A.
1.
PHẦN MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.
Văn học thiếu nhi là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn học
của mỗi dân tộc. Cùng với các loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc,
hội họa...văn học thiếu nhi là một trong những yếu tố quan trọng hình
thành nên tâm hồn và nhân cách mỗi người ngay từ tuổi ấu thơ. Và
cũng chính bộ phận văn học thiếu nhi đã góp phần quan trọng tạo nên
sự hoàn chỉnh cho diện mạo của nền văn học mỗi dân tộc trên thế
giới.
Văn học thiếu nhi Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển muộn hơn
so với văn học thiếu nhi các nước khác. Trước 1945, thiếu nhi và văn học
cho thiếu nhi chưa thực sự được quan tâm. Phạm vi đọc, tiếp cận với văn
học của trẻ em chỉ là các tác phẩm văn học dân gian, một số tác phẩm thiếu
nhi dịch từ nước ngoài...và lại bị bó hẹp trong một số đối tượng. Phải đến
những năm đầu thập kỷ bốn mươi của thế kỷ XX, đặc biệt là sau năm 1945,
văn học thiếu nhi mới thực sự phát triển mạnh mẽ. Mặc dù mới trải qua hơn
nửa thế kỷ nhưng có thể nói, cho đến nay, văn học thiếu nhi Việt Nam đã có
những thành tựu đáng kể, giữ vai trò quan trọng trong nền văn học dân tộc.
Tuy nhiên nghiên cứu về văn học thiếu nhi vẫn chưa thực sự được nhiều
người quan tâm.
1.2.
Ở nước ta văn thơ viết cho thiếu nhi ngày càng phát triển với đội ngũ
sáng tác ngày càng đông đảo như: Võ Quảng, Phạm Hổ, Định Hải,
Dương Thuấn, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Vĩ
Dạ...Trong đó Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu.
trưa, bài truyện cổ tích loài người . Với tấm lòng yêu thích ngưỡng mộ đối với một
tài năng thơ văn, cùng với niềm yêu thích thơ văn thiếu nhi tôi đã mạnh dạn lựa
chọn đề tài:
“Sáng tác dành cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh ”.
2.
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Như chúng ta đã biết thơ văn viết cho thiếu nhi luôn giữ một vị trí đáng kể
trong nền văn học chung của nhân loại. Vì thế, thơ văn viết cho thiếu nhi luôn
là vấn đề được nhiều nhà phê bình, nghiên cứu quan tâm. Nhưng ở bài viết này,
tôi xin đề cập đến những bài viết đánh giá về thơ văn viết cho thiếu nhi của
Xuân Quỳnh - nhà thơ nữ sinh ra để cho thơ và cho tình yêu.
2.1.
Tác giả Vân Thanh, một trong những nhà nghiên cứu tiêu biểu, tâm
huyết với văn học thiếu nhi, coi việc nghiên cứu văn học thiếu nhi là
sự nghiệp của cả đời mình, trong bài viết Xuân Quỳnh với thơ thiếu
nhi đã khẳng định “thơ viết cho thiếu nhi (...) là một bộ phận quan
trọng làm nên sự nghiệp của nhà thơ nữ đặc sắc Xuân Quỳnh”. Bài
viết đã chỉ ra những đặc trưng tạo nên nét đặc sắc và phong cách trong
sáng tác thơ cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh. Điều đó được thể hiện ở
tình mẫu tử thiêng liêng “là thiên thần, là đối tượng che chở và cũng
là điểm tựa tinh thần ” trong tư cách làm mẹ của Xuân Quỳnh: ở ý
nghĩa giáo dục sâu sắc “ không có sự cao đạo, lên giọng, truyền
giảng”, “không phải là lối nhại mượn bắt chước, cưa sừng làm
nghé,” mà là cách “nói chính lời trẻ thơ, nghĩ cách nghĩ trẻ thơ. Rồi
lại có thể tách ra khỏi trẻ thơ, để ngụ vào đấy một triết lý hồn nhiên
cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh đó là “nhìn mọi vật bằng con mắt trẻ thơ”
và “mỗi bài thơ đều mang một ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng” [96,517].
* Vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh (trong đó có thơ thiếu nhi) được tác giả Nguyễn
Xuân Nam cảm nhận từ các tập Chồi biêc, Hoa dọc chiến hào, Gió lào cát trắng,
và Lời ru trên mặt đất. Ngợi ca vẻ đẹp của những bài thơ viết trong chiến tranh,
nhà thơ không quên ngợi ca vẻ đẹp của những bài thơ viết cho thiếu nhi là
“người mẹ điều giàu có nhất của xuân quỳnh là tình thương’’, “có tình thương,
có nghệ thuật, người phụ nữ mới thấy hết hạnh phúc của mình ”.[96,593]. Để
chứng minh điều đó tác giả Xuân Nam đã trích dẫn ra một số bài tiêu biểu viết
cho thiếu nhi trong các tập thơ trên như: Mùa xuân mừng con thêm một tuổi,
Cắt nghĩa, Con chả biết được đâu, Con yêu mẹ, Mùa đông nắng ở đâu, Chuyện
cổ tích về loài người, Cái ngoan của Mí...
* Tác giả Chu Nga trong tạp chí văn học số 1/1973 đã gọi Xuân Quỳnh là
một chồi thơ sắc biếc và dự đoán tài năng thơ này sẽ đi xa hơn. Tác giả Thiếu
Mai cũng khẳng định đây là một tài năng đang độ chín trên phương diện thơ
ca.Trong bài viết trên TCVH 1/1983. Nhà phê bình Vương Trí Nhàn mượn lời
đối thoại với bạn thơ Phạm Tiến Duật để phát hiện một hồn thơ Xuân Quỳnh “ý
thức về thời gian, cảm giác về hạnh phúc” mà hạnh phúc ấy xuất phát từ trong
những cảm xúc rất đời thường trong đó có thơ văn viết cho thiếu nhi.
2.2. Ngoài ra còn một số ý kiến đề cập đến mảng sáng tác truyện viết cho
thiếu nhi của Xuân Quỳnh. Bàn đến mảng sáng tác văn xuôi cho thiếu nhi của
Xuân Quỳnh, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Bình có bài viết: đọc Vẫn có ông trăng
khác và một kỉ niệm với Xuân Quỳnh. Trong khi bày tỏ cảm xúc và những đánh
giá đối với tập truyện Vẫn có ông trăng khác, tác giả khẳng định cả thơ và
truyện thiếu nhi của Xuân Quỳnh đều “mang bản sắc sáng tạo ”, “ ta luôn bắt
gặp vẻ đôn hậu của người mẹ từng trải và cái nhìn non tơ, run rẩy của tuổi thơ
mà người mẹ ấy trọn đời yêu mến ” [96, 540].
* Nhà văn Nguyễn Ngọc Tú nhận xét: “nhiều truyện của Xuân Quỳnh đọc
chính là điểm sáng trong những sáng tác của tác giả. Đồng thời, qua mảng
sáng tác này thấy được nét độc đáo đa dạng của thế giới hình tượng nghệ
thuật trong thơ văn Xuân Quỳnh. Đặc biệt, qua việc nghiên cứu thơ văn viết
về thiếu nhi của Xuân Quỳnh ta thấy thơ văn chị mang một vẻ đẹp của sự
trong trẻo vốn được chưng cất qua một tâm hồn đầy trải nghiệm với nhiều
cung bậc cảm xúc
3.2
. Phạm vi nghiên cứu
Văn học thiếu nhi Việt Nam chỉ thực sự hình thành và phát triển với tư
cách là một bộ phận của văn học Việt Nam từ sau năm 1945, đặc biệt là từ
sau khi NXB Kim Đồng được thành lập ngày 17/6/1957. Đội ngũ các nhà
thơ, nhà văn viết cho thiếu nhi đến nay khá đông đảo, tuy nhiên với đề tài:
sáng tác viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh, chúng tôi chỉ tiến hành tìm hiểu
trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật những bài thơ và truyện
ngắn tiêu biểu viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh.
Tìm hiểu thơ văn viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh kết hợp với những
vần thơ trữ tình trong hệ thống sáng tác của chị sẽ làm nổi bật rõ một hồn
thơ Xuân Quỳnh đằm thắm rất gần với cuộc sống, sống tựa như hơi thở.
4.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã kếp hợp sử dụng các phương pháp cơ
bản sau .
- Phương pháp tổng hợp tư liệu: Chúng tôi tiến hành sưu tầm, tập hợp tư liệu gắn
với các tiêu chí lý luận, sắp xếp theo hệ thống giúp cho việc nghiên cứu, khảo sát
Chương I: Xuân Quỳnh và con đường đến với sáng tác dành cho thiếu nhi
1.
Xuân Quỳnh và hành trình sáng tác
Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 04/10/1942
tại La Khê - Hoài Đức - Hà Tây, nay thuộc thị xã Hà Đông Hà Nội. Xuân
Quỳnh sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học, cha từng là
thầy giáo ham thích văn chương. Xuân Quỳnh mồ mẹ từ nhỏ, kí ức về mẹ
được truyền lại từ người chị gái là Đông Mai. Mặc dù chỉ được học đến lớp
sáu nhưng ngay từ nhỏ Xuân Quỳnh đã sớm bộc lộ tài năng văn chương.
Xuân Quỳnh chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người cha, một nhà giáo yêu văn
học. Cô gái bé bỏng ấy thường được bà và chị cho nghe nhiều ca dao, thơ và
truyện cổ dân gian. Phong tục và cảnh sắc, nếp sống làng La Khê nổi tiếng
về tơ lụa đã để lại dấu ấn đậm nét trong cá tính và phong cách thơ Xuân
Quỳnh sau này.
Tháng 2/ 1955, Xuân Quỳnh gia nhập đoàn ca múa nhạc TW và trở thành
một diễn viên múa. 1959 chị được tham gia Festival Thanh niên và sinh viên
thế giới và Ấn Độ. Từ liên hoan này Xuân Quỳnh được nổi lên trên nền sân
khấu Việt Nam như một bông hoa Quỳnh của nghệ thuật múa.
1962, tập thơ đầu tay của Xuân Quỳnh được in chung cùng Cẩm Lai có
tên “Chồi biếc”. Sau tập thơ này Xuân Quỳnh đã trở thành một tác giả quen
thuộc bạn đọc. Xuân Quỳnh trở thành biên tập viên của Nhà Xuất Bản Văn
học và từ đó chị là một tác giả trong làng văn.
Khi nhắc tới Xuân Quỳnh không thể không nhắc tới nhà biên kịch tài
năng Lưu Quang Vũ người bạn đời đã cùng chị đi suốt mười lăm năm cuối
đời. Xuân Quỳnh mất ngày 29/8/ 1988 trong một tai nạn giao thông tại chân
cầu Phú Lương tỉnh Hải Dương cùng chồng và con trai Lưu Quỳnh Thơ.
chiến sự ác liệt và cả những nơi xa xôi như vùng địa cầu của tổ quốc như Cà
Mau, các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Dù ở đâu chị cũng hăm hở đi và viết và
gặt hái những thành công nhất định.
Các tập thơ của chị được độc giả đón nhận nồng nhiệt như:
Chồi biếc - 1963
Hoa dọc chiến hào - 1968
Gió lào cát trắng - 1974
Lời ru trên mặt đất - 1978
Chờ trăng - 1981
Bầu trời trong quả trứng - 1982
Truyện Lưu Nguyễn( truyện thơ) - 1983
Tự hát - 1984
Sân ga chiều em đ i- 1984
Hoa cỏ may - 1989
Văn xuôi
Bao giờ con lớn - 1974
Chú gấu trong vùng đu quay - 1978
Mùa xuân trên cánh đồng - 1981
Bến tàu trong thành phố - 1984
Vẫn còn ông trăng khác - 1982
Riêng tập thơ “bầu trời trong quả trứng” được giải chính thức giải thưởng
văn học thiếu nhi 1981 - 1993
Qua việc khảo sát và tìm hiểu về sự nghiệp thơ văn Xuân Quỳnh ta thấy:
Con đường thơ của Xuân Quỳnh có đôi nét khác biệt so với các bạn thơ của
chị. Sau khoảng mười lăm năm làm thơ, ta nhận thấy chị có một bước
chuyển khá rõ rệt. Ở chị, có hai dòng thơ: Dòng thơ cho người lớn (tạm gọi
Có thể nói Xuân Quỳnh đến với các em bằng một tình yêu thực sự, một tâm
nguyện được trở thành nhà thơ của các em. Chiếc cầu nối chị với các em không gì
khác hơn chính là các con của chị : Tuấn Anh, Minh Vũ, Quỳnh Thơ. Những đứa
con chính là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn của Quỳnh. Đặc biệt với tuổi
thơ nhọc nhằn, thiếu thốn tình cảm: mẹ mất sớm bố công tác xa nhà, dù được bà
hết lòng thương yêu nhưng với một trái tim đầy nhạy cảm, Xuân Quỳnh ý thức
được sự thiếu vắng của những giai âm hạnh phúc mà lẽ ra chị được hưởng. Sự
thiếu thốn tình cảm đã làm nảy sinh những khát khao, về sau trở thành nguồn cảm
hứng mở ra những sáng tạo vô bờ bến.
Thơ cũng như văn Xuân Quỳnh viết cho các em rất giản dị, giản dị đến độ
đọc nó, ta không nghĩ là tác giả làm thơ viết văn mà ta cứ bị thu hút vào trong thế
giới trẻ thơ một cách tự nhiên. Cứ nhìn qua nhường như những bài thơ bốn chữ,
năm chữ, sáu chữ, lục bát tám chữ của chị không có nét gì mới mẻ. Song, điều
đáng chú ý là chị thường vận dụng các thể thơ truyền thống ấy một cách thoải mái,
vần điệu cứ tự nhiên mà đến. Được như vậy không phải dễ. Phải có sự nhuần
nhuyễn trong suy nghĩ, cảm xúc, và phải chọn đúng thể thơ phù hợp với nội dung
vấn đề mình định miêu tả. Cái mới ở đây chính là cách nhìn, cách cảm nghĩ đầy
tính chất khám phá, phát hiện và ở cách nói, cách dẫn dắt câu chuyện, cách vận
dụng ngôn ngữ phù hợp với trình độ tiếp thu và hứng thú của lứa tuổi.
Có thể nói thơ văn viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh không chỉ làm phong
phú thêm tâm hồn con trẻ, nuôi dưỡng những tình cảm đẹp cho các em, mà đối với
người lớn chúng ta, chị đã thực sự làm sống dậy trong ta cái nhìn, và cảm xúc tươi
non, trong trẻo mà đôi khi ta đã tự vùi lấp đi trong cuộc sống bận rộn, bộn bề công
việc
2.
Con đường đến với những sáng tác dành cho thiếu nhi
văn ấy trước hết lại dành cho chính những đứa con thân yêu của
họ. Con chính là thứ tài sản vô giá của người mẹ. Vì vậy nhà
thơ Đoàn Thị Luyến đã khẳng định:
gia tài của mẹ/
Là con đấy thôi.
Đặc biệt đối với Xuân Quỳnh niềm hạnh phúc được làm mẹ
luôn ấp ủ trong tâm hồn người phụ nữ và được thể hiện ngay cả
khi đứa con chưa chào đời. Mang trong mình một sinh linh nhỏ
bé, người mẹ đi đâu, làm gì dường như cũng nghĩ đến con –
nghĩ đến niềm vui, niềm hạnh phúc sắp được làm mẹ:
Mẹ đi trên hè phố
Nghe tiếng con đạp thầm
Mẹ nghĩ đến bàn chân
Và con đường tít tắp
Bỗng như lên tiếng hát
Từ màu mạ dưới đồng
Từ hạt cây trong rừng
Từ cánh buồm trong biển
( Con chả biết được đâu )
Thật tinh tế vô cùng và phải yêu con biết chừng nào
thì Xuân Quỳnh mới cảm nhận được cả nhịp đập của trái tim
con trẻ khi còn đang buổi bình minh.
Khi Tuổi thơ con không được bình yên trong những năm
tháng chiến tranh, người mẹ thương con nhưng cũng luôn hy
vọng và có niềm tin ở phía trước:
“ Ba tháng lẫy, bảy tháng ngồi
Con chơi với đất, con chơi với hầm
Mong ngày, mong tháng, mong năm
Và cuối cùng vẫn về với mẹ:
Dẫu cách núi cách rừng
Dẫu cách sông cách biển
Con tìm về với mẹ
Ngựa con vẫn nhớ dường.
Từ những rung động đời thường sâu sắc, Xuân Quỳnh đã viết
nên những tác phẩm văn học thiếu nhi giàu tình mẫu tử.
Trong thơ ca viết cho thiếu nhi, chủ đề này được khai
thác khá nhiều và thật sự có nhiều thành tựu . Thơ Xuân Quỳnh
là sự tiếp nối trên tinh thần mong muốn tạo một dấu ấn riêng
của tác giả. Đọc chị ta thấy thế giới được ngắm nhìn qua lăng
kính tình mẹ con . Như chuyện chú gà con ra đời , chị cũng tìm
thấy ở đó cái lí do tình mẹ con: gà mẹ thì thương con, cứ ấp iu
suốt ngày khiến cho thân thể xác xơ, gà con vì thương mẹ mà
đạp vỏ trứng ra tự nhiên đi kiếm ăn. (Vì sao gà con ra) Hay cái
tròn khuyết của vầng trăng cũng được chị cắt nghĩa bằng tình
mẹ con: Trăng khuyết là trăng mẹ hao gầy vì con chưa ngoan
(Mặt trăng luôn luôn tròn). Tiêu biểu nhất phải kể đến bài thơ:
Con yêu mẹ:
“- Con yêu mẹ bằng ông trời
Rộng lắm không bao giờ hết
Thế thì làm sao con biết
Là trời ở những đâu đâu
Trời rộng lại rất cao
Mẹ mong, bao giờ con tới ?”
Bài thơ được xây dựng theo lối cấu trúc đối đáp với giọng điệu
thủ thỉ tâm tình. Đứa con bày tỏ tình cảm của mình với mẹ bằng
những ví von: con yêu mẹ bằng ông trời, rồi con yêu mẹ bằng
thực sự giữa chị với tâm hồn cách nghĩ cách cảm, cách nghĩ đầy
ngây thơ trong trẻo trong tâm hồn con trẻ. Sự đồng điệu đó thể
hiện rất rõ trong những bài hát ru mà Xuân Quỳnh gửi gắm cả
niềm tin vào đó. Tiếng ru của Xuân Quỳnh là tiếng hát của một
tâm hồn say mê sôi nổi, lời ru của Xuân Quỳnh thật khỏe khoắn
và trẻ trung. Lời ru là một hình thức và phương tiện thơ ca thích
hợp để biểu hiện phần sâu lắng và đằm thắm của hồn thơ chị.
Xuân Quỳnh dùng hình thức câu thơ tám chữ với âm
hưởng lời ru để nói về tình mẫu tử thiêng liêng cao cả qua bản
năng yêu thương và che trở cho con thơ luôn thường trực khiến
lời ru của Xuân Quỳnh cũng phấp phỏng những âu lo:
Con thức ban ngày mẹ trở che cho con
Đêm con mơ làm sao mẹ che trở
Trong giấc mơ chỉ mình con bé nhỏ
Chỉ mình con chơ trọi với quân thù
...Nếu giấc mơ là ngôi nhà cửa mở
Mẹ sẽ vào che trở giấc mơ con
(Lời ru)
Tình mẫu tử ở những câu thơ này thật cảm động. Cái ước
mơ “Nếu giấc mơ là ngôi nhà cửa mở /Mẹ sẽ vào che trở giấc
mơ con” nói với chúng ta biết bao điều về tấm lòng người mẹ.
Yêu thương đến khát khao được che trở cho con trong cả giấc
mơ là cách thể hiện tình mẫu tử đầy mới mẻ và sâu sắc của
Xuân Quỳnh. Có thể nói lời ru trong thơ chị là một biểu hiện
sâu lắng của tình mẫu tử tiếng ru xuất phát từ tâm hồn người mẹ
yêu con tha thiết và yêu đời đến cháy bỏng. Ở một phương diện
nào đó nó còn là tiếng lòng bày tỏ của nhà thơ thể hiện rõ cái
Tôi trữ tình đằm thắm rất riêng mà qua mỗi trang thơ Xuân
bến, không thiên vị của Má Quỳnh đã là sợi dây vô hình thắt chặt hơn tình cảm anh
em của Tuấn Anh, Minh Vũ và Quỳnh Thơ.
Tình mẹ con vốn là tình cảm quen thuộc trong đời sống và thơ văn Xuân Quỳnh
vẫn mang lại cho người đọc những điều mới mẻ và xúc động. Ngoài tình yêu
thương con vô bờ bến như những người mẹ khác, Xuân Quỳnh còn có tấm lòng độ
lượng, bao dung, trí tuệ thông minh, sắc sảo của riêng mình. Chính đó là chiếc chìa
khóa giúp chị đến được, nhìn thấu được và phát hiện được nhiều ở thế giới vốn
đẹp, lung linh và rất động trong tâm hồn tuổi thơ. Từ đó, tạo nên vẻ đẹp, nét đặc
sắc riêng trong những trang viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh.
2.1.
Từ những nhạy cảm lo âu thường nhật
Đứa con là sản phẩm tinh thần của sự kết hợp tuyệt vời giữa
người đàn ông và người đàn bà, tuy nhiên cách gắn bó và cách thể
hiện tình cảm của mỗi người có sự khác nhau. Xét ở một khía cạnh
nào đó, người phụ nữ có sự gắn bó với trẻ em hơn nam giới. Hầu như
bất kỳ người phụ nữ nào cũng mang sẵn trong mình thiên chức của nữ
giới: bản năng làm mẹ. Bản năng ấy không chỉ được thể hiện trong
niềm vui, niềm hạnh phúc khi em bé chào đời khi chứng kiến sự khôn
lớn, trưởng thành từng ngày, từng giờ của con mà còn được thể hiện ở
những nhạy cảm lo âu thường nhật.
Những nhạy cảm lo âu của người phụ nữ trước tiên được thể
hiện ở sự lo lắng, che chở cho con của người mẹ. Nếu người đàn ông
lo lắng che trở cho con ở những vấn đề lớn, họ mong con sớm trưởng
thành, tự lập thì Xuân Quỳnh lo lắng bắt đầu bằng từ những điều bình
thường nhất:
“Chúng tôi chỉ là những người đàn bà bình thường không tên
Từ bãi sông cát vắng.
(Chuyện cổ tích về loài người )
Người cha có thể lo cho con một cuộc sống vật chất đầy đủ, lo xây dựng cho con
những hiểu biết cơ bản, những tính cách thích hợp để sau này con bước vào đời,
Nhưng Xuân Quỳnh, với đặc trưng tâm hồn thiên về cảm xúc, tình cảm nên có
những lo lắng cho con từ những điều bình thường nhỏ nhặt nhất. Xuân Quỳnh lo
cho con từng ly, từng tý. Con bước chân ra khỏi nhà lòng người mẹ lại lo lắng
không yên: “Con ra khỏi nhà mẹ lo cái cầu ao/ Con chó dữ, cành cây giòn dễ ngã.
Không chỉ vậy Chị còn lo lắng cho con trong cả những giấc mơ khi con ngủ: Con
thức ban ngày mẹ che chở cho con/ Đêm con mơ mẹ làm sao che chở/ Trong giấc
mơ chỉ mình con bé nhỏ/ Chỉ mình con chống trọi với quân thù. Để rồi họ nảy ra
những ước mong khó thành hiện thực “Nếu giấc mơ là ngôi nhà cửa mở/ Mẹ sẽ
vào che chở cho con” (Dải đất thuộc về tôi).
Trong cuộc đời, mỗi con người có biết bao nhiêu điều phải lo lắng nghĩ suy:
lo sự nghiệp, lo gia đình, lo sức khỏe... Là phụ nữ , những lo lắng ấy đã trở thành
bản năng gắn sâu vào tâm hồn, tình cảm họ, nhất là những nỗi lo âu, trăn trở đó lại
dành cho những người họ yêu thương. Hạnh phúc được làm vợ, làm mẹ rồi lo lắng,
muốn chở che cho con, đó chính là “bản năng” là phẩm chất hàng đầu của nữ sĩ
Xuân Quỳnh.
Sự đồng cảm sẻ chia, băn khoăn, trăn trở trước những số phận, những cảnh
ngộ éo le được thể hiện trong cả sáng tác thơ văn của Xuân Quỳnh viết cho thiếu
nhi. Trẻ em thường gắn với những tâm hồn ngây thơ, hồn nhiên, được yêu thương
lo lắng, được chăm sóc, chở che. Thế nhưng vì những lý do khác nhau mà không
phải bất kỳ tuổi thơ nào cũng được êm đềm trôi trong tình yêu thương, lo lắng của
cha mẹ và ông bà. Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi trước hết băn khoăn, trăn trở về
những bi kịch, những cảnh ngộ éo le xuất phát từ phía gia đình. Điều này được thể
hiện rõ nét trong những vần thơ văn viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh
Trong văn xuôi viết cho thiếu nhi, Chị dựng lên hình ảnh một bà tôi đáng
văn là cảm hứng. Cảm hứng ấy không chỉ chi phối quá trình sáng tác của nhà văn
mà còn ảnh hưởng lớn đến các lớp nội dung của tác phẩm. Có thể thấy niềm say
mê nghệ thuật và tình yêu dành cho thiếu nhi chính là nguồn cảm hứng quan trọng
trong thơ văn của Xuân Quỳnh.
A.
Trong thơ
Nổi bật trong thơ viết cho thiếu nhi Xuân Quỳnh là những vần thơ
bộc lộ tình yêu thương tha thiết ,những vần thơ gắn với ký ức tuổi thơ
và những vần thơ mang ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu sắc.
1.
Những vần thơ bộc lộ tình yêu thương tha thiết
Cùng đọc lại những tác phẩm viết cho thiếu nhi của Andersen, Mark Twain,
Selma Lagerloff... ta đều thấy người lớn, đều chứa đựng và động chạm những
vấn đề nghiêm trọng trong cuộc sống. Những vấn đề đó được các tác giả
chiêm nghiệm bằng sự từng trải sâu sắc để có thể nói nó một cách
giản dị, trong sáng tinh vi mà nhẹ nhàng, hóm hỉnh hay ngây thơ nhất
theo cách của trẻ em. Ai trong chúng ta đều biết trẻ em là những sinh
linh rất động, rất nhạy cảm, vì vậy tâm hồn các em cũng vô cùng nhạy
bén. Viết cho các em phải tìm ra cho những phát hiện bất ngờ bằng
chính những cảm xúc mới mẻ về thế giới trong trẻo. Trong những vần
thơ viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh người đọc thấy lấp lánh một
tâm hồn yêu trẻ tha thiết. Thơ Xuân Quỳnh luôn tràn đầy tình cảm
của người mẹ dành cho con
Lấy trẻ em làm nhân vật trung tâm, tập thơ “Bầu trời trong quả trứng” là sự
khám phá thú vị về thế giới thần tiên của tuổi thơ. Đặt mình vào thế giới đó, trong
bài thơ “Truyện cổ tích về loài người”, Xuân Quỳnh lý giải về nguồn gốc của sự
con, cho con”, bởi theo Xuân Quỳnh đứa con chính là lẽ sống, là hạnh phúc của
người mẹ.
“ Mẹ ơi, bông hoa kia
Là của ai hở mẹ
Cái màu xanh trên cửa
Kia nữa là của ai?...
… Là của con nữa đó
Cả mẹ cũng của con
Con ôm mẹ con hôn
-Của con sao nhiều thế?
-Ừ của con nhiều quá
Nhưng mẹ lại nhiều hơn”
Vì tất cả của con
Mà con là của mẹ
Xuân Quỳnh còn nhiều bài thơ thật cảm động về tình mẹ con, chị yêu con
bằng kinh nghiệm của một người mẹ đã sống trải qua thời chiến tranh, phải biết
giữ gìn, nuôi dưỡng con thơ giữa bao hiểm nguy bất trắc. Thương con, nhà thơ
cũng hiểu được sự thiếu thốn của con trẻ trong những năm tháng chiến tranh.
Tuổi thơ của trẻ cũng phải buộc làm quen với bom đạn, với đường hầm:
“ Tuổi thơ con có những gì
Có con cười với mắt tre trong hầm
Có làn gió sớm vào thăm
Có ông trăng rằm sơ tán cùng con”
Tình thương lẫn với lo âu, xót xa:
“….Ba tháng lẫy, bảy tháng ngồi
Con chơi với đất, con chơi với hầm
Mong ngày, mong tháng, mong năm