Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của tòa án cấp sơ thẩm - Pdf 38

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN KIM LNG

THU THậP, NGHIÊN CứU Và ĐáNH GIá CHứNG Cứ
TRONG Tố TụNG DÂN Sự CủA TòA áN CấP SƠ THẩM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN KIM LNG

THU THậP, NGHIÊN CứU Và ĐáNH GIá CHứNG Cứ
TRONG Tố TụNG DÂN Sự CủA TòA áN CấP SƠ THẩM

Chuyờn ngnh: Lut dõn s v t tng dõn s
Mó s: 60 38 01 03

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN CễNG BèNH

H NI - 2015



ÁN CẤP SƠ THẨM.............................................................................. 15

1.1.1. Khái niệm thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố
tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm .................................................. 15
1.1.2. Ý nghĩa của thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố
tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm .................................................. 18
1.2.

CƠ SỞ CỦA THU THẬP, NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG

CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨMError! Bookmark

1.2.1. Cơ sở lý luận của thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ
trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩmError! Bookmark not defined.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ
trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩmError! Bookmark not defined.
1.3.

KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
VỀ THU THẬP, NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨMError! Bookmark no


1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 Error! Bookmark not defined.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 Error! Bookmark not defined.
1.3.3. Giai đoạn từ 2004 đến nay ................. Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................ Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 2:NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ

Chƣơng 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ THU THẬP,
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN CẤP
SƠ THẨM VÀ KIẾN NGHỊ.............. Error! Bookmark not defined.
3.1.

THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ THU THẬP, NGHIÊN CỨU

VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨMError! Bookmark no


3.1.1. Những kết quả đạt đƣợc trong việc thực hiện các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thu thập, nghiên cứu và
đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩmError! Bookmark not defined.
3.1.2. Những hạn chế, tồn tại, vƣớng mắc và nguyên nhân của những
hạn chế, tồn tại, vƣớng mắc trong việc thực hiện các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thu thập, nghiên cứu,
đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩmError! Bookmark not defined.
3.2.

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU
THẬP, NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ CỦA TÒA
ÁN CẤP SƠ THẨM ............................. Error! Bookmark not defined.

3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thu thập, nghiên cứu, đánh giá

chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩmError! Bookmark not de
3.2.2. Kiến nghị về thực hiện pháp luật thu thập, nghiên cứu, đánh giá


Luật tổ chức Tòa án nhân dân

LTCVKSND

:

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

PLTTGQCTCLĐ

:

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

PLTTGQCVADS

:

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT

:

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

TAND

:



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chứng cứ, theo quy định của Điều 81 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTS) là
những gì có thật đƣợc đƣơng sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho
Tòa án hoặc do tòa án thu thập đƣợc theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định
mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đƣơng sự là
có căn cứ và hợp pháp hay không cũng nhƣ những tình tiết khác cần thiết cho việc
giải quyết đúng đắn vụ án dân sự. Về nguyên tắc, các đƣơng sự phải có nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp,
Tòa án có trách nhiệm xem xét các tình tiết của vụ án, căn cứ vào quy định của
pháp luật để giải quyết yêu cầu của đƣơng sự. Tuy nhiên khi xét thấy các tài liệu
chứng cứ do các đƣơng sự cung cấp không đủ cơ sở giải quyết hoặc các đƣơng sự
không thể cung cấp đƣợc các chứng cứ cần thiết thì trong các trƣờng hợp quy định
Thẩm phán sẽ tiến hành một số biện pháp để thu thập chứng cứ. Sau khi có các
chứng cứ, Tòa án phải tiến hành nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Hoạt động này
giúp cho Tòa án hiểu đƣợc bản chất của vụ việc dân sự và xác định phƣơng hƣớng
giải quyết đúng đắn vụ án dân sự
Các hoạt động thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án đƣợc quy
định tại các điều từ Điều 85 đến Điều 96 của BLTTS, đồng thời đƣợc hƣớng dẫn
tại Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hƣớng dẫn thi hành một số quy định
của BLTTDS về “chứng minh và chứng cứ” của BLTTDS đã đƣợc sửa đổi bổ sung
theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTS. So với các quy định về thu
thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của các văn bản pháp luật đƣợc ban hành
trƣớc đây thì các văn bản pháp luật này đã quy định về điều kiện, trình tự và cách
thức Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ khá rõ ràng và đầy đủ hơn nên đã tạo


thuận lợi cho các Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên qua

cung cấp, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt nam” của tác giả Nguyễn
Minh Hằng bảo vệ tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2002; Luận án tiến sĩ luật
học "Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam" của tác giả Nguyễn
Minh Hằng bảo vệ tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2007; đề tài "Thu thập và
đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thực trạng và giải
pháp", Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Viện khoa học xét xử của Toà
án nhân dân tối cao năm 2002; bài “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân
sự” của tác giả Hoàng Ngọc Thỉnh, đăng trên số Đặc san góp ý Dự thảo BLTTDS
Tạp chí Luật học năm 2004; bài “Chế định chứng minh và chứng cứ trong
BLTTDS” của tác giả Nguyễn Công Bình, đăng trên Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp
luật 2/2004; bài “Thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự” của tác giả Bùi Thị
Huyền, đăng trên Tạp chí Luật học số 1/2002; bài “Chứng cứ và chứng minh trong
tố tụng dân sự” của tác giả Dƣơng Quốc Thành đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân
số 1/2004; bài “Tập quán nguồn luật hay nguồn chứng cứ” của tác giả Nguyễn
Minh Hằng, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 9/2004; bài “Một vài suy nghĩ
về vấn đề chứng cứ và chứng minh được quy định trong BLTTDS” của tác giả
Tƣởng Duy Lƣợng, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 20/2004; bài “Một số
vướng mắc trong quá trình thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự - những kiến nghị, giải
pháp hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Văn Cƣờng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số
2/2010; bài “Một số bất cập và vướng mắc của Bộ luật tố tụng dân sự chưa được
hướng dẫn thi hành” của tác giả Trần Văn Trung trên Tạp chí Tòa án nhân dân số
4/2011; bài “Bàn về điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự về định giá tài sản” trên Tạp
chí Tòa án nhân dân số 20/2012 .v.v. Những công trình nghiên cứu này đã làm
sáng tỏ đƣợc nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc thu thập, nghiên
cứu và đánh giá chứng cứ của Tòa án. Tuy vậy, những công trình nghiên cứu này


đƣợc thực hiện chủ yếu vào thời điểm trƣớc và sau khi BLTTS đƣợc ban hành đến
nay điều kiên kinh tế, xã hội đã có nhiều thay đổi. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài
“Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp

nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn đƣợc hoàn thành trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác
– Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
về Nhà nƣớc và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản Việt nam về cải cách tƣ
pháp và xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Quá trình nghiên cứu luận văn tác giả cũng đã sử dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống nhƣ phƣơng pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh… để thực hiện đề tài.
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý toàn diện và có hệ
thống về thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm. Nội
dung của luận văn thể hiện các kết quả nghiên cứu sau:
- Phân tích làm rõ khái niệm, ý nghĩa và cơ sở của việc pháp luật quy định
thu thập nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm.
- Phân tích làm rõ nội dung và đánh giá đƣợc các quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ.
- Trình bày đƣợc những vấn đề về thực tiễn thu thập, nghiên cứu, đánh giá
chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập của quy
định pháp luật và thực tiễn thực hiện.
- Đề xuất đƣợc một số kiến nghị hoàn thiện và thực hiện các quy định của
pháp luật về thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ.
7. Kết cấu của luận văn


Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung của
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng
cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm.
Chương 2: Nội dung các quy định của Pháp luật tố tụng dân sự Việt nam

quan, tổ chức cung cấp, hoặc do chính Tòa án trực tiếp sử dụng các biện pháp để
thu thập” [16, tr.12]. Đề cập ở phạm vi rộng và khái quát hơn tác giả Nguyễn
Minh Hằng cho rằng:
Hoạt động thu thập chứng cứ đƣợc hiểu là hoạt động tố tụng


dân sự của các chủ thể chứng minh trong việc phát hiện, ghi nhận,
thu giữ và bảo quản chứng cứ bằng các phƣơng pháp, biện pháp theo
một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định [10, tr.64].
So sánh hai quan điểm trên thấy rằng các tác giả đều có những điểm chung
về khái niệm thu thập chứng cứ, đó là: Thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng dân
sự của các chủ thể chứng minh; đƣợc tiến hành theo trình tự thủ tục đƣợc pháp luật
tố tụng dân sự quy định. Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trƣờng
Đại học Luật Hà nội thì “Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ,
tập hợp, đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải
quyết vụ việc dân sự” [2, tr.164]. Khái niệm này đã đề cập đến đƣợc bản chất của
biện pháp thu thập chứng cứ cũng nhƣ mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ
nhằm để “nghiên cứu”, “đánh giá và sử dụng” trong hoạt động giải quyết vụ việc
dân sự của Tòa án. Tuy nhiên khái niệm trên chƣa chƣa làm nổi bật lên đƣợc vấn
đề chủ thể tiến hành thu thập chứng cứ trong trƣờng hợp này là Tòa án và tiến hành
thu thập chứng cứ qua việc áp dụng một số biện pháp thu thập chứng cứ trong
những trƣờng hợp và điều kiện do pháp luật tố tụng dân sự quy định, và thông qua
việc áp dụng thủ tục, trình tự cũng nhƣ điều kiện chặt chẽ do pháp luật quy định
nhƣ vậy thì các chứng cứ mà Tòa án thu thập đƣợc mới có giá trị pháp lý và đƣợc
sử dụng vào việc giải quyết vụ việc dân sự. Mặt khác, theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành thì ở các Tòa án việc thu thập chứng cứ không
phải do bất kỳ ai đảm nhiệm mà do Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ việc
đảm nhiệm. Từ những vấn đề nêu trên có thể kết luận về khái niệm thu thập chứng
cứ nhƣ sau: "Thu thập chứng cứ của Tòa án là hoạt động của thẩm phán trong việc
tiến hành các biện pháp pháp lý theo quy định của pháp luật nhằm tập hợp các

cứ về những tình tiết, sự kiện cần phải chứng minh cũng như những tình tiết, sự
kiện cần thiết khác cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự".


- Thuật ngữ “đánh giá” trong Đại từ điển tiếng Việt đƣợc giải thích là
“nhận xét, bình phẩm về giá trị”. Nếu nhƣ nghiên cứu chứng cứ là việc trực tiếp
thụ cảm, xem xét, phân tích, so sánh chứng cứ nhằm nhìn nhận chứng cứ để bƣớc
đầu xác định giá trị chứng minh của từng chứng cứ, thì đánh giá chứng cứ là quá
trình xác định giá trị chứng minh của chứng cứ và tính hiệu quả của chứng cứ
trong tổng thể các chứng cứ. Để xác định đƣợc giá trị chứng minh của chứng cứ
thì Tòa án phải đánh giá chứng cứ. Việc đánh giá chứng cứ đƣợc Thẩm phán phụ
trách việc giải quyết vụ việc tiến hành trƣớc phiên tòa và các thành viên của Hội
đồng xét xử tiến hành tại phiên tòa. Có thể nói đánh giá chứng là một quá trình tƣ
duy logic, là hoạt động suy luận dựa trên cơ sở nhận thức và tri thức của ngƣời
đánh giá về đối tƣợng đánh giá. Từ đó, có thể kết luận: "Đánh giá chứng cứ của
Tòa án là hoạt động tư duy logic của Thẩm phán và các thành viên của Hội đồng
xét xử tiến hành trên cơ sở những hiểu biết về những tình tiết, sự kiện đã thu thập
được, dựa trên cơ sở các quy định pháp luật và niềm tin nội tâm để xác định độ
tin cậy và giá trị chứng minh của từng chứng cứ cũng như tất cả các chứng cứ
trong vụ việc dân sự nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ việc dân sự một cách khách
quan toàn diện".
1.1.2. Ý nghĩa của thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố
tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm
1.1.2.1. Ý nghĩa của thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm
- Đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án:
Trong thực tiễn việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án thì tỷ lệ số vụ
việc dân sự đƣợc giải quyết dựa vào chứng cứ và việc tự chứng minh của các
đƣơng sự là rất ít, phần lớn các vụ việc dân sự đƣợc giải quyết đều do Tòa án chủ
động, tích cực xác minh thu thập chứng cứ, việc pháp luật TTDS quy định cho Tòa
án có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét



Tòa án là một cơ quan trung tâm trong hệ thống các cơ quan tƣ pháp có chức
năng xét xử để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm pháp luật đƣợc thi hành
nghiêm chỉnh, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội và tạo ra môi trƣờng pháp lý
lành mạnh cho các quan hệ pháp luật nội dung phát triển. Việc Tòa án trợ giúp
đƣơng sự thu thập chứng cứ thể hiện chức năng xã hội của nhà nƣớc nhằm duy trì
sự ổn định xã hội, thiết lập nên những thiết chế để xã hội đƣợc vận hành một cách
có trật tự.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Nguyễn Công Bình (2005), “Các quy định về chứng minh trong tố tụng dân
sự”, Tạp chí Luật học, (2).

2.

Nguyễn Công Bình (chủ biên) (1997), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt
Nam, Trƣờng Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

3.

Bộ Công an (2003), Thông tư số 15/2003/TT/BCA ngày 10/03/2003 của Bộ
công an hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng cảnh sát bảo vệ
hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ công an, Hà Nội.

4.

Đỗ Văn Chỉnh (2013), “Những sửa đổi bổ sung quan trọng trong Bộ luật tố
tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (21).

Nghề luật, Hà Nội.
12. Hội đồng thẩm phán TANDTC (2011), Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày
03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ”
của BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung năm 2011, Hà Nội.
13. Hội đồng thẩm phán TANDTC (2011), Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP
ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định về “Thủ tục giải quyết
vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung năm
2011, Hà Nội.
14. Nguyễn Quang Lộc (2002), “Luật sƣ dƣới góc nhìn của Thẩm phán”, Tạp chí
dân chủ và pháp luật, (2).
15. Tƣởng Duy Lƣợng (2001), Bình luận một số án dân sự và hôn nhân gia đình,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
16. Tƣởng Duy Lƣợng (2005), “Chứng cứ và chứng minh – Sự thay đổi nhận thức
trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Đặc san Nghề Luật, (10), Hà Nội.
17. Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Bộ luật tố tụng
dân sự, Hà Nội.
18. Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội.
19. TANDTC (1974), Thông tư 06/TATC ngày 25/02/1974 hướng dẫn việc điều
tra trong tố tụng dân sự, Hà Nội.
20. TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC (2014), Thông tư liên tịch số
02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/03/2014 hướng dẫn
thi hành điều 92 BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung về định giá tài sản và thẩm
định giá tài sản, Hà Nội.
21. Dƣơng Quốc Thành (2004), “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”,
Tạp chí Kiểm sát, (1).


22. Hoàng Ngọc Thỉnh (2004), “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”,
Đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

Nội.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status