Rèn kĩ năng đọc văn bản tiếng việt cho học sinh lớp 2 trường tiểu học thị trấn thuận châu sơn la - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH THANH QUÝ

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO

HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC
THỊ TRẤN THUẬN CHÂU - SƠN LA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH THANH QUÝ

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO

HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC
THỊ TRẤN THUẬN CHÂU - SƠN LA

Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng

Sơn La, năm 2014


HS

học sinh

GV

giáo viên

HSTH

học sinh tiểu học

TV

tiếng việt


MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................................................4
3. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................5
5. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................6
6. Phƣơng pháp nghiên cứu..................................................................................6
7. Giả thuyết khoa học.......................................................................................... 7
8. Đóng góp của đề tài.......................................................................................... 7
9. Cấu trúc của khóa luận......................................................................................7
B - PHẦN NỘI DUNG........................................................................................8

2.2.3. Thực trạng rèn kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 Trƣờng tiểu học thị trấn
Thuận Châu – Sơn La......................................................................................... 30
2.3. Một số vấn đề đặt ra khi khảo sát.................................................................32
Tiểu kết chƣơng 2...............................................................................................33
CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
TẬP ĐỌC LỚP 2...............................................................................................34
3.1. Vận dụng các phƣơng pháp dạy học TV vào trong dạy – tập đọc..............34
3.1.1. Phƣơng pháp luyện đọc theo mẫu............................................................ 34
3.1.2. Phƣơng pháp đọc diễn cảm...................................................................... 34
3.1.3. Phƣơng pháp giao tiếp (phƣơng pháp đàm thoại)....................................35
3.1.4. Phƣơng pháp trực quan.............................................................................35
3.2. Thiết kế mẫu bài “ Bóp nát quả cam” ( SGK TV2 tập 2, tr)........................36
3.2.1.Thiết kế giáo án mẫu..................................................................................36
3.2.1.1. Mục đích của thiết kế giáo án................................................................ 36
3.2.1.2. Yêu cầu của thiết kế...............................................................................36
3.2.2 Thiết kế giáo án mẫu ( trang …, phần phụ lục)......................................... 37
Tiểu kết chƣơng 3...............................................................................................37
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................38
1. Kết luận...........................................................................................................38
2 Đề xuất.............................................................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................41


A - PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là
công cụ tổ chức quá trình tư duy và là phương tiện bộc lộ tư duy. Ngôn ngữ còn
là hiện thực trực tiếp của tư tưởng.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện biểu hiện tâm trạng tình cảm của loài ngƣời.
Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh tiểu học. Bởi vì Tiếng Việt là

đọc đúng. Vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào.
Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phƣơng pháp và thói quen
làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở thành
một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trƣờng đó là một trong những điều kiện để
trƣờng học thực sự trở thành trung tâm văn hóa. Nói cách khác, thông qua việc
dạy đọc, phải làm cho học sinh thích đọc và thấy đƣợc rằng khả năng đọc là có
lợi ích cho học sinh thích đọc, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những
con đƣờng đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.
Về đọc không thể tách rời khỏi những nội dung đƣợc đọc nên bên cạnh
nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng, giáo dục lòng yêu sách phân môn Tập đọc còn có
nhiệm vụ.
+ Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học
sinh.
+ Phát triển ngôn ngữ và tƣ duy cho học sinh.
+ Giáo giục tƣ tƣởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩn nĩ cho học sinh.
1.3. Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học Tiếng Việt theo chương trình mới
Môn Tiếng việt trong chƣơng trình tiểu học mới, thể hiện sự đổi mới cả
về mục tiêu – nội dung và phƣơng pháp dạy học, phƣơng tiện dạy học, các hình
thức tổ chức dạy học, các đánh giá kết quả của học sinh.
Hiện nay mục tiêu giáo dục đã xác định đƣợc rõ ràng, chƣơng trình SGK
tƣơng đối ổn định – nội dung… Chính vì vậy để thƣờng xuyên nâng cao chất
lƣợng dạy học thì phƣơng pháp dạy học càng trở nên quan trọng vô cùng.
Tầm quan trọng đó phải thể hiện theo quan điểm : “Dạy học lấy học sinh
làm trung tâm”. Nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh. Do
đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Việc đổi mới phƣơng pháp dạy học
2


Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và đổi mới phƣơng pháp dạy học tập đọc nói



Xuất phát từ những lí do nêu trên trong khóa luận này tôi chọn nghiên cứu
đề tài : “Rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu
học thị trấn Thuận Châu- Sơn La.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chƣơng trình dạy Tiếng Việt ở Tiểu học năm 2006 là sự hoàn thiện tiếp
tục Chƣơng trình dạy học Tiếng Việt năm 2001. Chƣơng trình mới đòi hỏi phải
có sự đổi mới phƣơng pháp cũng nhƣ các hình thức tổ chức dạy học cho phù
hợp. Chính vì vậy, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu
đƣa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả dạy học nói chung
và ở Tiểu học nói riêng. Thực hiện khóa luận này, chúng tôi qyan tâm tới một số
công trình nghiên cứu sau.
“Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học”( NXB Đại học Sƣ phạm –
2002) với mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hiện đại và
các kĩ năng giảng dạy Tiếng Việt ở trƣờng tiểu học. Giáo trình cung cấp thông
tin về những vấn đề chung của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt và dạy học các
phân môn Tiếng Việt ở tiểu học. Bên cạnh đó, các tác giả còn đƣa ra nhiều
phƣơng pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cự của
học sinh trong từng phân môn cụ thể.
“Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chƣơng trình mới” ( NXB
Giáo Dục – 2007) đã cung cấp những thông tin tổng quát về chƣơng trình dạy
tiếng mẹ đẻ ở cấp Tiểu học của một số nƣớc trên thế giới. Tác giả cho rằng :
việc dạy Tiếng Việt phải nhằm cả vào hia chức năng của ngôn ngữ ( công cụ tƣ
duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng ( nghe, nói, đọc,
viết ); phải hƣớng tới sự giao tiếp và sử dụng phƣơng pháp giao tiếp. Bên cạnh
đó, các tác giả cũng đƣa ra vấn đề cần tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu dạy
tiếng mẹ đẻ trên thế giới cũng nhƣ nhƣợc điểm cần khắc phục của những loại
chƣơng trình Tiếng Việt trong mấy thập niên trƣớc đó. Đó chính là cơ sở khoa
học và thực tiễn của việc xây dựng chƣơng trình mới, đổi mới phƣơng pháp dạy

học sinh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực trạng đọc chƣa tốt của học sinh và tìm hiểu nguyên nhân
học sinh tiểu học đọc sai, đọc chƣa diễn cảm khi đọc các văn bản Tiếng Việt.
5


- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học
sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La.
- Khảo sát nội dung tìm hiểu ở SGK
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc dạy tập đọc. Tìm hiểu
về nội dung và phƣơng pháp dạy tập đọc lớp 2
- Khảo sát thực trạng dạy đọc thông qua các giờ dạy tập đọc.
- Khảo sát kĩ năng đọc của học sinh qua một bài tập đọc.
5. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và trình độ của bản thân nên tác giả chỉ còn nghiên
cứu vấn đề rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2A1 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận

Châu – Sơn La.
Nghiên cứu thực tiễn qua trình đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh ở
trƣờng tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong qua trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu
theo các phƣơng pháp sau:
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề đổi mới phƣơng pháp
dạy học nói chung và phƣơng pháp dạy tiếng Việt nói riêng trong đó có phƣơng
pháp dạy tập đọc.
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu nhằm rút ra đƣợc những vấn đề cần thiết để

Thiết kế mẫu giáo án bài tập đọc ứng dụng những biện pháp đã đề xuất.
9. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo khóa luận gồm 3
chƣơng:
Chƣơng 1, Cơ sở lí luận.
Chƣơng 2, Cơ sở thực tiễn

Chƣơng 3, Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc lớp 2.

7


B - PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học tập đọc
1.1.1.Khái niệm đọc
Môn Tiếng Việt ở trƣờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ đƣợc thể hiện
trong bốn dạng hoạt động, tƣơng ứng với chúng là bốn kĩ năng, nghe, nói, đọc,
viết. Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là một quá trình chuyển dạng từ hình
thức viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (úng dụng với hình thức đọc
thành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị
nghĩa không có âm thanh ( ứng với đọc thầm ). Hai mảng này có liên quan với
nhau bởi vì đọc thành tiếng đúng thì mới hiểu và ngƣợc lại có hiểu thì mới đọc
đúng đọc hay.[7, trang 7]
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hóa khoa học
tƣ tƣởng tình cảm của các thế hệ trƣớc và của cả những ngƣời đƣơng thời phần
lớn đã đƣợc ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con ngƣời không thể
tiếp thu nền văn minh của loài ngƣời, không thể sống một cuộc sống bình
thƣờng có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc

Chính âm liên quan đến vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt. Việc hiểu biết về chính âm sẽ giúp ta xác định nội dung đọc đúng,
đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc. [7, trang 12, 13]
1.1.3. Trọng âm
Trọng âm là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết (tiếng). Dựa vào sự
phát âm một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đƣờng nét thanh
điệu rõ hay không rõ, ngƣời ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng có
trọng âm (là tiếng có trọng âm mạnh) và không có trọng âm (tiếng có trọng âm
yếu). Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm quan
trọng trong câu. Trọng âm yêu đi với những từ không có hoặc có ít thông tin
mới. Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn giọng hay kéo dài những từ quan
trọng trong bài. [7, trang 16]
1.1.4. Ngữ điệu
Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao hay hạ thấp
giọng nói, giọng đọc. Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống nhất của một tổ hợp
các phƣơng tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính) có quan hệ tƣơng tác lẫn nhau
9


đƣợc sử dụng ở bình diện câu nhƣ cao độ (độ cao thấp của âm thanh), cƣờng độ
(độ lớn, nhỏ, mạnh, yếu của âm thanh), tốc độ (độ nhanh chậm, ngắt nghỉ), trƣờng
độ (độ dài ngắn của âm thanh) và âm sắc. Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói,
yếu tố tham gia tạo thành lời nói. Ngữ điệu đƣợc sử dụng để biểu thị ý nghĩa và
phạm trù ngữ pháp cũng nhƣ các sắc thái cảm xúc biểu cảm. [7 , trang 16]

1.1.5. Đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm ở đây đƣợc hiểu là đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi đọc
những văn bản văn chƣơng hoặc các yếu tố của ngôn ngữ văn chƣơng. Ở Tiểu
học không yêu cầu HS có phong cách riêng khi đọc mà yêu cầu HS có ý thức
đọc đúng ngữ điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả đã gửi gắm

Đọc đƣợc xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết mới nhau,
là việc sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn
tự ghi lại bằng lời nói âm thanh. Đó là vận động tƣ tƣởng, tình cảm, sử dụng bộ
mã chữ nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tƣởng, các khái niệm
chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho đƣợc nội dung những gì đƣợc đọc. Đọc
bao gồm những yếu tố tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm,
các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đƣợc đọc, càng ngày những yếu
tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng là sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa
những mặt riêng lẻ này trong quá trình đọc. Đó là sự phân biệt ngƣời mới biết đọc
và ngƣời đọc thành thạo. Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao
nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác hoàn thiện bấy nhiêu.

Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với kĩ thuật đọc ( tức là việc chuyển
dạng hình thức chữ viết của từ và âm thanh ) đọc đƣợc hiểu và kĩ thuật đọc cùng
với sự thông hiểu đọc ( không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài ) ý
nghĩa cả hai mặt của thuật ngữ “đọc” đƣợc ghi nhận trong các tài liệu tâm lí học
và phƣơng pháp dạy học.
Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài
T.G.E Gôrốp chia việc hình thành kĩ năng này qua ba giai đoạn phân tích, tổng hợp

(còn gọi là phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai
đoạn tự động hóa.
Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp. Thời gian gần đây ngƣời ta đã chú
trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng

11


đọc, làm việc với văn bản. Đòi hỏi giờ tổ chức tập đọc sao cho việc phân tích nội


Phƣơng pháp dạy học Tập đọc phải vận dụng các nguyên tắc cơ bản của
giáo dục nhƣ: nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn với lí
thuyết, nguyên tắc gắn với thực hành, nguyên tắc trực quan…
Phƣơng pháp dạy học Tập đọc chọn ở giáo dục học những hình thức tổ
chức dạy học theo đặc trƣng môn học của mình. Ở nhà trƣờng cũng nhƣ trong
đời sống xã hội, chúng ta thƣờng gặp các hình thức đọc nhƣ: đọc thành tiếng,
đọc nhẩm,đọc đồng thanh, đọc diễn cảm, đọc thầm.
1.2.3. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học
Phƣơng pháp dạy tập đọc, phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ học nó liên quan
mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học nhƣ vấn đề chính âm, chính tả,
chữ viết, ngữ điệu, nghĩa của từ, câu, đoạn. Dựa trên cơ sở nghiên cứu của ngôn
ngữ học xác lập nội dung và phƣơng pháp dạy tập đọc. Bốn phẩm chất của đọc
không thể tách rời những cơ sở ngôn ngữ học không coi trọng đúng mức những
cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy
học.
Những hiểu biết về chính âm trong tiếng Việt sẽ giúp GV dạy tốt hơn
phân môn Tập đọc ở tiểu học.
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu
quả về mặt xã hội.
Theo đa số nhà nghiên cứu nội dung cơ bản của chính âm trong Tiếng
Việt hiện nay nên lấy hệ thống ngữ âm ( cách phát âm ) của phƣơng ngữ Bắc Bộ
mà tiêu biểu là tiếng Hà Nội làm căn cứ bổ xung cách phát âm. Một số phụ âm
quặt lƣỡi ( tr, s, r ) và không phát âm phân biệt d/gi.
Những hiểu biết về vấn đề ngữ điệu Tiếng Việt là cơ sở để GV hƣớng dẫn
HS đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật.
Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự lên cao hay hạ thấp
giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu,
ngữ điệu gồm toàn bộ các phƣơng tiện siêu đoạn ( siêu âm đoạn tính ) đƣợc sử
dụng bình diện câu nhƣ độ thấp của âm thanh cƣờng độ mạnh yếu, hay là môi

đầu thẳng, phải hít sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Ở lớp khi đƣợc cô giáo gọi
đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin không hấp tấp đọc ngay.
Trƣớc khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cƣờng độ và tƣ thế
khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc thành
tiếng ngƣời đọc đóng một lúc hai vai: Một vai – và mặt này thƣờng đƣợc nhấn
mạnh – là ngƣời tiếp nhận thông tin, bằng chữ viết, vai thứ hai là ngƣời

14


trung gian để truyền thông tin, đƣa văn bản tới ngƣời nghe. Khi giữ vai thứ hai
này, ngƣời đọc đã thực hiện việc tái sinh văn bản. Vì vậy khi đọc thành tiếng
ngƣời đọc có thể đọc cho mình hoặc cho ngƣời khác hoặc cho cả hai. Đọc cùng
với phát biểu là hai hình thức giao tiếp trƣớc đám đông đầu tiên của trẻ em nên
giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công tạo cho các em
sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng các em phải tính đến ngƣời nghe. Giáo
viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ để cho mình cô giáo
mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cùng đọc đủ lớn cho tất cả những ngƣời
này nghe rõ. Nhƣng nhƣ thế hoàn toàn không có nghĩa là đọc quá to hoặc gằn
lên. Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ “lý nhí” giáo viên cần tập cho các em
đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho
học sinh đứng lên bảng để đối diện với những ngƣời nghe tƣ thế đứng đọc phải
đàng hoàng, vừa thoải mái và cân bằng hai tay.
Đọc thành tiếng nhằm mục đích luyện đọc đúng cho học sinh. Đọc đúng
là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi. Đọc
đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc đúng phải thể hiện
đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là không đọc theo
cách phát âm địa phƣơng lệch chuẩn, với những học sinh dân tộc thì lƣu ý
không để hệ thống ngữ âm mẹ đẻ ảnh hƣởng tiêu cực đến phát âm Tiếng Việt.
Đọc đúng bao gồm bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt

giáo viên dự tính sẽ có nhiều em đọc sai phách câu. Cũng tiến hành nhƣ vậy,
cuối cùng mới luyện đọc cả bài.
Luyện đọc nhanh : Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là
việc đọc không ê, a ngặc ngứ, vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng.
Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi có không tách rời việc hiểu rõ điều đƣợc đọc.
Khi đọc cho ngƣời khác nghe thì ngƣời đọc phải xác định tốc độ nhanh nhƣng
để cho ngƣời nghe hiểu kịp thời. Vì vậy đọc nhanh không phải là đọc liến
thoắng. Tốc độ chấp nhận đƣợc của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc
độ của lời nói.
Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hƣớng dẫn cho học sinh làm chủ
tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ quy định. Đơn vị để
đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách
giữ nhịp đọc. Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự
kiểm tra của giáo viên của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài
có tiếng cho trƣớc và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định đọc tốc độ nhƣ
thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
16


Bên cạnh luyện đọc thành tiếng để HS đọc đúng, GV cần hƣớng dẫn HS
đọc hiểu văn bản Tiếng Việt bằng hình thức đọc thầm. Ở hình thức đọc này GV
cần chú ý tới học sinh tƣ thế đọc.
Cũng nhƣ khi ngồi đọc (và ít khi đứng đọc) thành tiếng, tƣ thế ngồi đọc
thầm phải ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách 30-35cm.
Kỹ năng đọc thầm phải chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to → đọc
nhỏ → đọc mấp máy môi (không thành tiếng) → đọc hoàn toàn bằng mắt, không
mấp máy môi (đọc thầm) giai đoạn cuối lại gồm 2 bƣớc: Di chuyển mắt theo
que trỏ hoặc ngón tay rồi đến chỉ có mắt di chuyển. Giáo viên phải tổ chức quá
trình chuyển từ ngoài vào trong này.
Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời

+ Thuộc lòng một số bài văn vần trong SGK.
1.3.2. Nhiệm vụ
a1. Rèn kỹ năng đọc
tập đọc là môn thực hành tiếng việt. dạy tập đọc chính là dạy một kĩ năng.
Cần coi trọng việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh, cần chú ý đến cả hai hình thức
đọc chủ yếu dạy ở tiểu học: đọc thành tiếng và đọc thầm.
- Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát ra âm thanh (tiếng). hình thức đọc
này dựa trên sự nghiên cứu về quá trình đọc của ngƣời mới tập đọc là: muốn
đọc hiểu cần phải phối hợp các hoạt động thị giác và thính giác: miệng đọc, mắt
nhìn tai nghe nhƣ vậy mới dễ dàng nhớ nội dụng.
Đọc thành tiếng có các mức độ sau:
Đọc đúng: phát âm chính xác các tiếng… cần điều tra lỗi phát âm của học
sinh từng vùng để có biện pháp sửa chữa thích hợp.
Đọc rõ ràng, rành mạch: đọc rõ tiếng, từ, cụm từ, ngắt nghỉ đúng chỗ,
đúng dấu câu, cƣờng độ vừa phải, (không đọc to quá hoặc quá nhỏ, tốc độ vừa
phải không ê a ngắc ngứ, không liến thoắng).
Đọc lưu loát: đọc với tốc độ nhanh. Phát âm rõ ràng, rành mạch không bị
vấp váp, biết ngừng nghỉ đúng dấu câu. Phải luyện tập dần dần, từ đọc đúng tiến
tới đọc nhanh.
Đọc diễn cảm: là kĩ năng dùng ngữ điệu, chỗ ngƣng giọng và các thủ pháp
khác để làm nổi bật các ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã gửi trong nội dung bài
học, đồng thời biểu lộ sự cảm thụ của cá nhân đối với bài học. Đọc
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status