Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ ương đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá nhụ 4 râu (eleutheronema tetradactylum shaw, 1804) giai đoạn cá bột lên cá giống tại hải phòng - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
------

NGUYỄN ĐÌNH TIỆP

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ
ƯƠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ NHỤ
4 RÂU (Eleutheronema tetradactylum Shaw, 1804) GIAI ĐOẠN
CÁ BỘT LÊN CÁ GIỐNG TẠI HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
------

NGUYỄN ĐÌNH TIỆP

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ
ƯƠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ NHỤ
4 RÂU (Eleutheronema tetradactylum Shaw, 1804) GIAI ĐOẠN
CÁ BỘT LÊN CÁ GIỐNG TẠI HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành:

Nuôi trồng thủy sản


Nguyễn Đình Tiệp

iii


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, xin bày tỏ lòng biết ơn đối với trường Đại học Nha Trang, Khoa Sau
đại học Trường Đại học Nha Trang, Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, Ban giám
đốc, phòng đào tạo đã tạo mọi điều kiện để cho tôi được học tập, thực hiện đề tài.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cán bộ hướng dẫn PGS.TS. Lại Văn Hùng đã
tận tình chỉ dẫn, động viên và cho tôi nhiều lời khuyên quý báu trong quá trình tiến
hành thí nghiệm và viết báo cáo luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Trung tâm Quốc gia Giống hải sản miền Bắc, Ban Giám
đốc Trung tâm, các anh chị kỹ thuật viên của Trung tâm đã giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian tham gia thực hiện đề tài tại cơ sở.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, lớp cao học nuôi trồng thủy sản 2013 đã nhiệt tình
giúp đỡ, động viên và góp nhiều ý kiến trong suốt quá trình học tập cũng như trong
thời gian tiến hành thí nghiệm.
Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2015
Người thực hiện

Nguyễn Đình Tiệp

iv


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... iii
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... iv


4.2. Kết quả theo dõi ảnh hưởng thức ăn đến tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ sống cá nhụ
4 râu giai đoạn 1-20 ngày tuổi....................................................................................21
4.2.1. Ảnh hưởng thức ăn đến tăng trưởng chiều dài của cá nhụ 4 râu giai đoạn 1-20
ngày tuổi....................................................................................................................21
4.2.2. Ảnh hưởng thức ăn đến tỷ lệ sống của cá nhụ 4 râu giai đoạn 1-20 ngày tuổi ...25
4.3. Kết quả theo dõi ảnh hưởng mật độ ương nuôi ảnh hưởng đến tăng trưởng chiều
dài và tỷ lệ sống cá nhụ 4 râu giai đoạn 1-20 ngày tuổi. .............................................26
4.3.1. Ảnh hưởng mật độ ương nuôi đến tăng trưởng chiều dài của cá nhụ 4 râu giai
đoạn 1-20 ngày tuổi ...................................................................................................26
4.3.2. Ảnh hưởng mật độ ương nuôi đến tỷ lệ sống của cá nhụ 4 râu giai đoạn 1-20
ngày tuổi....................................................................................................................29
4.4. Kết quả theo dõi ảnh hưởng mật độ ương nuôi đến tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ
sống cá nhụ 4 râu giai đoạn 20-60 ngày tuổi ..............................................................30
4.4.1. Ảnh hưởng mật độ ương đến tăng trưởng chiều dài cá nhụ 4 râu giai đoạn 20-60
ngày tuổi....................................................................................................................30
4.4.2. Ảnh hưởng mật độ ương đến tỷ lệ sống cá nhụ 4 râu từ cá hương lên cá giống
giai đoạn 20-60 ngày tuổi ..........................................................................................32
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .................................................................34
5.1. Kết luận ..............................................................................................................34
5.2. Đề xuất ...............................................................................................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................35
PHỤ LỤC

vi


DANH MỤC KÍ HIỆU
Ký hiệu


CS

Cộng sự

CT

Công thức

E. tetradactylum

Eleutheronema tetradactylum

MD

Mật độ

Mm

Milimét

µm

Micrômét

mg/l

Miligam/lít

TLS



DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường trong các bể thí nghiệm ương cá Nhụ bốn râu ........20
Bảng 4.2: Tăng trưởng chiều dài theo ngày thí nghiệm qua các lần thu mẫu ..............22
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài cá nhụ 1-20 ngày tuổi .......23
Bảng 4.4: Tỷ lệ sống cá nhụ khi ương nuôi sử dụng 3 công thức thức ăn khác nhau giai
đoạn 1-20 ngày tuổi................................................................................25
Bảng 4.5: Tăng trưởng chiều dài theo ngày thí nghiệm 2 qua các lần thu mẫu ...........26
Bảng 4.6: Ảnh hưởng mật độ ương đến tăng trưởng chiều dài cá nhụ 1-20 ngày tuổi .....28
Bảng 4.7: Tỷ lệ sống cá nhụ khi ương nuôi với 5 mật độ khác nhau giai đoạn 1-20
ngày tuổi ................................................................................................29
Bảng 4.8: Ảnh hưởng mật độ ương đến tăng trưởng chiều dài cá nhụ 20-60 ngày tuổi ...30
Bảng 4.9: Tỷ lệ sống cá nhụ khi ương nuôi với 4 mật độ khác nhau giai đoạn 20-60
ngày tuổi ................................................................................................32

ix


DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Hình thái ngoài của cá nhụ 4 râu (Nguồn: Fishbase, 2011)...........................3
Hình 2.2: Phân bố của cá nhụ trên thế giới, màu vàng đỏ trên bản đồ là vùng có cá nhụ
phân bố (nguồn: Fishbase, 21/11/2012) ................................................4
Hình 3.1. Hệ thống bể ương cá nhụ 4 râu giai đoạn hương lên giống .........................14
Hình 3.2: Thức ăn tươi sống dùng trong ương cá nhụ 4 râu từ bột lên hương.............15
Hình 3.3: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu.................................................................16
Hình 3.4. Cá nhụ 4 râu 3 ngày tuổi ............................................................................17
Hình 4.1: Tăng trưởng chiều dài qua các lần thu mẫu giai đoạn 1-20 ngày tuổi .........22
Hình 4.2. Tăng trưởng cá nhụ bốn râu giai đoạn 1-20 ngày tuổi.................................24

lệ sống của cá bột đến từ 1 đến 20 ngày tuổi. Thí nghiệm được tiến hành với 3 công
thức thức ăn như sau: Công thức 1: Luân trùng + Artemia; Công thức 2: Luân trùng+
Copepod + Artemia; Công thức 3: Luân trùng + Copepod
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng mật độ ương nuôi đến sự tăng trưởng về chiều dài và tỷ lệ
sống cá nhụ 4 râu giai đoạn từ cá bột lên cá hương 1-20 ngày tuổi. Thí nghiệm được
tiến hành ương ở 05 mật độ: 10, 20, 30, 40 và 50 con/lít. Thức ăn của cá nhụ 4 râu ở
thí nghiệm 2 được cho ăn bằng công thức thức ăn đã lựa chọn phù hợp nhất cho giai
đoạn ương từ cá bột lên cá hương giai đoạn 1-20 ngày tuổi.
Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng mật độ ương nuôi đến tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ
sống của cá nhụ 4 râu giai đoạn từ cá hương lên cá giống giai đoạn 20-60 ngày tuổi.
Thí nghiệm được tiến hành ương ở 04 mật độ: 200, 400, 600, 800 con/m3, cho ăn bằng
thức ăn NRD hãng Inve. Với phương pháp nghiên cứu như vậy đề tài đã đạt được các
kết quả như sau: Ảnh hưởng thức ăn đến tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ sống cá nhụ 4
râu giai đoạn 1-20 ngày tuổi: Khi sử dụng 3 công thức thức ăn thì khi sử dụng công
thức là: luân trùng loại nhỏ Brachionus rotundiformis + nauplii của Copepoda thì cho
tăng trưởng chiều dài cao nhất đạt 29,61±0,16 mm, còn ở 2 công thức thức ăn còn lại
thì tăng trưởng chiều dài chậm hơn chỉ đạt được 29,07±0,16 mm và 28,99±0,12 mm.
Tỷ lệ sống cá nhụ 4 râu khi ương giai đoạn 1-20 ngày tuổi cho ăn 3 công thức thức ăn
xi


thì khi cho ăn bằng luân trùng loại nhỏ Brachionus rotundiformis + nauplii của
Copepoda cho tỷ lệ sống cao nhất đạt 28,56±0,006%. Ảnh hưởng mật độ ương nuôi
ảnh hưởng đến tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ sống cá nhụ 4 râu giai đoạn 1-20 ngày
tuổi: Tăng trưởng theo chiều dài cá nhụ 4 râu giai đoạn 1-20 ngày tuổi khi ương ở 5
mật độ khác nhau là 10, 20, 30, 40 và 50 con/lít thì tăng trưởng chiều dài của cá cao
nhất ở mật độ 10 con/l và 20 con/l tương ứng là 30,34±0,24 mm và 30,42±0,31 mm
và thấp nhất ở mật độ 40 con/l và 50 con/l tương ứng là 28,41±0,21mm và 28,21±0,28
mm. Tỷ lệ sống cá nhụ khi ương nuôi cá Nhụ giai đoạn 1-20 ngày tuổi với 5 mật độ
khác nhau là 10, 20, 30, 40 và 50 con/lít thì tỷ lệ sống cao nhất ở mật độ 10 con/l và

phòng và trị bệnh xảy ra trên đối tượng cá Nhụ 4 râu nhằm mục đích giảm thiệt hại
cho các người nuôi đối tượng này.
Từ khóa: cá nhụ bốn râu, thức ăn, mật độ, sinh trưởng, tỉ lệ sống

xiii


CHƯƠNG 1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết đề tài
Cá nhụ 4 râu ((Eleutheronema tetradactylum) thuộc cá nhụ Polymidae là loài cá
biển rộng muối, rộng nhiệt. Trên thế giới cá nhụ 4 râu phân bố ở vùng Ấn Độ- phía tây
Thái Bình Dương: Từ vùng vịnh Iran tới Papua New Guinea và phía bắc
Australia.(Motomura, H.,Y. Iwatsuki, S. Kimura and T. Yoshino. 2002). Chúng sống
đáy ở vùng ven bờ, vùng bùn nông ven bờ. Cũng có thể thấy chúng sống ở vùng đáy cát,
vùng hỗn hợp bùn cát. Phân bố ngang thì chúng sống từ đáy ven bờ cho đến độ sâu tới
23m nước. Cũng có loài ban đầu ở các vùng cửa sông phát triển lớn hơn chuyển ra các
vùng nước sâu hơn (FAO,1991). Trên thế giới cá nhụ đã được nghiên cứu và nuôi mở
rộng với nhiều hinh thức khác nhau và đem lại nguồn thu lớn từ đối tượng này.
Việt Nam có rất ít các nghiên cứu về đối tượng này. Các nghiên cứu của
Nguyễn Nhật Thi (1994), Nguyễn Viết Nghĩa (2001) đã xác định phân bố nguồn lợi,
phân loại, đặc điểm hình thái của loài cá nhụ bốn râu ở vùng biển nước ta. Cá nhụ khi
nhỏ chúng sinh sống ở vùng cửa sông ven biển khi trưởng thành ra ngoài khơi, hiện
nay do khai thác quá mức vùng triều kếp hợp với việc làm đầm ao nuôi tôm nên hiện
nay rất ít nguồn cá giống tự nhiên.
Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc trong 5 năm gần đây đã nghiên
cứu sinh học, nuôi đàn cá hậu bị và thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo để từng bước
đưa cá nhụ thành đối tượng nuôi quan trọng của nước ta. Năm 2008 – 2009, thực hiện
đề tài "Nghiên cứu đặc điểm sinh học và thăm dò khả năng nuôi thương phẩm cá nhụ
trong ao đầm nước lợ". Tiếp theo năm 2010 - 2011, thực hiện đề tài "Nghiên cứu kỹ

2.1.2. Đặc điểm hình thái
Cá nhụ 4 râu có cơ thể hình thuôn dài, miệng rộng, mõm hình nón nhọn hơi nhô
lên, mắt lớn và tinh nhanh, lớp mỡ dưới mí mắt phát triển. Có bốn sợi râu ở ngực được
biết đến như cơ quan xúc giác, sợi râu đầu tiên ngắn nhất, nó không vươn tới gốc vây
bụng; sợi râu thứ hai có chiều dài ngang bằng hoặc thỉnh thoảng có trường hợp dài hơn
gốc tia vây bụng; sợi râu thứ ba (hiếm khi dài nhất) kéo dài tới giữa vây bụng; sợi râu
thứ tư dài nhất (chiếm 24% chiều dài chuẩn) nó vươn tới phần sau của tia vây ngực
(không bao giờ vươn quá phần sau của tia vây ngực).
Vây lưng đầu tiên có 8 gai; vây lưng thứ 2 có 1 gai và 14 tia mềm (hiếm khi là
13 hay 15); vây hậu môn có 3 gai, 14 - 16 tia mềm, vây hậu môn có chiều dài dài hơn
chiều dài của vây lưng thứ 2. Màng vây ngực có màu vàng sáng trong suốt, vảy đường
3


bên cơ thể có 71 - 80 (thường là 73) vẩy, phía trên vảy đường bên có 9 - 12 hàng vẩy,
phía dưới là 13 - 15. Mang phía trên có 3 - 8 tấm mang hình lược, phía dưới là 3 - 10,
tổng số có 6 - 18 tấm mang hình lược (Motomura và ctv, 2002).
2.1.3. Đặc điểm phân bố
Cá nhụ 4 râu có phân bố rộng từ vùng Ấn Độ - phía Tây Thái Bình Dương:
từ vịnh Iran tới Papua New Guinea và phía Bắc Australia (Motomura và ctv, 2002)
và có phân bố phổ biến ở Đông Á và Đông Nam Á (Rainboth, 1996). Ở Ấn Độ, cá
nhụ 4 râu phân bố khắp vùng biển Ấn Độ, ở Australia phân bố vùng biển phía Bắc
(Newman, 2011).
Cá nhụ 4 râu trưởng thành có chiều dài trung bình 550 - 700mm, khối lượng 5 7kg. Người ta đã bắt gặp được cá nhụ 4 râu ngoài tự nhiên có chiều dài tới 2m, khối
lượng 145kg (Motomura và ctv, 2002). Cá nhụ có thể sống trong cả môi trường nước
ngọt, lợ và mặn. Chúng là loài cá nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng nằm
trong khoảng 20 - 28C (Abu Hena và ctv, 2011).

Hình 2.2: Phân bố của cá nhụ trên thế giới, màu vàng đỏ trên bản đồ là vùng có
cá nhụ phân bố (nguồn: Fishbase, 21/11/2012)

- Giai đoạn IV: Tinh trùng phát triển đầy đủ, xoang tinh trùng gần ống dẫn tinh
trùng và chiếm đến một nửa diện tích của tinh hoàn .
- Giai đoạn V và VI: Giai đoạn thành thục sinh dục, tinh dịch chứa nhiều trong
tinh hoàn. Ống dẫn tinh trùng và phần lớn của tinh hoàn chứa của spermatids và tinh
trùng. Thường rất khó để phân biệt giữa tinh trùng ống và xoang.
- Giai đoạn VII: Giai đoạn bắt đầu thoái hoá, tuyến sinh dục teo nhỏ lại, vẫn
quan sát thấy tinh trùng trong xoang và ống.
- Giai đoạn VIII - thoái hoá: Tinh hoàn teo lại, chuyển màu từ đỏ sang màu
nâu, teo nhỏ lại, các hố lõm xuất hiện các tế bào sinh dục đực ở các giai đoạn phát
triển khác nhau.
Đặc điểm của trứng: Karandikar và Palekar (1950) đã mô tả kích thước trứng
của cá nhụ thu được ở vùng biển Ấn Độ: Khi cá chưa thành thục sinh dục, đường kính
5


của trứng đo được là dưới 0,4mm. Trứng đang thành thục, đường kính của trứng đo
được từ 0,45 - 0,68mm, khi cá đã thành thục, trứng rời, đường kính của trứng đo được
từ 0,7 - 1,0 mm, giọt dầu hình cầu trong trứng có đường kính 0,25 - 0,3mm. Patnaik
(1967) khi nghiên cứu cá nhụ ở Ấn Độ, tác giả đã mô tả buồng trứng của cá nhụ phát
triển qua 7 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn I: Buồng trứng là một dải mảnh, trứng hình thành có màu hơi trắng,
đường kính trứng từ 0 – 0,08mm;
- Giai đoạn II (từ tháng 1- tháng 8): Buồng trứng to hơn giai đoạn I, có màu
hồng nhạt, noãn bào hình thành, đường kính trứng 0 – 0,24mm;
- Giai đoạn III (tháng 7): Buồng trứng to màu hồng, noãn bào phát triển, hạt
trứng hình cầu, đường kính từ 0 – 0,38mm;
- Giai đoạn IV (tháng 7): Buồng trứng chuyển sang màu vàng nhạt, hạt trứng rõ
ràng màu đục, đường kính 0 – 0,51mm;
- Giai đoạn V (tháng 9 - tháng 12): Buồng trứng kích thước lớn màu vàng,
trứng hình cầu màu hơi đục, đường kính 0 – 0,62mm;

24-280C, nước ương được bổ sung tảo Chlorella, Nannochloropsis oculata, từ ngày thứ
2 đến ngày thứ 15 cho ăn luân trùng mật độ 15 – 20ct/ml, từ ngày 15 đến 30 cho ăn
nauplii của Artemia, khi cá đạt kích cỡ 1,5cm (30 ngày tuổi) cho ăn thức ăn tổng hợp.
Hàng ngày xiphon, thay nước, theo dõi DO, độ mặn, nhiệt độ, pH và lượng thức ăn tươi
sống. Khi cá đạt kích cỡ 2cm, có hiện tượng ăn nhau cần tiến hành san lọc cá.
Như vậy, các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá nhụ đã được quan tâm và đầu tư
nghiên cứu từ thập niên 60 của thế kỷ trước, các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cũng
được triển khai từ thập niên 90. Mặc dù việc nghiên cứu đối tượng cá nhụ từ khá lâu
nhưng hiện nay cũng chỉ có một số quốc gia làm chủ được công nghệ sản xuất loài cá
này và có rất ít các công trình nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo được công bố.
Stanger (1974) khi nghiên cứu về sinh trưởng của cá nhụ 4 râu ở Australia cho
rằng, cá nhụ lớn nhanh trong sáu tháng đầu. Sau 1 năm nuôi cá đạt chiều dài 300mm;
sau 3 năm nuôi đạt 450mm. Pemper và ctv (2006) khi nghiên cứu 1.446 mẫu cá ở các
cỡ tuổi khác nhau đã xác định cá nhụ có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất trong độ tuổi từ
1 - 2 năm, 1 năm tuổi đạt chiều dài 200 - 250mm, sau 2 năm tuổi đạt gần 400mm, sau
đó tốc độ sinh trưởng giảm dần, chiều dài lớn nhất đạt 1.800 - 2.000mm. Ở vùng biển Ấn
Độ cá có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, chiều dài tối đa có thể đạt 2.000 - 2.200mm ở 6
tuổi (Gopalakrishnan, 1972; Krishhnamurthy và Jeyaseelan, 1981; Feltes, 1999) cho rằng
cá nhụ sau một năm tuổi đạt chiều dài 190mm, sau 2 năm tuổi đạt 370mm. Trong khi cá
nhụ nuôi ở Mỹ có thể đạt 0,5 - 1kg sau thời gian nuôi từ 8 - 12 tháng.

7


2.1.5.Đặc điểm dinh dưỡng
- Thức ăn của ấu trùng
Luân trùng là sinh vật làm thức ăn thích hợp nhất cho ấu trùng cá biển, ấu trùng
cá có miệng nhỏ nên kích cỡ của luân trùng đóng vai trò quan trọng. Ấu trùng thường
chỉ ăn được con mồi có kích cỡ mồi khoảng 20 - 80% chiều rộng miệng của chúng.
Theo Mao (2009) thức ăn ban đầu cho cá nhụ có chiều rộng 80-100µm là thích hợp

Trên cơ sở phân tích mô học buồng trứng, Pember (2006) nhận thấy tại vùng
biển phía bắc Australia, từ tháng giêng đến tháng 8 bắt gặp cá có tuyến sinh dục giai
đoạn II; giai đoạn III và IV bắt đầu từ tháng bảy; giai đoạn thành thục và sinh sản V và
VI từ tháng 9 đến tháng 10; giai đoạn VII và VIII bắt gặp ở các tháng 12 và tháng 2.
Hệ số thành thục (GSI) cá đực cao nhất vào tháng 10, thấp nhất vào tháng 6, cá lưỡng
tính cao nhất vào tháng 10, cá cái có GIS cao nhất vào tháng 9 và tháng 11. Mùa vụ
sinh sản chính từ tháng 9 – 12 (Pember, 2006).
Cá nhụ phân bố ở các vùng địa lý khác nhau có mùa vụ sinh sản cũng khác
nhau. Ở Thái Lan mùa vụ sinh sản của cá nhụ bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8 (Chao
và ctv, 1994). Ở Đài Loan, mùa vụ sinh sản của cá nhụ từ tháng 7 đến tháng 11 và đạt
đỉnh vào tháng 10. Ở Ấn Độ những nghiên cứu cho thấy cá nhụ sinh sản hai lần trong
năm. Kagwade (1970) cho biết tại vùng biển Bombay mùa vụ sinh sản của cá nhụ từ
cuối tháng 1 đến tháng 4 và từ tháng 7 đến tháng 9. Patnail (1970) khi nghiên cứu mùa
vụ sinh sản cá nhụ ở hồ Chika (Ấn Độ) ông bắt gặp cá có tuyến sinh dục ở giai đoạn III,
IV vào tháng 11 năm trước đến tháng 6 năm sau; giai đoạn V từ tháng 12 đến tháng 7
năm sau; giai đoạn VI từ tháng giêng đến tháng 7 và giai đoạn VII thoái hoá, tác giả
nhận định mùa vụ sinh sản chính của cá nhụ ở hồ Chika là từ tháng giêng đến tháng 7.
Ở Ả rập, Karandikar và Palekar (1950) nghiên cứu về mùa vụ sinh sản của cá
nhụ ở vùng biển phía bắc thấy rằng: Cá nhụ sinh sản 2 vụ trong năm, vụ đầu từ tháng
1 đến tháng 4; vụ 2 từ tháng 7 đến tháng 9. Ở vùng vịnh Papua cá nhụ sinh sản vào
tháng 8 (Haines, 1979). Theo Stanger (1974) và Kailola và ctv (1993) khi nghiên cứu
mùa vụ sinh sản của cá nhụ tại Queenland và Australia thấy rằng: Cá nhụ sinh sản 1
vụ/năm và ở đây mùa vụ của cá bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 12. Pember (2006) cho
biết từ tháng 8 đến tháng giêng năm sau bắt gặp cá có tuyến sinh dục thành thục (giai
đoan V/VI), hệ số thành thục GSI cao nhất vào tháng 9 đến tháng 12.
* Hệ số thành thục cá nhụ 4 râu
Do cá nhụ là một đối tượng nuôi phổ biến và có giá trị kinh tế cao, nhiều quốc
gia đã và đang đầu tư nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản nhằm phục vụ mục tiêu
sản xuất giống và bảo vệ nguồn lợi. Các công trình nghiên cứu có thể được tóm lược
như sau:

Những nghiên cứu ban đầu về sinh sản nhân tạo được thực hiện tại Ấn Độ từ
năm 1973 (Stanger, 1974) và tại Thái Lan (Wudthisin, 1984). Malaysia đã thành công
trong sản xuất giống cá nhụ vào năm 2000. Australia đã nghiên cứu cá nhụ về sinh
học, sinh sản tuy nhiên chưa thành công trong sản xuất giống nhân tạo. Hiện nay, Đài
Loan và Trung Quốc đã thành công trong sản xuất giống cá nhụ và đã thương mại hóa
giống cá nhụ ra thị trường quốc tế (http://wf.konong.com/yulei/625219x.shtml).

10


Cá nhụ là đối tượng nuôi phổ biến ở nhiều nước như Australia, Đài Loan,
Malaysia, Singapore và Thái Lan. Ở Đài Loan cá nhụ được nuôi phổ biến trong ao
đầm nước lợ, trong các trang trại nuôi tôm sau khi bị dịch bệnh và nuôi lồng (AbuHena và ctv, 2011). Ở Singarpore, cá nhụ được xác định là đối tượng ưu tiên phát triển
nuôi (Chua, 1996). Ở Malaysia cá nhụ là một trong 15 loài nuôi quan trọng trong chiến
lược phát triển nuôi biển. Ở Australia ngoài nghiên cứu để khai thác tự nhiên, cá nhụ
còn được nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm. Ở Ấn Độ, cá nhụ được nuôi
phổ biến, diện tích và sản lượng ngày càng tăng (Motomura, 2004).
Quốc gia tiêu thụ sản phẩm cá nhụ nuôi thương phẩm nhiều nhất là Singapore,
tiếp đến là Trung Quốc, nhu cầu tiêu thụ cá nhụ của Trung Quốc khoảng 20-30
tấn/ngày, tại Hồng Kông và Macao là 10 tấn/ngày (Sih Yang Sim và ctv, 2006).
Như vậy, hiện nay tình hình sản xuất giống và nuôi cá nhụ trên thế giới đã được các
tác giả đề cập, việc sản xuất giống cá nhụ mới chỉ thành công ở một số nước và việc
phát triển nuôi thương phẩm cá nhụ tuỳ thuộc nhiều vào sự chủ động về số lượng con
giống sinh sản nhân tạo. Một số quốc gia nuôi cá nhụ do chưa chủ động được công
nghệ sản xuất giống nhân tạo nên phải nhập con giống từ Đài Loan.

2.2.2. Tình hình nghiên cứu và nuôi cá nhụ của Việt Nam
Ở Việt Nam, cá nhụ cũng được xác định có phân bố tự nhiên ở vùng biển phía
Bắc nước ta và thường xuất hiện trong các ao đầm có diện tích lớn, lấy giống tự nhiên
thuộc các tỉnh ven biển miền Bắc. Từ xa xưa cá nhụ đã được dân biển xếp vào nhóm

Thực tế đề tài đã triển khai được từ tháng 1/2011, sau 8 tháng triển khai đến nay
kết quả đề tài đã nuôi được 3 ao cá nhụ tại Trạm Nghiên cứu thủy sản Nước lợ - Hải
Phòng và 2 ô lồng nuôi cá nhụ tại bè nuôi cá bố mẹ thuộc Trung tâm Quốc gia giống
Hải sản miền Bắc - Viện 1. Cụ thể (số liệu kiểm tra ngày 5/8/2011):
- Nguồn cá giống Việt Nam: Đã triển khai nuôi 01 ao, diện tích 1000m2, nuôi 520
con cá nhụ có nguồn gốc thu gom tự nhiên tại Hải Phòng, Nam Định, Quảng Ninh; cá có
khối lượng ban đầu 70-100 gam/con, thời điểm thả giống 20/1/2011. Đến nay cá đã đạt
khối lượng từ 400 – 900 gam/con, trung bình khối lượng đạt 650gam/con;
- Nguồn cá giống nhập khẩu từ Đài Loan:
+ Nuôi ao: Đã triển khai nuôi 2 ao, diện tích 1000m2/ao, mỗi ao nuôi 1000 con
cá nhụ giống có nguồn gốc sinh sản nhân tạo nhập từ Đài Loan, khối lượng ban đầu là
2,0 gam/con, thời điểm thả giống 18/6/2011. Đến nay đàn cá đạt khối lượng trung bình
31,0 gam/con;
+ Nuôi lồng: Đã triển khai nuôi 2 ô lồng (kích thước mỗi ô là 3mx3mx3m), mật
độ thả là 400 con/ô lồng, thời điểm thả giống 18/6/2011. Đến nay đàn cá đạt khối
lượng trung bình 28,5 gam/con, tỷ lệ sống đạt 67,75%.
12



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status