hình thức bảo đảm:
- Tín dụng không có tài sản bảo đảm: Là hình thức tín dụng trong đó

+ Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển
hàng hoá. Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm giấy đề nghị vay luân
chuyển, sau đó Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau về phương thức
vay, hạn mức cho vay... Hạn mức cho vay có thể được thoả thuận trong một năm
hoặc vài năm, đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời gian để ngân hàng
xem xét lại mối quan hệ với khách hàng. Vì thủ tục vay chỉ phải thực hiện một
lần nên rất thuận tiện cho khách hàng.
+ Cho vay theo hạn mức: Là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng thoả
thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay. Hạn mức có thể tính cho cả kỳ hoặc
cuối kỳ, đó là số dư tại thời điểm tính.
+ Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép
khách hàng được chi trội vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một

Nguyễn Việt Hùng

6

KhoaNH - TC


Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

giới hạn nhất định trong một thời hạn xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi.
+ Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho phép

khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thoả thuận. Hình
thức này thường áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, hoặc cho vay


KhoaNH - TC


Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

Vốn là yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong bất kỳ nền kinh tế nào cũng có nguồn tiền nhàn rỗi và chưa được sử dụng,
tín dụng ngân hàng đã tập trung các nguồn tiền đó thông qua hoạt động huy
động vốn của mình theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi để có thể mang nguồn vốn
đó cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn phục vụ cho sản xuất kinh
doanh.
* Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản
xuất, là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế
mũi nhọn.
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị
trường thông qua các công cụ tài chính tín dụng để sử dụng có hiệu quả nhất
nguồn tài nguyên và sức lao động. Muốn phát huy thế mạnh về tài nguyên để
chuyển hướng cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội thì không
thể thiếu vai trò của tín dụng ngân hàng. Trong đó, tín dụng ngân hàng tạo
nguồn vốn bằng cách huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất
linh hoạt, phù hợp với tỉ lệ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát để đầu tư vào các lĩnh
vực, các công trình cần thiết cho đất nước nhưng đang gặp khó khăn do thiếu
vốn; Bên cạnh đó ngân hàng còn tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh
tế mũi nhọn mà sự phát triển của các ngành này đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển của kinh tế đất nước.
* Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân
chuyển tiền tệ.

nước phát triển nhanh, vững mạnh thì kinh tế đối ngoai đóng vai trò đặc biệt
quan trọng. Nhờ có tín dụng ngân hàng mà các thành phần kinh tế của đất nước
đã có vốn, từ đó nâng cấp, đổi mới máy móc thiết bị, tiến hành xuất khẩu hàng
hoá ra thế giới. Như vậy, tín dụng Ngân hàng đã trở thành cầu nối quan trọng
giữa kinh tế trong nước và kinh tế thế giới.

1.1.4. Quy trình tín dụng của NHTM.
Quy trình tín dụng là một tập hợp các thao tác, thủ tục mà cán bộ tín
dụng phải làm khi thực hiện xem xét một yêu cầu tín dụng của khách hàng. Quy
trình tín dụng là những quy định của cơ quan cấp trên quản lý Ngân hàng ban
hành, buộc Ngân hàng và cán bộ tín dụng phải tuân thủ. Quy trình tín dụng tại
các NHTM bao gồm các bước sau:
- Bước 1: Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và hồ sơ vay
vốn. Cán bộ tín dụng phải có trách nhiệm hướng dẫn đầy đủ, rõ ràng cho khách
hàng về thể lệ vay, tránh gây phiền hà cho khách hàng.
- Bước 2: Điều tra, thu thập, tổng hợp các thông tin về khách hàng và
phương án vay vốn. Những thông tin này phải được thu thập từ nhiều nguồn
khác nhau để đảm bảo có được thông tin chính xác nhất, như là từ các bạn hàng,

Nguyễn Việt Hùng

9

KhoaNH - TC


Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp




Nguyễn Việt Hùng

10

KhoaNH - TC


Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

công ty cổ phần mà trong đó Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và các đơn vị theo hình thức hợp tác xã.

1.2.2. Phân loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Có nhiều tiêu thức để phân loại các DNNQD, nhưng có các tiêu thức
chủ yếu sau:
* Phân loại theo loại hình doanh nghiệp, bao gồm các loại hình sau:
- Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là công ty trong đó phần vốn góp của
tất cả các thành viên phải được đóng đầy đủ ngay khi thành lập công ty. Các
phần vốn góp được ghi rõ trong điều lệ công ty. Công ty không được phép phát
hành bất kỳ một loại chứng khoán nào. Việc chuyển nhượng vốn góp giữa các
thành viên được thực hiện tự do. Nhưng việc chuyển nhượng vốn góp cho người
không phải thành viên công ty phải được sự nhất trí của nhóm thành viên đại
diện cho ít nhất ¾ số vốn điều lệ của công ty. Có công ty trách nhiệm hữu hạn


hàng.
- DNNQD hoạt động trong lĩnh vực vận tải, bưu chính, viễn thông.
- DNNQD hoạt động trong các ngành dịch vụ khác.

* Phân loại theo quy mô doanh nghiệp thì DNNQD bao gồm:
- DNNQD có quy mô vừa và nhỏ: Là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập,
đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh
không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
người.
- DNNQD có quy mô lớn: Là những doanh nghiệp có tính chất tư hữu,
có số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng và số lao động lớn hơn 300 người.

1.2.3. Đặc điểm của DNNQD ở nước ta hiện nay.
1.2.3.1. DNNQD có số lượng lớn.
Trong những năm gần đây, doanh nghiệp Việt Nam nói chung và
DNNQD Việt Nam nói riêng đã tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp, số lượng
lao động và vốn. Năm 1991, một năm sau khi ban hành luật công ty và luật
doanh nghiệp tư nhân, tổng số DNNQD chỉ có 414 doanh nghiệp. Đến năm
1999, số lượng DNNQD đã tăng lên con số 30.500 doanh nghiệp. Tính bình
quân giai đoạn này, mỗi năm tăng khoảng 3.252 doanh nghiệp, tương ứng với
tốc độ tăng 32%/ năm. Đến năm 2003, số lượng DNNQD đã tăng lên 55.236
doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng 88 % trong tổng số doanh nghiệp ở nước ta.

Nguyễn Việt Hùng

12

KhoaNH - TC


dày dạn. Bởi vì nền kinh tế nước ta mới chuyển sang cơ chế thị trường nên
những kiến thức về kinh tế, về quy luật kinh doanh không phải ai cũng nắm bắt
được; mặt khác cũng bởi vì các trường đào tạo quản lý kinh doanh và quản lý

Nguyễn Việt Hùng

13

KhoaNH - TC


Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

pháp luật còn quá thiên về phương pháp lý thuyết mà ít chú ý tới phương pháp
giải quyết các vấn đề thực tế, mặt khác chi phí đào tạo quản lý nói chung còn rất
cao. Từ những lý do trên làm cho trình độ quản lý của DNNQD còn thấp, gây ra
nhiều khó khăn trong việc quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Những người
quản lý ở các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn trong công tác tổ chức nhân
sự, trong việc hoạch định kế hoạch cũng như phân tích dự án, cơ hội đầu tư.
Việc thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý tài chính trong các doanh
nghiệp này còn chưa được nghiêm túc, chính vì thế mà họ gặp nhiều khó khăn
khi muốn tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng.
Công nghệ sản xuất của các DNNQD đã trở nên lạc hậu. Theo điều tra
thì ở các DNNQD hiện nay chỉ có 20% thiết bị hiện đại, 55% thiết bị ở mức
trung bình, còn lại là thiết bị lạc hậu. Riêng ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo
thì có đến 60% máy móc, thiết bị lạc hậu từ những năm 60. Nguyên nhân của
tình trạng này là do vốn đầu tư ban đầu của các DNNQD thường thấp, họ lại gặp
nhiều khó khăn trong việc vay vốn tín dụng trung và dài hạn cần thiết cho việc

này.
Trên đây là một số đặc điểm chính của các DNNQD ở nước ta hiện nay.
Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng các DNNQD ở nước ta đã và đang phát triển
với tốc độ cao, đóng góp vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của kinh tế đất
nước.

1.2.4. Vai trò của DNNQD trong nền kinh tế thị trường.
Trong tình hình hiện nay, khi mà nền kinh tế đất nước ta đang trong quá
trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế thì các DNNQD ngày càng thể hiện
được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế. Vai trò quan trọng đó
được thể hiện ở các mặt sau:
1.2.4.1. Thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đất nước.
Các DNNQD hoạt động trong hầu hết các ngành kinh tế của đất nước
như: nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp... Các DNNQD hoạt động linh
hoạt, năng động, thích ứng nhanh, đáp ứng tốt những nhu cầu của thị trường.
Theo số liệu thống kê thì hiện nay các DNNQD đóng góp đến khoảng 40% tổng
sản phẩm quốc nội (GDP), những năm gần đây, tỷ lệ đóng góp vào GDP của các
DNNQD ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Điều này góp phần quan
trọng thúc đấy nền kinh tế đất nước ta phát triển.
1.2.4.2. Làm nâng cao tính cạnh tranh trong nền kinh tế, tận dụng tối
đa mọi nguồn lực của đất nước..
Các DNNQD phát triển trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong nền kinh
tế đã làm cho thị trưòng hàng hoá trở nên phong phú, đa dạng và sôi động hơn.
Người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hoá và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của mình. Mặt khác các DNNQD có ưu thế về sự nhạy bén với thị
trường đã thực sự trở thành đối thủ cạnh tranh trên thị trường của rất nhiều


Nguyễn Việt Hùng


1.2.4.4. Góp phần vào quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá của
đất nước.
DNNQD hoạt động trong mọi ngành nghề nhưng chủ yếu phổ biến ở
các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, thủ công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu.
DNNQD có thể thích nghi đón đầu công nghệ mới, chuyển đổi hướng sản xuất
nhanh chóng cho phù hợp với thị trường, đã tham gia tích cực vào quá trình
chuyển đổi cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Từ
đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế nông nghiệp sang
một nền kinh tế


Nguyễn Việt Hùng

16

KhoaNH - TC


Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

có cơ cấu tiên tiến, theo hướng xuất khẩu, phù hợp với định hướng Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá đất nước.

1.3. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với DNNQD.
Trong quá trình phát triển của mình, ngoài nguồn vốn tự có thì các
DNNQD có thể dựa vào các nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn tín dụng Ngân
hàng, nguồn vốn thông qua thị trường tài chính. Trong đó thì vốn tín dụng Ngân
hàng đóng vai trò chủ yếu và an toàn nhất. Vì vậy vai trò của tín dụng Ngân

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên đề tốt nghiệp

Tháo gỡ được cho doanh nghiệp các khó khăn trên, tín dụng Ngân hàng
đã giúp đỡ cho các DNNQD trong việc hỗ trợ vốn lưu động và tiến hành tái đầu
tư mở rộng sản xuất. Với nhiều hình thức cho vay khác nhau mà các DNNQD đã
được cấp thêm vốn lưu động, có thể kịp thời chớp lấy các cơ hội kinh doanh,
tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, làm cho quá trình sản xuất kinh
doanh được diễn ra liên tục. Ngoài ra, với các hình thức cho vay trung và dài hạn
còn giúp các doanh nghiệp có vốn để đầu tư dây chuyền sản xuấtvà máy móc
thiết bị. Sự tài trợ này của ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, lợi
nhuận và hiện đại hoá công nghệ của chính mình.
Như vậy, tín dụng ngân hàng chính là nguồn vốn hỗ trợ tốt nhất, quan
trọng nhất, đa dạng nhất để các DNNQD có thể tiến hành sản xuất kinh doanh
một cách thuận lợi, phát triển.

1.3.2. Giúp các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
Vai trò này bắt nguồn từ chức năng giám sát của NHTM với tư cách là
nguời cho vay đối với các DNNQD. Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín
dụng, hướng dẫn các doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả,
đồng thời đôn đốc chủ doanh nghiệp trả nợ đúng hạn. Trong quá trình giám sát,
kiểm tra, Ngân hàng phát hiện ra những nhược điểm cần khắc phục, giúp các
doanh nghiệp xác định đúng phương hướng sản xuất kinh doanh kinh doanh,
nhằm hạn chế khả năng rủi ro có thể xảy ra.
Mặt khác, một trong những điểm cơ bản nhất của tín dụng NHTM là
buộc người vay phải hoàn trả gốc (vốn vay ban đầu) và lãi sau một khoảng thời
gian nhất định. Điều này đã buộc các DNNQD khi sử dụng nguồn vốn tín dụng
NHTM thì phải nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn để thu hồi được đồng tiền đầu tư
ban đầu, từ đó có thể trả gốc, lãi cho ngân hàng và có được một khoản lợi nhuận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status