ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ NGỌC
Xö lý hîp ®ång lao ®éng v« hiÖu
theo ph¸p luËt ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ NGỌC
Xö lý hîp ®ång lao ®éng v« hiÖu
theo ph¸p luËt ViÖt Nam
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM TRỌNG NGHĨA
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
1.2.
Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu .... Error! Bookmark not defined.
1.2.1. Cách thức xử lý hợp đồng lao động vô hiệuError! Bookmark not defined.
1.2.2.
Giải quyết hậu quả hợp đồng lao động vô hiệuError! Bookmark not defined.
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ
HIỆU Ở VIỆT NAM ........................ Error! Bookmark not defined.
2.1.
Quan niệm về hợp đồng lao động vô hiệu và cách thức xử lý
hợp đồng lao động trong lịch sử pháp luật lao động Việt Nam
trước đây ........................................... Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Pháp luật về HĐLĐ vô hiệu và xử lý HĐLĐ vô hiệu trước khi
ban hành BLLĐ 1995 ......................... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Pháp luật về HĐLĐ vô hiệu và xử lý HĐLĐ vô hiệu từ khi ban
hành BLLĐ 1995 ................................ Error! Bookmark not defined.
2.2.
Quan niệm về hợp đồng lao động vô hiệu và cách thức xử lý
hợp đồng lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nayError! Bookma
2.2.1. Quan niệm về HĐLĐ vô hiệu theo BLLĐ hiện nayError! Bookmark not define
2.2.2. Xử lý HĐLĐ vô hiệu theo BLLĐ hiện nayError! Bookmark not defined.
Bộ luật dân sự
BLLĐ:
Bộ luật lao động
HĐLĐ:
Hợp đồng lao động
ILO:
Tổ chức lao động quốc tế
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Người sử dụng lao động
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ lao động trong thị trường là một loại quan hệ đặc biệt, nó vừa là
quan hệ kinh tế vừa là quan hệ có tính xã hội bởi nó liên quan tới con người; nó
vừa là quan hệ thỏa thuận vừa là quan hệ phụ thuộc; nó vừa là quan hệ bình đẳng
song bởi khả năng nảy sinh giá trị khi sử dụng nên dễ dẫn tới sự bất công và bóc
động vô hiệu theo pháp luật Việt Nam” năm 2006 của tác giả Nguyễn Thị Thạo (
trường đại học Luật Hà Nội); Luận văn “ Pháp luật về hợp đồng lao động vô hiệu.
Thực trạng và định hướng hoàn thiện” năm 2006 của Hoàng Văn Hùng ( Đại học
Luật TP Hồ Chí Minh). Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu liên quan đề
cập về vấn đề này như: “Mấy ý kiến về hợp đồng lao động vô hiệu”, Tạp chí Luật
học, số 5/1999 của TS Đào Thị Hằng; “ Mấy ý kiến xung quanh việc thụ lý, giải
quyết tranh chấp lao động có liên quan tới hợp đồng lao động”, tạp chí Tòa án
Nhân dân 8/2004 của tác giả Lưu Bình Nhưỡng; Lê Thị Hoài Thu với “ Một số ý
kiến về HĐLĐ vô hiệu”, Tạp chí dân chủ và pháp luật năm 2007.
Có thể nhận thấy các công trình nghiên cứu trên đã phần nào làm rõ được
một số vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐLĐ vô hiệu, cung cấp cho người đọc hiểu
biết cơ bản về vấn đề HĐLĐ vô hiệu như căn cứ xác định HĐLĐ vô hiệu, tuyên bố
HĐLĐ vô hiệu và xử lý HĐLĐ vô hiệu. Tuy nhiên việc nghiên cứu một cách
chuyên sâu về vấn đề xử lý HĐLĐ vô hiệu lại chưa được đặt ra trong khi đây lại
chính là những khúc mắc chủ yếu trong việc giải quyết một HĐLĐ vô hiệu. Cùng
với việc BLLĐ 2012 có hiệu lực đã dành một mục để quy định về HĐLĐ vô hiệu
đã cho thấy tầm quan trọng của nó trong quan hệ lao động. Luận văn sẽ là công
trình mới nghiên cứu vấn đề xử lý HĐLĐ vô hiệu dựa trên các quy định hiện hành
để đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp hoàn thiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là thông qua tìm hiểu, phân tích và đánh giá
thực trạng pháp luật về lí luận và thực tiễn xử lý HĐLĐ vô hiệu.Từ đó luận văn đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý
HĐLĐ vô hiệu.
Cụ thể, Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về HĐLĐ vô hiệu: Khái
niệm HĐLĐ và HĐLĐ vô hiệu; các loại HĐLĐ; nguyên nhân vô hiệu của HĐLĐ;
tuyên bố HĐLĐ vô hiệu và xử lý HĐLĐ vô hiệu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về hợp đồng lao động vô hiệu và xử lý hợp
đồng lao động vô hiệu.
Chương 2. Thực trạng về xử lý hợp đồng lao động vô hiệu ở Việt Nam.
Chương 3. Hướng hoàn thiện pháp luật lao động về xử lý hợp đồng lao động
vô hiệu.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU
VÀ XỬ LÝ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU
1.1. Khái niệm, phân loại và tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng lao động và hợp đồng lao động vô hiệu
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá. Người lao động có
quyền làm việc (bán sức lao động) cho bất kỳ người sử dụng lao động nào, ở bất kỳ
nơi nào mà pháp luật không cấm. Còn người sử dụng lao động có quyền lựa chọn,
tuyển dụng lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình. Việc
tuyển dụng lao động hiện nay được thực hiện dưới một số hình thức: bầu cử, biên
chế nhà nước và hợp đồng lao động. Mỗi hình thức tuyển dụng lao động này được
áp dụng trong một phạm vi nhất định phù hợp với tính chất của quá trình sử dụng
lao động. Song về bản chất, chúng đều dựa trên những quy định của pháp luật. Qua
những quy định đó, nhà nước tạo ra môi trường pháp lý để các bên tham gia vào
quan hệ lao động, đồng thời là cơ sở bảo đảm quyền tự do làm việc của công dân.
Trong các hình thức tuyển dụng lao động đó, hợp đồng lao động là hình thức tuyển
dụng lao động chủ yếu và phổ biến. Bởi vì, so với các hình thức tuyển dụng lao
động khác, việc tuyển dụng lao động theo HĐLĐ được áp dụng trong phạm vi và
đối tượng rộng rãi hơn, nó bảo đảm quyền tự do tuyển dụng lao động của người sử
dụng lao động và tự do lựa chọn việc làm của người lao động
- HĐLĐ chịu sự điều chỉnh của thỏa ước lao động và pháp luật lao động.
HĐLĐ được hiểu là một sự thỏa thuận, tức là sự thể hiện ý chí của các bên
chấp nhận sự ràng buộc xoay quanh vấn đề việc làm có trả lương. Tuy nhiên không
phải mọi HĐLĐ đều có hiệu lực pháp lý và được nhà nước công nhận, bảo vệ.
Chính vì vậy khái niệm HĐLĐ vô hiệu được sử dụng khá phổ biến trong khoa học
pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp về HĐLĐ.
Theo từ điển tiếng Việt, “vô hiệu” có nghĩa là không có hiệu lực pháp luật
[28]. Như vậy, HĐLĐ vô hiệu được hiểu là một hợp đồng không có giá trị pháp lý
và không có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên giao kết. Trong khoa học
pháp lý khái niệm HĐLĐ vô hiệu được dung để chỉ tình trạng một hợp đồng trái
với ý chí của các bên hoặc trái với điều kiện có hiệu lực của pháp luật hoặc không
có hiệu lực ràng buộc các bên. Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu có nghĩa phần bị
tuyên vô hiệu đó không được pháp luật thừa nhận kể từ khi ký kết. Theo tác giả
Phạm Công Bảy trong cuốn “Soạn thảo, ký kết HĐLĐ và giải quyết tranh chấp lao
động” cho rằng “HĐLĐ vô hiệu là HĐLĐ vi phạm các quy định của pháp luật về
HĐLĐ hoặc có nội dung trái với các thỏa ước đang áp dụng trong doanh nghiệp”
[3], nói cách khác “việc giao kết HĐLĐ mà vi phạm các quy định của BLLĐ là trái
pháp luật và bị coi là vô hiệu” [3]. Trong chuyên đề bàn về hiệu lực của HĐLĐ và
việc xử lý hợp đồng vô hiệu, tác giả Phạm Thị Chính đưa ra các yêu cầu để xác định
một HĐLĐ có hiệu lực và từ đó xác định HĐLĐ vô hiệu là hợp đồng không đáp ứng
đầy đủ các yêu cầu có hiệu lực của hợp đồng. Các yêu cầu bảo đảm hiệu lực của
HĐLĐ gồm: Yêu cầu về nguyên tắc giao kết, nội dung chủ yếu của hợp đồng, các
hành vi pháp luật cấm, yêu cầu về chủ thể (độ tuổi của NSDLĐ, NLĐ, thẩm quyền
giao kết hợp đồng), yêu cầu về hình thức của hợp đồng, yêu cầu về cấp phép đối với
người lao động nước ngoài [9]. Quan điểm trên cũng giống với quan điểm của tác giả
Lê Thị Hoài Thu cho rằng: “HĐLĐ vô hiệu là hợp đồng không đảm bảo các điều kiện
có hiệu lực của pháp luật. Do vậy nếu HĐLĐ vi phạm một trong các điều kiện về chủ
thể, nguyên tắc giao kết hoặc có nội dung trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể
ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội hội tới mức không thể để hợp đồng đó phát
sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai bên.
HĐLĐ vô hiệu từng phần được hiểu là hợp đồng có một hoặc một số nội dung
bị coi là trái pháp luật nhưng phần vi phạm này không ảnh hưởng đến những phần
còn lại trong hợp đồng hay các nội dung khác đúng pháp luật vẫn có giá trị thực
hiện. Điều này có nghĩa phần thỏa thuận đúng pháp luật vẫn phát sinh hiệu lực, phần
vô hiệu không có giá trị ràng buộc hai bên và nó có thể bị hủy bỏ hoặc sửa đổi cho
đúng quy định của pháp luật. Trường hợp HĐLĐ vô hiệu từng phần khi nội dung
của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của
hợp đồng. Trong trường hợp một phần nội dung của hợp đồng lao động quy định
quyền lợi của người lao động thấp hơn quy định trong pháp luật về lao động, nội quy
lao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của hợp đồng lao
động hạn chế các quyền khác của người lao động thì một phần nội dung đó bị vô
hiệu [26, Điều 50].
- Dựa trên nguyên nhân của HĐLĐ vô hiệu có thể phân thành các loại
HĐLĐ vô hiệu sau:
Hợp đồng lao động vô hiệu do vi phạm điều kiện chủ thể: Là loại
HĐLĐ được giao kết khi các bên không có hoặc không đủ thẩm quyền theo
quy định của pháp luật. Hay nói cách khác chính là năng lực ký kết của hai bên
gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động. Về phía NSDLĐ thông
thường do người đại diện của NSDLĐ và người đại diện là cá nhân hoặc
NSDLĐ là cá nhân phải đủ 18 tuổi trở lên, có các điều kiện về thuê mướn, sử
dụng lao động. Đối với NLĐ là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động
và có khả năng giao kết hợp đồng lao động, riêng người chưa đủ 15 tuổi thì
phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
Theo Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (1990): “Phải xét đến các điều
khoản thích hợp của các văn bản quốc tế khác để quy định một hoặc nhiều độ tuổi
được nhận vào làm việc” [16, Điều 32]. Công ước của Tổ chức lao động quốc tế
dưới 14 tuổi được làm việc từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều trong hoặc cho một doanh
nghiệp, trẻ em dưới 12 tuổi không được phép làm một số công việc [20].
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Minh Ái (2013), Hợp đồng lao động vô hiệu, không phải bồi thường, Báo đời
sống và pháp luật, Hà Nội.
2.
Phạm Công Bảy (2004), “Vấn đề hợp đồng lao động vô hiệu trong giải quyết các
tranh chấp lao động tại tòa án”, Tạp chí tòa án nhân dân, (3), tr.27.
3.
Phạm Công Bảy (2005), Soạn thảo, ký kết HĐLĐ và cách giải quyết tranh
chấp về HĐLĐ, tr.121-122, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4.
Nguyễn Hữu Chí (2004), “Hợp đồng lao động vô hiệu”, Tạp chí Tòa án nhân
dân, (3), tr.5.
5.
Ngô Quốc Chiến (2012), “Góp ý sửa đổi Bộ luật Dân sự: Chế định nào cho
các nghĩa vụ tiếp tục tồn tại sau khi hợp đồng chấm dứt?”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, (3).
học, Trường Đại học kinh tế - Luật, TP Hồ Chí Minh.
13. Đào Thu Hằng (1999), “Mấy ý kiến về Hợp đồng lao động vô hiệu”, Tạp chí
Luật học, (5), tr.24.
14. Hội đồng Nhà nước (1990), Pháp Lệnh Hợp đồng lao động, Hà Nội.
15. (ILO) (1973), Công ước về tuổi tối thiểu được đi làm việc.
16. (ILO) (1990), Công ước về quyền trẻ em.
17. (ILO) (1996), Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và các khái niệm liên quan, văn
phòng lao động Quốc tế Đông Á, Băng Cốc.
18. (ILO) (2004), Một số công ước và khuyến nghị, NXB Lao động và Xã hội, Hà
Nội.
19. Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt
Nam, tr.38, NXB Tư pháp, Hà Nội.
20. Trần Thắng Lợi (2011), “Pháp luật quốc tế về tuyển dụng, sử dụng lao động
trẻ em”, Tạp chí tòa án nhân dân, (2).
21. Phạm Thị Thuý Nga (2009), Hợp đồng lao động vô hiệu theo pháp luật lao
động Việt Nam hiện nay, tr 41, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường đại học
Quốc gia Hà Nội.
22. Nghị Viện Hàn Quốc (1997), Luật tiêu chuẩn lao động Hàn Quốc 1997.
23. Quốc Hội (1995), Bộ Luật Lao Động, Hà Nội.
24. Quốc hội (2002), Bộ Luật Lao động Việt Nam 1995, sửa đổi bổ sung năm
2002, 2006 và 2007, Hà Nội.
25. Quốc Hội (2005), Bộ Luật Dân sự Việt Nam, Hà Nội.
26. Quốc hội (2012), Bộ Luật Lao động Việt Nam, Hà Nội.
27. Sở LĐTB&XH (2011), Báo cáo đánh giá tổng kết 15 năm thi hành bộ luật lao
động, Hà Nội.
28. Thanh tra bộ lao động thương binh và xã hội (2014), Báo cáo tổng kết công
tác năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014, Hà Nội.
29. Nguyễn Thị Thạo (2006), Hợp đồng lao động vô hiệu theo pháp luật Việt Nam,