Đề cương ôn thi môn vấn đề con người trong văn học trung đại việt nam - Pdf 38

Môn: Vấn đề con người trong văn học trung đại
Câu 1: Xu hướng giải phóng tình cảm trong văn học thế kỉ XVIII – nửa
đầu thế kỉ XIX.
Bài làm
Trong tác phẩm văn học, nhân vật tức là con người. Ở mỗi giai đoạn văn học
khác nhau, cách xây dựng hình tượng nhân vật có những đặc điểm riêng, chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó, quan trọng nhất là ảnh hưởng của quan
niệm của tác giả cũng như của cả thời đại về vấn đề con người. Cảm xúc, tình
cảm của con người luôn là đối tượng của khoa nghiên cứu phê bình văn học.
Vấn đề kiểm soát hay giải phóng cảm xúc luôn được đặt ra trong văn học xưa
và nay.
Trong văn học trung đại Việt Nam, vấn đề ứng xử với tình cảm con người
chịu ảnh hưởng k nhỏ bởi các học thuyết triết học đạo đức – tôn giáo như Nho
giáo, Phật giáo, vì thời kì hình thành văn học viết Việt Nam (khoảng thế kỉ X)
ngang với thời Tống, là thời kì phát triển của Lí học với chủ trương kiểm soát
tình càm rất nghiêm ngặt, cũng là thời kì Phật giáo thiền tông phát triển với
chủ trương tu tâm, đạt đến tâm hư, tâm thanh tịnh, thực chất là chủ trương
diệt tình. Quan niệm của Nho giáo đối với tình, cảm xúc được thể hiện khá rõ
trong sách Trung Dung. Sách này nói về đạo “trung hòa”, bàn đến việc làm
chủ hay kiểm soát tình cảm, cảm xúc, đưa tình cảm vào quỹ đạo, khuôn khổ
của tính, của đạo. Theo Nho giáo, tâm có hai trạng thái, “tâm vị phát” và “tâm
dĩ phát”. “Tâm vị phát” là cảm xúc chưa phát lộ, ở dạng tiềm ẩn, chưa thể
thiên lệch. Đây là trạng thái lí tưởng cần phải duy trì. “Tâm dĩ phát” thì phải
kiểm soát chặt chẽ, đưa vào khuôn khổ của đạo. Khổng Tử đề cao thứ cảm
xúc trung hòa, không thái quá mà k bất cập “lạc nhi bất dâm, ai nhi bất
thương”. Phàm người ta ai cũng có tính, tình và vật. HỌc giả nên bảo tồn tâm,
nuôi dưỡng bản tính mà tiết chế tình. Tồn tâm dưỡng tính, bảo toàn chân tâm,
tiết chế tình thực ra đối với nhà nho là bảo toàn tâm phù hợp với đạo đức,
1




Trong văn xuôi, ở thế kỉ XVI, các tác phẩm truyện, kí vẫn chưa có xu hướng
đề cao tình cảm, cảm xúc. Chuyện người con gái Nam Xương có nói đến tình
cảm vợ chồng của Vũ Nương và Trương Sinh. Nhưng không hề có đoạn nào
nói về tình yêu của hai người, chỉ là “Trương Sinh mến vì dung hạnh của
nàng nên hỏi nàng làm vợ”. Đến khi Trương Sinh đi lính, trong cảnh chia ly,
không thấy Vũ Nương bày tỏ tình cảm yêu thương, nhớ nhung, buồn bã mà là
một lời nhắn nhủ, dặn dò “ Chàng đi chuyến này thiếp chẳng dám mong đeo
được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ mong được hai chữ bình
yên thế là đủ rồi”. Trong suốt ba năm, nỗi nhớ được tả chỉ là “Mỗi khi thấy
bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời lại k thể
nào ngăn được”. Rõ ràng, văn học thời kì này chưa chú tâm tả tình cảm, cảm
xúc mà chủ yếu kể sự việc. Tình cảm nếu có thì cũng là tình cảm nằm trong
tầm kiểm soát của đạo.
Phải đến thế kỉ XVIII, khi hoàn cảnh chính trị, xã hội văn hóa có nhiều thay
đổi, trong văn học có xu hướng giải phóng tình cảm cảm xúc. Chính xác hơn
là khoảng giữa thế kỉ XVIII, trong đời sống văn học có dấu vết chắc chắn của
việc đề cao tình. Rất nhiều thể loại đi sâu thể hiện tâm tư, tình cảm, cảm xúc
của con người như ngâm khúc, hát nói, truyện nôm bác học, thơ đường luật...
Các cung bậc cảm xúc đa dạng của con người được thể hiện trong văn thơ,
bao gồm cả tình yêu lứa đôi. Sự phát triển của các tác phẩm văn học theo xu
hướng đề cao tình cảm, cảm xúc đã làm thành một trào lưu văn học đề cao
tình (trào lưu chủ tình) trong văn học trung đại VN thế kỉ XVIII – XIX.
Có thể mô tả trào lưu này từ nhiều góc độ khác nhau. Trên phương diện quan
niệm về con người, ta nhận thấy mẫu nhân vật sống chủ tình, “việt danh giáo
nhiệm tự nhiên” rất rõ nét. Tiếng khóc như là biểu hiện của cảm xúc k bị kiềm
chế nữa mà đã đi vào trong thơ. Một nhà nho thế kỉ XIX nhận xét: Thúy Kiều
khóc Đạm Tiên, Tố Như khóc Kiều, người đời nay khóc người đời xưa, người
đời sau khóc người đời nay, hai chữ tài tình là một mối thông lụy của bọn tài
tử khắp gầm trời, suốt xưa nay. NHững người phụ nữ k che giấu xúc cảm,


4


cập đến tình yêu lứa đôi với nhiều cung bậc khác nhau, là tình cảm không
được thể hiện trong văn học các giai đoạn trước đó.
“Người về chiếc bóng năm canh / Người đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”
Hát nói là thể loại ra đừi trong không gian văn hóa vui chơi giải trí thích hợp
cho nội dung diễn tả con người cá nhân tự do, siêu việt danh giáo. Trong
không gian này người văn nhân tài tử được thể hiện tính cách phong lưu ngất
ngưởng của mình. Ngay những bài hát nói của NCT về chí nam nhi đầy khí
phách thì chất cá nhân vẫn rất rõ nét.
Những thể loại có nguồn gốc ngoại nhập như thơ Đường luật cũng được cách
tân để chuyển tải cảm xúc riêng tư, nhất là tình yêu. Tập Lưu Hương Ký của
HXH có nhiều bài thơ Đường luật viết gửi tặng những người bạn tình, ghi lại
nỗi nhớ nhung, tình cảnh cô đơn.
Trong văn xuôi chữ Hán việc nhận diện nhân vật trong cuộc sống thường
ngày, nhìn nhận con người tự nhiên là xu hướng nổi trội
Như vậy, văn học trung đại giai đoạn XVIII- XIX đã có những đổi mới trong
cách ứng xử với tình cảm, cảm xúc, theo xu hướng đề cao tình, lấy con người
tự nhiên, phàm trần làm đối tượng thể hiện. Mẫu hình nhân vật như vậy thiên
về đề cao tình cảm, bộc bạch những cảm xúc đa dạng, mang đậm màu sắc cá
nhân thầm kín, riêng tư chứ không phải là những lí tưởng tu thân, tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ của con người xã hội, con người cộng đồng, con người
theo lí tưởng “nội thánh ngoại vương”, tu kỉ trị nhân. Trào lưu chủ tình đã tạo
nên một bước ngoặt lớn trong tiến trình văn học trung đại, làm nên những giá
trị chủ yếu của văn học giai đoạn này.

5

6


đề chính là: 1. Tồn thiên lí, diệt nhân dục; 2. Nam nữ thụ thụ bất thân; 3. Vạn
ác dâm vi thủ. Đối với vấn đề sống – chết, một bản năng hết sức lớn của con
người, Khổng Tử đưa ra mô hình lí tưởng của nhà nho là: đặt các giá trị luân
lí đạo đức cao hơn giá trị của thân xác. Nhà nho phân biệt hai phạm trù thân:
nhục thể chi thân (thân xác thịt) và danh tiết chi thân (thân danh tiết). Thân
xác thịt cũng cần bảo vệ nhưng thân danh tiết quan trọng hơn, vào thời điểm
bất đắc dĩ thì phải biết hi sinh thân xác thịt cho thân danh tiết.
Phật giáo là một học thuyết chú trọng đến tâm nhưng cũng có một triết lí về
thân. Thái độ của nhà Phật đối với “thân” cũng dựa trên căn bản quan niệm
phủ nhận thân thể qua các giác quan (ngũ quan). Phật học chủ trương kiểm
soát nghiệt ngã với thân xác bản năng. Về vấn đề ăn – mặc - ở, các nhu cầu
của các thiền sư được tiết giảm đến mức tối thiểu. Về vấn đề tình dục thì Phật
giáo quan niệm phải “diệt dục” để tu đạo, tu thành chính quả. Về vấn đề sinh
tử, Phật giáo Thiền tông cho rằng một khi ta diệt trừ bỏ tâm, tức các ý nghĩ
xung quanh điều sống chết thì hiển nhiên không còn tồn tại vấn đề sinh tử
nữa. “Phổ thuyết sắc thân” trong “Khóa hư lục” có ghi rõ: “Thân là gốc của
khổ, chất là nhân của nghiệp” Một khi giác ngộ rằng thân xác là nguồn gốc
của đau khổ tất con người không chạy theo dục vọng bản năng của thân xác.
Các học thuyết tư tưởng Nho giáo, Phật giáo gặp nhau trong chủ trương ứng
xử khá nghiệt ngã, đầy khắc kỉ với thân xác. Quan niệm trên vừa có mặt tích
cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có tính không tưởng. Ở đây, chúng tôi muốn
nhấn mạnh đến ảnh hưởng của quan niệm khắc kỉ của Nho giáo, Phật giáo
đến văn học trung đại VN, nhất là văn học từ thế kỉ X đến hết XVII.
Trong văn học Phật giáo thời đại Lí Trần, có thể quan sát thấy khá rõ lí tưởng
khắc phục thân xác bản năng. Trần Đình Sử đã nhận xét khá sắc sảo: “ Con
người trong văn học Lí trần vừa có mặt yêu nước, thượng võ, vừa có cảm
nhận sâu sắc về tính chất hư huyễn của cuộc đời, trước hết là cái thân con

dưỡng thân nhàn” “Lánh thân nhàn được thú màu”. Để không bị vật dục cám
dỗ, danh lợi quấy rầy, thì cách tốt nhất là chủ động tách thân ra khỏi xã hội, tự
8


đặt mình giữa thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên. Lối sống đó chính là một
cách diễn đạt lí tưởng tu thân theo mô hình thánh nhân, quân tử.
Sang thế kỉ XVI, có nhiều dấu hiệu cho thấy trong văn học xuất hiện ngày
càng rõ nét hình tượng ẩn sĩ. Nhìn từ góc độ ứng xử với thân xác, ẩn sĩ là
người phản ứng mạnh mẽ nhất nhưng cũng đầy tiêu cực trước xu thế chạy
theo vật dục của xã hội quyền quý. Ngợi ca cuộc sống ẩn dật đạm bạc, lên án
thói đời mê đắm trong vật dục là hai mặt của thế ứng xử với thân xác của nhà
nho, theo cách biểu đạt lí tưởng thánh nhân về thân.
Trong trường thẩm mĩ của các sáng tác thơ ca của các nhà nho, ta không thấy
đề cập đến yếu tố giới tính. Người nam nhi, bậc quân tử hiện ra trong văn thơ
nhà nho là người biết dồn sức mạnh của tinh thần và sức lực vào sự nghiệp
xây dựng trật tự xã hội lí tưởng thái bình thịnh trị. Tình yêu nam nữ bị lễ giáo
chế ngự. Những rung động bản năng bị lên án, phê phán.
Trong Truyền kì mạn lục ở thế kỉ XVI có một số trang nói đến hoan lạc ái ân
nam nữ, tuy nhiên khó có thể nói tác giả ủng hộ tình yêu thân xác đó. Nhìn
trong hệ thống, các mối tình có cảnh hoan lạc ái ân ở Truyền kì mạn lục đều
được hình dung đó là những mối tình ma quái, phản ánh tâm thức khinh miệt,
ghê sợ tình ái tự do, ngoài hôn nhân. Trong Truyền kì mạn lục có một câu
chuyện về dũng khi xả thân chủ nghĩa, sát thân thành nhân của nho gia –
Người con gái Nam Xương. Khi bị chồng nghi oan rằng không chung thủy,
Vũ Nương đã dùng cái chết để chứng minh sự trong trắng của mình.
Cũng theo Phạm Tú Châu, sự xuất hiện nghèo nàn các tiểu thuyết tình dục
chữ Hán trong VHTĐ VN có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng
đầu có lẽ là quan niệm tu thân khắc kỉ đều nuôi dưỡng nhân cách cao thượng
mà các tư tưởng triết học – tôn giáo tuyên truyền. Phải đến thế kỉ XVIII mới

Việc phản đối sự lăng nhục thân xác con người là một điểm mới trong triết lí
con người của ND, cũng là một phương diện quan trọng trong chủ nghĩa
nhân đạo của ông.

10


Truyện Kiều được xem là tác phẩm thương thân, xót thân vào bậc nhất trong
văn học VN thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX. Trong tác phẩm, ND nhiều lần
dùng ngôn ngữ thấm thía để thể hiện nỗi thương thân, xót thân, thương thân
chứ k phải thương tài:
“Trùng phùng dù họa có khi
Thân này thôi có ra gì mà mong”
“Nàng rằng trời thẳm đất dày
Thân này đã bỏ những ngày ra đi”…
Cũng với quan điểm thương thân, xót thân này, khi miêu tả cảnh Thúy Kiều
báo ân, báo oán, Nguyễn Du đã không miêu tả quá chi tiết, tỉ mỉ như Thanh
Tâm Tài Nhân, đồng thời Nguyễn Du cũng hạn chế đến mức thấp nhất sự chủ
động chỉ đạo của Kiều trong việc tính toán các mức hình phạt cũng như mục
đích phạt. Rõ ràng, ND có thái độ trân trọng thân thể con người, dù là ai, ông
hướng sự quan tâm của người đọc đến luật nhân quả,, ý chí của trời đối với số
phận con người hơn là bản thân sự kiện trả thù.
Truyện Kiều k chỉ cất lên tiếng nói thương thân, xót thân mà còn là tiếng
hát ca ngợi thân, tôn vinh thân. Thương xót thân và ngợi ca thân là hai mặt
của một quan niệm thống nhất về con người trong TK, quan niệm này tước bỏ
màu sắc thánh nhân, đưa nhân vậ trở về vơi cuộc sống thường ngày, con
người tự nhiên. Chủ nghĩa khắc kỉ thời trung đại đã dẫn đến một cách ứng xử
với sắc đẹp phụ nữ là thái độ miệt thị, ghẻ lạnh, sợ hãi sắc đẹp phụ nữ.
Nguyễn Du lại rất chú ý ngợi ca vẻ đẹp ngoại hình, khuôn mặt của Thúy Kiều
Thúy Vân. Điều đáng nói hơn là ND còn tả vẻ đẹp của thân thể Kiều nữa, ở

khi nước đã đến chân / dào này thì liệu với thân sau nay), có quyết tâm chết k
chịu nhục khi bị Tú Bà lăng mạ (Thôi thì thôi có tiếc gì), có tiếng nói thương
thân xót phận, than thân tủi phận (Thân nghìn vàng để ô danh má hồng), lại có
tiếng nói thiết tha với thân, tiếc thân, ân hận vì đã giữ ngọc gìn vàng với
người yêu, có tiếng nói buông thân theo dòng đời, tiếng nói lo lắng cho thân,
thậm chí lo lắng cái ăn cái mặc. ND đã mượn lời Tú Bà – 1 nhân vật phản
12


diện để nói lên tiếng nói của lí trí về giá trị thân xác và sự sống hiện hữu: Một
người dễ có mấy thân - Người còn thì của hãy còn”. Như vậy, TK k hề có cái
nhìn 1 chiều, phiến diện về thân như các học thuyết tôn giáo – đạo đức. Thân
có thể hi sinh khi cần thiết nhưng thân cũng đáng quý, sự sống của thân là
đáng trân trọng. Đây là một điểm mới, tầm tư tưởng vượt thời đại của Nguyễn
Du.
Ứng xử thân xác trong tình yêu là một thử thách quan trọng đối với quan
niệm thân của nhân vật. Thông thường, trong văn học trung đại, quan hệ nam
nữ có hơi hướng sắc dục được trình bày với cảm hứng phê phán. Trong
Truyện Kiều, Nguyễn Du đã có cái nhìn mới mẻ khi miêu tả các mối tình của
Thúy Kiều với các nhân vật chính diện có màu sắc nhục dục. ND tỏ thái độ
tán đồng, trân trọng nâng niu những mối tình đó, hoàn toàn đối lập với lập
trường truyền thống với vấn đề tình yêu thân xác. ND đã miêu tả những rung
động mang tính chất nhục thể rất hiển nhiên của KT khi ngồi bên Thúy Kiều,
miêu tả sự say mê k kém phần lãng mạn của người anh hùng Từ Hải, miêu tả
cảnh sống lứa đôi hạnh phúc của Kiều và Từ Hải, miêu tả nỗi nhớ gối chăn
của Thúy Kiều và Thúc Sinh khi phải chia li. Nói tổng quát, với truyện Kiều,
lần đầu tiên trong VHTĐ VN, các nhân vật chính diện được tả trong những
chân dung có màu sắc thân xác với cảm hứng khẳng định rõ rệt. Thân xác k
phải là nguồn gốc của khổ đau, cũng k phải là dấu hiệu của sự thấp hèn, Thân
xác là 1 phần quan trọng của nhân cách.

người con gái.
Màu sắc trong Truyện Kiều “chẳng những là phương tiện miêu tả thế giới mà
còn là phương tiện thể hiện cái nhìn nghệ thuật đối với cuộc đời, mang đậm
màu sắc thời đại và cá tính” (TĐS). Đặc biệt, trong TK, màu sắc thông qua
mắt nhìn, một yếu tố cấu thành của thân thể, đã tác động đến nhân cách, hành
vi, tư tưởng, tình cảm của nhân vật. Ví dụ, khi Kim Trọng lần đầu tiên xuất
hiện, cái nhìn về màu sắc của Kiều đã góp phần quan trọng làm nảy nở tình
yêu giữa hai người.
14


Thế giới âm thanh trong Truyện Kiều cũng rất phong phú. Có những âm
thanh quen thuộc với thơ văn trung đại như tiếng chim oanh, tiếng gà gáy,
tiếng sóng nước… nhưng cũng có nhiều âm thanh lần đầu xuất hiện hoặc
hiếm thấy trong thơ văn trung đại, như tiếng xôn xao của bọn sai nha, tiếng ồn
ào như ruồi xanh của cảnh cướp phá… Điều đáng chú ý là, Nguyễn Du đã rất
chú tâm đến địa vị cua âm nhạc. Âm nhạc trong Truyện Kiều k phải là thứ âm
nhạc Lễ kí, có chức năng giáo hóa như theo quan niệm của Nho giáo, mà là
thứ âm nhạc giải trí, việc nghe nhạc như là sự thỏa mãn nhu cầu vừa mang
tính vật chất vừa mang tính tinh thần, nghe nhạc là sự chiếm lĩnh thế giới qua
thân thể (qua thính giác).Tiếng đàn của Thúy Kiều được ND miêu tả theo
nguyên tắc vật chất hóa
“Trong như tiếng hạc bay qua….như trời đổ mưa”
Nguyễn Du cũng rất chú ý tả phản ứng của người nghe. Tiếng đàn của Kiều k
thuộc về lễ, k gợi xúc cảm đạo đức mà đụng đến phần sâu thẳm của tâm thức
con người, gợi lên những xúc cảm ai oán nhất hoặc gợi lên cảm giác đầm ấm,
vui vầy.

15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status