1
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thuế có vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia, đối với đời sống xã
hội và sự phát triển kinh tế của quốc gia đó. Thuế là công cụ hiệu quả để Nhà
nước điều tiết nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết
nhiều vấn đề kinh tế xã hội của đất nước, để điều tiết một phần tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu
chi tiêu chung của nhà nước và xã hội. Nó góp phần bảo đảm công bằng xã
hội và hội nhập quốc tế.
Hoạt động quản lý thuế là một hoạt động không thể thiếu trong việc
quản lý nền kinh tế - tài chính của đất nước, nhận thấy được tầm quan trọng
của nó,các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã đưa ra những chính sách,
biện pháp, giải pháp quản lý hữu hiệu nhất, pháp luật thuế nói chung và pháp
luật quản lý thuế nói riêng đã từng bước hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu đó.
Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế ở Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc, nhưng bên
cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót cần được khắc phục.Vì vậy
cần một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế thích hợp để
góp phần đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo tính dân chủ cao.
Qua quá trình học tập nghiên cứu Môn Luật Tài Chính, người viết nhận
thấy vấn đề quản lý thuế là một vấn đề hay, đang được xã hội quan tâm,bằng
những kiến thức được học tập và qua nghiên cứu tìm hiểu pháp luật thuế nói
chung và pháp luật quản lý thuế nói riêng,người viết chọn đề tài: “Giải pháp
tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật quản lý thuế tại Việt Nam” làm đề tài
khoá luận tốt nghiệp.
Chương I:
3
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ
VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ
1.1. Những vấn đề chung về quản lý thuế
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý thuế
1.1.1.1. Khái niệm
Quản lý là một phạm trù để chỉ những mối quan hệ và sự tác động qua
lại giữa các chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những
mục tiêu đề ra trong điều kiện có sự biến đổi của môi trường [5] . Quản lý
xuất hiện từ khi có hoạt động chung của con người. Tuỳ theo yêu cầu, mục
tiêu và phạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và những đối
tượng bị quản lý ở chõng mực nhất định. Nội dung quản lý thường bao gồm :
Lập kế hoạch; tổ chức bộ máy quản lý; đào tạo cán bộ xác lập biên chế cho tổ
chức, cho mỗi loai công việc; chỉ huy, động viên cán bộ làm việc theo các kế
hoạch, mục tiêu; kiểm tra....
Khái niệm QLT (quản lý thuế) cã thể hiểu theo 2 nghĩa nh sau :
Theo nghĩa rộng : quản lý thuế là quản nhà nước trong lĩnh vực thuế, là
quá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật
thuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luật
thuế; thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế...
Theo nghĩa hẹp : quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế,
là việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nép thuế; bao gồm các hoạt
động nghiệp vụ mang tính chất hành chính trong lĩnh vực thuế; là hoạt động
nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; b) Tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung
là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; c)
Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay
người nộp thuế.’’ Khoản 1, điều 2,LQLT.
Quy định này thể hiện tư tưởng xã hội hoá hoạt động QLT của nhà làm
luật, đây là xu hướng chung của công cuộc cải cách quản lý hành chính nhà
nước hiện nay. Mặt khác sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước
cũng là một trong 4 trụ cột cơ bản để quản lý nhà nước tốt (Ba trụ cột còn lại
là trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính tiên liệu). Tuy nhiên để thực
hiện được điều này thì trước tiên phải đổi mới tư duy của đội ngò cán bộ công
chức và xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch.
5
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.1.2. Đặc điểm của quản lý thuế
QLT bao gồm các đặc điểm sau :
Thứ nhất, QLT là một hoạt động nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi phải đảm
bảo lợi Ých của cả 2bên: nhà nước và người nép thuế. Đặc điểm này đòi hỏi
cơ quan QLT phải có những phương thức quản lý linh hoạt, không thể tuỳ
tiện đề ra các quy định có tính áp đặt, độc đoán. Lịch sử đã chứng minh
những bức xúc với chế độ thuế khoá có thể kéo theo những chuyển biến chính trị
rất căn bản.
Thứ hai, QLT là quản lý bằng pháp luật và theo pháp luật và các biện
pháp nghiệp vụ, biện pháp hành chính khác, trong đó pháp luật là công cụ chủ
yếu, là chuẩn mực buộc mọi người phải tuân theo, dù là người thu thuế hay
Mét là: Tiết kiệm thời gian, công sức của cán bộ QLT : cán bộ QLT
không phải mất thời gian tính toán số liệu trên tờ khai, số thuế phải nép,
không mất thời gian gửi thông báo thuế và đôn đốc thu nép.
Hai là: Tiết kiệm chi phí quản lý hành chính thuế : không phải gửi hàng
triệu thông báo thuế cho các đối tượng nép thuế, tiết kiệm chi phí in Ên, cước
phí bưu điện.
Ba là: Người nép thuế giảm thời gian chờ cơ quan thuế chấp nhận tờ
khai hàng tháng trước khi phát hành thông báo thuế.
Bốn là: Nâng cao trách nhiệm pháp lý của đối tượng chịu thuế, phải
chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của số liệu kê khai, tính chính
xác của việc tính toán chính xác số thuế phải nép.
Năm là: Tạo tiền đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế của cơ
quan thuế. Do không mất thời gian tính lại số thuế phải nép, gửi thông báo
thuế, cán bộ thuế có điều kiện tập trung thời gian, công sức cho các công việc
quản lý như công tác thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thu nép.
Ngoài ra, cơ quan QLT còn thực hiện quản lý thuế dùa trên kỹ thuật
quản lý rủi ro (quản lý theo mức độ tuân thủ của người nép thuế). Quản lý rủi
ro là việc dự đoán về những khả năng và mức độ hậu quả của sự việc có thể
xảy ra, qua đó áp dụng những biện pháp để làm giảm độ không an toàn và
thay đổi cách xem xét và hành động đối với sự việc đó. Dưới góc độ quản lý,
quản lý rủi ro là một phương pháp để phát hiện ra những yếu tố gây ảnh
hưởng xấu đến hiệu quả của công tác quản lý từ đó thay đổi cách xem xét và
hành động nhằm loại trừ hoặc làm giảm sự ảnh hưởng của những yếu tố
trên.Quản lý rủi ro trong QLT nghĩa là cơ quan QLT phải nghiên cứu hành vi
tuân thủ pháp luật của người nép thuế, trong đó tập trung vào các yếu tố bên
7
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
8
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
của cơ quan QLT được sắp xếp thành những bộ phận theo nhóm người nép
thuế, với các chức năng chuyên sâu nhằm quản lý và cung cấp dịch vụ cho
từng nhóm người nép thuế. Cơ quan QLT đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu và
đáp ứng nhu cầu của người nép thuế hơn là buộc người nép thuế phải đáp ứng yêu
cầu của mình.
1.2. Khái quát chung về pháp luật quản lý thuế
1.2.1. Khái niệm
Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện hệ thống thuế
thường được quan niệm như là những quy định về hình thức của pháp luật
thuế, bởi nó cú nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuế và quản lý
thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế. Hiểu theo
nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể
được gói gọn trong một thuật ngữ là “phỏp luật quản lý thuế” và tùy thuộc
vào quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ
luật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo
luật về quản lý thuế.
Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung
về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ. Trong bộ luật này, nhà làm luật vừa quy định
về nội dung cụ thể của các loại thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về
trình tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và
giải quyết các tranh chấp về thuế. Giải pháp này đã từng được áp dụng tại
Miền Nam Việt Nam trước năm 1975( Xem: Bộ luật thuế vụ, Nguyễn Hùng
Trương sao lục, Sài Gòn, 1972). Hiện tại, giải pháp này cũng đang được áp
toán thuế, truy thu và hoàn thuế là những hoạt động quan trọng trong quá
trình thực hiện chức năng quản lý thuế của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Trước đây, các hoạt động này thường được thực hiện bằng các quyết
định hoặc hành vi hành chính đơn phương của Nhà nước và bất chấp thái độ
của người nộp thuế. Hiện nay, quy trình này về cơ bản đã được thay đổi, theo
hướng dành quyền chủ động tối đa cho người nộp thuế trong việc tự đăng ký
thuế, tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế cho nhà nước, trên cơ sở chịu sự
kiểm tra, giám sát trực tiếp, thường xuyên của các cơ quan quản lý thuế - với
tư cách là người đại diện cho Nhà nước trong hoạt động hành thu thuế. Như
đã phân tích ở trên, việc chuyển sang mô hình hành thu thuế theo cơ chế tự
đăng ký, tự khai, tự tính và tự nộp là bước đột pháp quan trọng trong tiến
trình cải cách hành chính thuế ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt
10
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Nam nói riêng. Xét từ phương diện pháp luật, các quy định về cơ chế tự đăng
ký, tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế nhằm hướng tới mục tiêu mở rộng quyền
năng cho người nộp thuế, đồng thời thông qua đó cũng đề cao ý thức trách
nhiệm của họ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Hai là: Các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp
luật thuế. Đây là những quy định thể hiện rõ nhất vai trò, chức năng quản lý
hành chính của Nhà nước đối với xã hội nói chung và đối với người nộp thuế
nói riêng. Trước đây, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế thường được tiến
hành trước khi người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, gọi là cơ chế
“tiền kiểm”. Tuy nhiên, gần đây, những nỗ lực trong quá trình cải cách hành
chính thuế đã dẫn đến việc chuyển đổi từ cơ chế “tiền kiểm” sang cơ chế “hậu
cố gắng không ngừng, pháp luật QLT ngày càng tiến bộ, phù hợp với tiến
trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, theo kịp trình độ của quốc tế.
Quá trình này có thể chia làm 2 giai đoạn như sau :
1.2.2.1. Giai đoạn trước 2006
Trong nhiều năm, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, mở
cửa và hội nhập, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách và hoàn thiện để
đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Các luật thuế đã được Quốc hội ban
hành tương đối đồng bộ và có phạm vi điều chỉnh toàn diện đến các hoạt động
kinh tế - xã hội. Đồng thời trong từng luật thuế đã quy định nội dung quản lý
thuế mang tính chất khung, trên cơ sở đó Chính phủ, Bộ Tài chính đó cú
những quy định cụ thể để hướng dẫn, tổ chức công tác quản lý thuế đảm bảo
việc thực thi chính sách thuế theo quy định của pháp luật.
Mặt khác trong quá trình thực thi các luật thuế, công tác cải cách hành
chính thuế luôn được xác định là yếu tố quan trọng và từng bước được hoàn
thiện. Các thủ tục hành chính thuế như: Đăng ký thuế, nộp thuế, miễn giảm
thuế... đã được quan tâm sửa đổi, bổ sung theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh
bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, từng bước chuyển sang cơ
chế tự khai, tự nộp thuế, cơ quan Thuế chuyển từ quản lý thuế tiền kiểm sang
hình thức hậu kiểm và cung cấp dịch vụ công nhằm giúp người nộp thuế thực
hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế ngày
càng được nâng cao, vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác quản
lý thuế từng bước được tăng cường. Nhiều tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt
nghĩa vụ nộp thuế đã được cơ quan Nhà nước tôn vinh. Dư luận xã hội ngày
12
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
13
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Hồ sơ, thủ tục khai thuế, nép thuế và đặc biệt là các chế tài xử phạt đối với
mỗi sắc thuế cũng khác nhau làm cho việc áp dụng gặp nhiều khó khăn.
Pháp luật QLT còn nhiều quy định chưa rõ ràng, thiếu tính khả thi, nh
chưa có quy định về trách nhiệm của người nép thuế trong việc cung cấp
thông tin cho cơ quan nép thuế để phục vụ cho việc QLT; chưa có quy định
về quyền của người nép thuế... Ngoài ra, còn thiếu một số quy định cần thiết
nh: chưa có quy định cụ thể việc đánh giá, phân loại đối tượng cần thanh tra,
kiểm tra; chưa quy định thẩm quyền điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm về
thuế cho cơ quan thuế và cơ quan hải quan...
Tóm lại, trước 2006, pháp luật QLT ở nước ta còn nhiều hạn chế, thiếu
sót nh :
Thứ nhất, các quy định trùng lặp, chồng chéo nhau, thậm chí nhiều quy
định mâu thuẫn nhau gây khó khăn cho quá trình thực hiện dẫn đến hạn chế
trong việc tuân thủ pháp luật thuế.
Thứ hai, các quy định về quản lý thuế còn phân tán tại nhiều văn bản
pháp luật, có nội dung còn chưa thống nhất.
Thứ ba, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp luật của các chủ thế
tham gia quản lý thuế chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng, ảnh hưởng đến
việc thực hiện công tác quản lý thuế, công tác phòng chống, xử lý các hành vi
vi phạm phát luật thuế, chống thất thu thuế còn hạn chế...
1.2.2.2. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
Thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đã được Bộ
Chính trị phê duyệt, cùng với việc hoàn thiện và xây dựng mới các luật về
chính sách thuế. Luật Quản lý thuế đã được xây dựng nhằm để khắc phục các
đồng xã hội trong việc thực hiện quản lý thuế.
Luật quản lý thuế ra đời có ý nghĩa rất to lớn:
Thứ nhất, Kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý thuế
để quy định thống nhất trong luật quản lý thuế chung, phù hợp với mục tiêu,
yêu cầu cải cách quản lý thuế trong những năm tới.
Thứ hai, Tiếp cận với những kinh nghiệm quản lý thuế của các nước
tiên tiến, áp dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Thứ ba, Tạo hành lang pháp lý cho đổi mới phương thức quản lý thuế
từ cơ chế chuyên quản, người nộp thuế thụ động trong thực hiện nghĩa vụ
thuế sang cơ chế người nộp thuế chủ động trong việc xác định đúng số thuế
phải nộp, thực hiện nộp thuế đúng thời hạn cũng như xác định các ưu đãi
15
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
thuế, quyền lợi về thuế của mình. Cơ quan quản lý thuế tập trung vào thực
hiện tuyền truyền, phổ biến hướng dẫn pháp luật thuế, kiểm tra, thanh tra bảo
đảm tuân thủ pháp luật thuế.
Chương II:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật quản lý thuế
2.1.1.Hệ thống pháp luật quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập, hệ thống chính
sách thuế đã được cải cách và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển của
đất nước, hệ thống các Luật thuế đã được ban hành tương đối đồng bộ và có
phạm vi điều chỉnh toàn diện đến các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước,
công tác quản lý thuế đã hình thành một hệ thống tổ chức thống nhất trong cả
dựng lực lượng quản lý thuế; Hiện đại hoá công tác quản lý thuế; Tổ chức
kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; Thông tin về người nộp thuế; Gia hạn
nộp thuế; Xoá nợ thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế v.v..
Hoặc các vấn đề về quản lý thuế có quy định tại các luật về chính sách thuế
nhưng chưa chi tiết cụ thể hoặc được quy định ở các nghị định, thông tư, như:
Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt; Xử lý số tiền thuế nộp thừa; Nộp thuế
trong thời gian giải quyết khiếu nại, khiếu kiện; Trách nhiệm hoàn thành
nghĩa vụ nộp thuế; Các biện pháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với trường
hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế; Cưỡng chế thuế v.v..
Để hỗ trợ Luật QLT 2006 được thực hiện một cách hiệu quả nhất,nhiều
văn bản khác hướng dẫn thi hành luật đã được ban hành nh :
Nghị định số 85/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 5 năm
2007 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế. Trong
nghị định này qui định về các nội dung liên quan đến quản lý thuế như: khai
thuế; hồ sơ khai thuế; thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế; thứ tự thanh
toán tiền thuế, tiền phạt; xử lý số tiền thuế nộp thừa; nộp thuế trong thời gian
giải quyết khiếu nại, khởi kiện; gia hạn nộp thuế; ấn định số tiền thuế phải
nộp; trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc giải quyết hồ sơ hoàn
thuế; xây dựng và quản lý hệ thống thông tin về người nộp thuế; trách nhiệm
cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước, của tổ chức cá nhân có liên quan;
thanh tra thuế; quyền khiếu nại của người nộp thuế...
17
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Thông tư số 60/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 14/6/2007
Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Trên cơ sở đó, Bộ tài chính ban hành Quyết định 78/2007/QĐ-BTC ban hành
ngày 18/9/2007 Ban hành quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chính
sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của người
nộp thuế theo cơ chế " một cửa. Quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về
chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của
người nộp thuế theo cơ chế “một cửa” nhằm đảm bảo việc tiếp nhận và giải
quyết các yêu cầu hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về chính sách thuế,
quản lý thuế, tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của người
nộp thuế được thuận lợi nhất, đồng thời đảm bảo giám sát được công chức
thuế trong việc thực hiện giải quyết các yêu cầu, thủ tục hành chính thuế của
người nộp thuế (Điều 1).
* ) Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của
cơ quan thuế các cấp có trong các văn bản nh:
Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ban hành ngày 27/11/2008 của Chính
Phủ về việc quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của
Bộ Tài Chính. Theo Nghị định này, Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ,
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tài chính (bao gồm: ngân sách nhà
nước, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước, dự trữ nhà nước,
tài sản nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước, đầu tư tài chính, tài chính doanh
nghiệp, tài chính hợp tác xã và kinh tế tập thể); hải quan; kế toán; kiểm toán
độc lập; giá; chứng khoán; bảo hiểm; hoạt động dịch vụ tài chính và dịch vụ
khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; thực hiện đại diện chủ sở hữu
phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Về cơ cấu
tổ chức, Bộ Tài chính có 25 đơn vị tổ chức hành chính (gồm các Vụ, Cục,
Tổng cục chuyên môn) giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà
mức và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về thuế; trình tự, thủ tục các qui
định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo qui định của Luật Quản lý thuế
và pháp luật xử lý vi phạm hành chính. Những nội dụng qui định tại Nghị
định này áp dụng chung cho các luật, pháp lệnh thuế.
Nghị định số 13/2009/Né-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 98/2007/Né-CP ngày 7-6-2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi
20
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1-4-2009.
Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài chính hướng
dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế. Thông tư hướng dẫn thực hiện:
phạt theo số tiền tuyệt đối đối với các hành vi vi phạm thủ tục thuế, mức phạt
tối đa không quá 100 triệu đồng. Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với
một hành vi vi phạm thủ tục thuế là mức trung bình của khung tiền phạt được
quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể
giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt,
nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được
vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.
Quyết định của Bộ Tài chính số 2538/QĐ-BTC Về việc đính chính
Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 hướng dẫn thực hiện xử lý vi
phạm pháp luật về thuế (Đính chính điểm 5.3 Mục I Phần B Thông tư số
61/2007/TT-BTC)
Ngày 16.1.2008, Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 93/QĐ-BTC Về
việc đính chính Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2007/TTBTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm
Thông tư số 62/2007/TT-BTC ngày14/6/2007 của Bộ tài chính hướng
dẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy
định về xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành
chính trong lĩnh vực hải quan .....
Quy định về xử lý hình sự : chủ yếu là trong bộ luật hình sự, như : quy
định về tội trốn thuế (điều 161), các quy định về tội phạm về chức vụ, tội
phạm khác có liên quan đến lĩnh vực thuế hoặc người thu thuế như chống
người thi hành công vụ…
Những văn bản pháp luật trên đây có tác dụng luật hoá trách nhiệm của
các cơ quan thuế, người nép thuế, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm nâng
cao trách nhiệm pháp luật của các ngành, các cấp và cộng đồng xã hội trong
việc thi hành pháp luật thuế. Luật hoá các thủ tục hành chính về thuế, thủ tục
xử phạt vi phạm hành chính... mét cách cụ thể, đầy đủ, rõ ràng để nâng cao
tính pháp lý và đảm bảo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Bên cạnh đó những văn bản này còn nhằm mục đích thúc đẩy việc thực
hiện tốt hơn cơ chế QLT hiện đại - cơ chế tự kê khai, tự nép thuế. Đây là
22
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
phương thức quản lý thu thuế tiên tiến, hiện đại đang được hầu hết các nước
trên thế giới áp dụng. Theo cơ chế này thì các cá nhân, tổ chức nép thuế căn
cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh trong kì kê khai của mình và căn cứ vào
các quy định cuẩ pháp luật về nghĩa vụ thuế tự tính ra số thuế phải nép vào
ngân sách nhà nước, từ đó tự kê khai và tự thực hiện nghĩa vụ nép số thuế đã
kê khai vào ngân sách nhà nước theo đúng thời hạn mà pháp luật quy định.
2.1.2. Nội dung cơ bản của Luật QLT và các văn bản hướng dẫn thi hành luật.
lý thuế. Từ đó tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ
thuế, từ việc đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, trách nhiệm hoàn thành nghĩa
vụ nộp thuế….
Về thủ tục đăng ký thuế: Luật quy định cụ thể về đối tượng phải đăng
ký thuế, thời hạn đăng ký thuế, hồ sơ đăng ký thuế, địa điểm nộp hồ sơ đăng
ký thuế, tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế, cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế,
thay đổi thông tin đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế của người nộp thuế và
chấm dứt hiệu lực mã số của người nộp thuế.
Về khai thuế: Luật quy định nguyên tắc khai thuế, hồ sơ khai thuế, thời
hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, khai bổ sung hồ sơ khai
thuế, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ khai thuế. Để phù hợp với thực tiễn, trong
một số trường hợp do nguyên nhân bất khả kháng, Luật đã quy định người
nộp thuế được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế mà không bị xử lý vi phạm hành chính.
Về nộp thuế: Luật quy định thời hạn nộp thuế; đồng tiền nộp thuế; địa
điểm và hình thức nộp thuế; thứ tự thanh toán tiền thuế; xác định ngày nộp
thuế; xử lý số tiền thuế nộp thừa; nộp thuế trong thời gian khiếu nại, khởi
kiện; gia hạn nộp thuế.
Luật quản lý thuế đã quy định người nộp thuế được gia hạn nộp tiền
thuế mà không bị xử phạt về hành vi chậm nộp. Trong thực tiễn, một số
trường hợp người nộp thuế gặp phải khó khăn bất khả kháng, không có khả
năng nộp thuế đúng hạn, nhưng chưa có quy định được gia hạn nộp thuế và
được miễn xử phạt trong thời gian gia hạn nộp thuế, dẫn đến họ có số tiền
phạt chậm nộp lớn hơn cả số thuế phải nộp. Trong khi đó, cơ quan thuế không
có thẩm quyền xoá nợ tiền phạt, dẫn đến số nợ thuế lớn, không có khả năng thu.
Về ấn định thuế: Luật quy định nguyên tắc ấn định thuế, ấn định thuế
đối với người nộp thuế vi phạm pháp luật về thuế, ấn định thuế đối với hộ
kinh doanh theo phương phỏp khoỏn thuế, ấn định thuế đối với trường hợp
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế và của
nộp thuế.
Trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan thuế của các cơ quan quản
lý nhà nước được quy định thành 2 nhóm:
25
Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
+ Nhóm 1- Cung cấp thông tin tự động theo phát sinh sự kiện liên
quan đến người nộp thuế: Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
cơ quan cấp Giấy phép thành lập và hoạt động có trách nhiệm cung cấp thông
tin về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy phép thành lập và
hoạt động hoặc Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh,
quyết định sát nhập, chia tách, giải thể, phá sản của tổ chức, cá nhân nộp thuế
trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày phát sinh các sự kiện trên và các
thông tin khác theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế; Kho bạc Nhà nước có
trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế về số tiền thuế đã
nộp, đã hoàn của người nộp thuế.
+ Nhóm 2- Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế:
Ngân hàng, tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua
tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được
yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế. Cơ quan quản lý nhà
nước về nhà, đất có trách nhiệm cung cấp thông tin về hiện trạng sử dụng đất,
sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Cơ quan công an có trách nhiệm
cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm về
trật tự quản lý kinh tế và an ninh quốc gia liên quan đến quản lý thuế; cung
cấp thông tin về cá nhân xuất cảnh, nhập cảnh và thông tin về đăng ký, quản
lý phương tiện giao thông. Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm cung cấp