ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHỔNG THỊ HỒNG CẨM
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ACID PAK 4 WAY ĐẾN KHẢ
NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ LÔNG MÀU NUÔI CHUỒNG HỞ
TẠI THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Chăn nuôi Thú y
Lớp:
47 - CNTY - N01
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2015 - 2019
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ
LỜI NÓI ĐẦU
Với phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực
tiễn”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong chương trình đào tạo của
các trường đại học nói chung và Trường Đại Học Nông Lâm, Đại học Thái
Nguyên nói riêng. Và mỗi sinh viên đều phải trải qua đợt thực tập tốt nghiệp,
đây là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên tiếp cận với sản xuất, nhằm nâng
cao kiến thức đã được học trong nhà trường đồng thời giúp sinh viên có được
những kinh nghiệm thực tế. Từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, rèn
luyện cho sinh viên kỹ năng tổ chức, triển khai các hoạt động, ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc
đúng đắn, đáp ứng được nhu cầu xã hội góp phần xây dựng nền nông nghiệp
nước nhà ngày càng phát triển.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của trường, Ban
Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS. Trần Thanh
Vân và cô giáo PGS.TS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ, em tiến hành thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của Acid pak 4 way đến khả năng sản xuất thịt
của gà lông màu nuôi chuồng hở tại Thái Nguyên”. Do bước đầu làm quen
với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh
nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập ngắn nên bản khóa luận của
em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để bản khóa luận của em được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày 08 tháng 06 năm 2019
Sinh viên
Khổng Thị Hồng Cẩm
Hình 4.5. Biểu đồ chỉ số sản xuất ................................................................... 41
Hình 4.6. Biểu đồ chỉ số kinh tế ...................................................................... 41
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
AP4W
Acid pak 4 way
Cs
Cộng sự
ĐC
Đối chứng
ĐHNL
Trường Đại học Nông Lâm
FCR
vi
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. iii
DANH MỤC CÁC HÌNH .............................................................................. iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................... v
MỤC LỤC ....................................................................................................... vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích của đề tài .................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
2.1.1. Vài nét giới thiệu về Acid pak 4 way...................................................... 3
2.1.2. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà ................ 7
2.1.3. Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh
trưởng của gia cầm ................................................................................ 10
2.1.4. Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương
Phượng và gà F1 ................................................................................... 15
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 18
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 18
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 20
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 20
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm ngày càng được chú trọng phát
triển. Bởi nó cung cấp cho chúng ta các sản phẩm thịt, trứng - nguồn protein rất
quan trọng cho con người. Trong mỗi gia đình ở nông thôn, gia cầm nói chung và
gà nói riêng bao giờ cũng được quan tâm hơn các loại vật nuôi khác vì nó phù hợp
với tất cả gia đình nhất là những gia đình không có đủ khả năng để nuôi những
động vật đòi hỏi kinh phí lớn như: nuôi lợn, nuôi trâu, bò thịt, bò sữa. Từ nhiều
năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh và có những tiến bộ vượt
bậc là nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất. Chăn nuôi gia cầm chỉ
đứng hàng thứ hai sau chăn nuôi lợn, giữ một vai trò quan trọng trong nông nghiệp
và nông thôn ở nước ta.
Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp việc bổ sung các chất kích thích tăng
trưởng, kháng sinh vào khẩu phần được sử dụng rất nhiều. Ngày nay việc sử dụng
các chất này có xu hướng giảm dần do chúng có tác động xấu đến sức khỏe của
người tiêu dùng bởi sự tồn dư của chúng hầu hết ở trong sản phẩm thịt, trứng.
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu đời sống của người dân ngày càng được
nâng cao. Họ đòi hỏi thực phẩm có chất lượng cao, mùi vị thơm ngon. Chính vì
vậy, nghiên cứu về tiềm năng của các chất bổ sung có thành phần tự nhiên để
thay thế các chất hóa học có ý nghĩa rất quan trọng.
Hiện nay, ở nước ta Acid pak 4 way được sử dụng khá phổ biến đặc biệt trong các
trang trại lớn để thay thế các chất kích thích tăng trưởng và kháng sinh. Acid pak 4 way
là chế phẩm pha nước uống, có chứa 4 thành phần thiết yếu (acid, enzyme, chất điện
giải và vi khuẩn acid lactic), cung cấp đủ nguồn acid dùng cho quá trình tiêu hóa
protein và duy trì pH, nhằm cung cấp môi trường đường ruột tối ưu cho vật nuôi, cho
phép các vi sinh vật sản xuất acid lactic đi qua đường ruột đồng thời hạn chế vi khuẩn
gây bệnh mà không ảnh hưởng đến cân bằng điện giải. Hiệu quả của acid pak 4 way đã
2
sung acid pak 4 way vào nước uống nhằm làm pH của nước giảm xuống dưới 4 và
mức tốt nhất là từ 3 đến 3,5. Giảm pH nước đã làm gia cầm nhanh chóng giảm pH
của chất chứa ở diều đến khoảng thích hợp nhất cho các hoạt động của vi sinh vật sản
sinh acid lactic đồng thời hạn chế được sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh.
Hơn nữa, Acid pak 4 way còn làm gia tăng đáng kể magiê, clorua, photphat, sunfat,
florua, natri, kali hữu cơ, sắt, mangan, kẽm, với các hiệu ứng thuận lợi cho sự tăng
trưởng và phát triển của gà.
- Cơ chế tác động: Chất acid hóa trong AP4W là một chất đệm acid citrate bao
gồm acid citric và natri citrate. Thông qua hoạt động đệm của acid này AP4W có thể làm
giảm pH đến khoảng mong muốn, rồi giữ ở mức đó.
- Đối tượng sử dụng: Lợn, gia cầm, bò thịt, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi
ngựa, thú cưng.
- Thành phần acid pak 4 way: gồm 4 nhóm
Nhóm 1: Các acid hữu cơ (acid citric, acid sorbic)
Acid hữu cơ được dùng khá phổ biến trong thức ăn công nghiệp. So sánh với
các thức ăn bổ sung khác, acid hữu cơ được đánh giá là có lợi ích cao nhất đối với
thành tích chăn nuôi. Các acid hữu cơ được sử dụng phổ biến trong thức ăn chăn
nuôi gồm có formic, axetic, propionic, butyric, lactic, sorbic, fumaric, tartaric,
citric, benzoic, và malic, và được chia làm 2 nhóm dựa theo đặc tính của chúng.
Nhóm thứ nhất gồm có: Lactic, fumaric, citric có đặc tính gián tiếp giảm thiểu số
lượng vi khuẩn bằng cách giảm trừ độ pH trong dạ dày; trong khi đó, nhóm thứ hai
4
gồm có: Formic, axetic, propionic và sorbic có đặc tính tác động trực tiếp làm giảm
độ pH trong đường tiêu hóa trên tế bào của vi khuẩn Gram.
Theo nghiên cứu của Byrd J và cs, (2001) [15] chỉ ra rằng việc bổ sung acid
hữu cơ vào nước uống giúp giảm mức độ mầm bệnh trong nước, điều chỉnh hệ vi
sinh đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và cải thiện hiệu suất tăng trưởng.
thấu của máu và mô bào, ổn định nhịp tim và hô hấp, giúp cho các dây thần kinh và
cơ bắp hoạt động đúng chức năng, giảm stress do nhiệt.
ZnSO4: Đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất protein, carbohydrate, lipit.
Có vai trò trong phát triển xương, duy trì sức sinh sản, chống sừng hóa.
MgSO4: Là thành phần của xương và răng. Đảm bảo khả năng hoạt động của
hệ thống thần kinh và cơ, nằm trong thành phần 1 số enzyme. Điều hòa phản ứng
photphoryl - oxy hóa, tham gia vào điều hòa thân nhiệt.
Nhóm 3: Các chiết xuất men được sấy khô (chiết xuất men Aspergillus
niger, chiết xuất men Bacillus subtilis, sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus
và chiết xuất men Enterococcus faecium đều được sấy khô).
Chiết xuất men Aspergillus niger được sấy khô
+ Phân bố nhiều trong tự nhiên (đất, xác bã thực vật, hoa quả và đặc biệt
nhiều ở vùng khí hậu ấm áp). Là những cơ thể hiếu khí sống hoại sinh hoặc kí sinh,
không có khả năng quang hợp, sống nhờ khả năng hấp thụ các loại chất hữu cơ có
sẵn quan bề mặt khuẩn tỵ.
+ Có khả năng đồng hóa các loại đường khác nhau như: Glucose, fructose, ...
từ đó tham gia quá trình sản xuất acid citric.
Chiết xuất men Bacillus subtilis được sấy khô
+ B.subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất là
amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa.
+ B.subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng
ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn
Gram (-), Gram (+) và nấm gây bệnh.
+ B.subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi
uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy. Ở
ruột, bào tử nảy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ vi sinh có
ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụng kháng sinh
kéo dài.
Sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus được sấy khô
- Giúp duy trì môi trường của hệ tiêu hóa, hiệu quả cao khi sử dụng cho việc
úm gà, rút ngắn thời gian chuyển tiếp trước và sau khi chuyển đàn.
- Gia tăng khả năng miễn dịch: Giảm các phản ứng do tiêm chủng vắc -xin và
7
gia tăng chuẩn độ kháng thể.
- Khống chế và giảm tối đa vi khuẩn gây bệnh đường ruột.
- Bổ sung vitamin tổng hợp giúp vật nuôi khỏe mạnh nhanh, mau lớn, trứng to,
vỏ dày, ngoại hình đẹp.
- Phân khô, giảm mùi nhanh chóng sau khi sử dụng.
2.1.1.3. Liều lượng sử dụng Acid pak 4 way
Liều lượng và cách bổ sung AP4W: Pha 0,5 g/1 lít nước AP4W cho gà uống liên
tục trong 5 ngày đầu tiên và 1lần/ tuần vào các tuần tiếp theo ( pha 0,5 g/1 lít nước
uống).
2.1.2. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà
Hình 2.1. Hệ tiêu hoá của gia cầm
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú.
Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức
ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn
hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm (Xelianxki, 1986). Chiều dài
của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó
không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác.
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, số lượng thức ăn mà gia cầm ăn được trong 1
đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của thức ăn, loài và tuổi của gia
một lần/phút).
9
Dạ dày cơ (mề) có dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau và có thành rất
dày, có màu đỏ sẫm… Phần trên của dạ dày cơ thông với dạ dày tuyến qua khe
tương đối thắt lại, gần vị trí đó là khe thông với tá tràng. Dạ dày cơ không tiết dịch
tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ. Thức ăn được
nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới tác dụng của men dịch dạ dày,
enzyme và các vi khuẩn. Acid Chlohydric tác động làm cho các pepton và một phần
thành các acid amin. Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được truyền vào tá tràng có
các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều
kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid. Sỏi và các
dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày. Đối với gia cầm, sỏi
tốt nhất là từ thạch anh, chúng bền với acid clohidric của dịch dạ dày.
* Tiêu hoá ở ruột
Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm. Toàn bộ
phần ruột non dài khoảng 100 - 150 cm. Ruột non bắt đầu từ bên phải dạ dày cơ đi
xuống phía dưới dạ dày cơ, cong gập lại, đi xuống xoang chậu rồi ngược trở lại lên
phía trên tạo thành vòng. Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh
dưỡng đều được tiến hành chủ yếu ở ruột non.
Phần ruột già gồm manh tràng (có hai manh tràng) và trực tràng.
Dịch ruột gà là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH = 7,42) với tỷ
trọng 1,0076. Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và
lypolytic và cả men enterokinaza.
Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi
kiềm ( pH = 6 ở gà, pH = 7,2 - 7,5 ở gia cầm khác). Trong chất khô của dịch, ngoài
các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl 2, NaHCO3...).
Dịch này có men tripsin, carboxin peptidaza, mantaza và lipaza. Dưới tác dụng
vitamin được hấp thu.
2.1.3. Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh
trưởng của gia cầm
2.1.3.1. Khái niệm sinh trưởng
Ở vật nuôi từ khi hình thành phôi đến khi trưởng thành khối lượng và thể tích
cơ thể tăng lên. Điều này trước tiên là tế bào tăng lên về số lượng, các cơ quan bộ
phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước. Từ đó, dẫn đến
11
khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên. Sự lớn lên của cơ thể là do sự tích lũy các
chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất.
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật
nhất định. Trần Đình Miên và cs, (1992) [5], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là
quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng chiều cao,
chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể
trên cơ sở tính di truyền từ đời trước.”
Theo tài liệu của Chambers (1990) [16], thì tác giả MoZan (1977) đã đưa ra
khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt,
xương, da. Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn
phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác.
Theo Trần Thanh Vân và cs, (2015)[13], sinh trưởng là đặc điểm chất lượng
phản ánh sức sản xuất, nó mang tính di truyền và liên quan đến những đặc điểm trao
đổi chất và kiểu hình của dòng, giống. Đặc điểm này có ý nghĩa trong thực tế rất lớn.
Nếu giống gia cầm nào đó có sức sinh trưởng nhanh thì vỗ béo và giết thịt sớm hơn,
sử dụng thức ăn tốt hơn.
2.1.3.2. Những chỉ tiêu sản xuất của gà thịt
- Khối lượng cơ thể: Sức sản xuất thịt của gia cầm là khả năng hình thành cơ ở
giai đoạn sớm, chi phí thức ăn cho tăng khối lượng ít, nghĩa là đạt hiệu quả kinh tế
+ Tỷ lệ thân thịt (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt và khối
lượng sống.
+ Tỷ lệ thịt đùi (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi và khối lượng
thân thịt.
+ Tỷ lệ thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt ngực và khối
lượng thân thịt.
+ Tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi,
thịt ngực với khối lượng thân thịt.
+ Tỷ lệ mỡ bụng (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối
lượng thân thịt.
- Chỉ số sản xuất (Performance index - PI): Chỉ số sản xuất là một đại lượng
biểu thị mối quan hệ tổng hợp giữa khối lượng cơ thể, tỷ lệ nuôi sống, FCR và thời
gian nuôi. Chỉ số sản xuất là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế của nuôi
13
gia cầm lấy thịt.
- Chỉ số kinh tế (Economic number - EN): EN càng cao thể hiện hiệu quả
kinh tế càng lớn.
2.1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của
gia cầm.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như giống, giới tính, tốc
độ mọc lông, dinh dưỡng, các điều kiện chăn nuôi...
-Ảnh hưởng của dòng, giống
Theo tài liệu của Chambers (1990) [16], có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh
trưởng và phát triển của cơ thể gà. Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có
gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính
trạng, có gen ảnh hưởng đến một vài tính trạng riêng lẻ.
Mỗi giống có một khả năng sinh trưởng nhất định, sự khác nhau về sinh trưởng
- Ảnh hưởng của môi trường chăm sóc nuôi dưỡng
Khả năng sinh trưởng của gia cầm bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố môi trường
và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Khẩu phần ăn đầy đủ và cân đối các chất dinh
dưỡng, chăm sóc quản lý chu đáo sẽ có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng nâng
cao năng suất chăn nuôi.
Nhiệt độ, ẩm độ, chế độ chiếu sáng và mật độ nuôi nhốt đều có ảnh hưởng lớn
đến sinh trưởng, tỷ lệ nuôi sống và sức chống chịu bệnh tật của gia cầm.
Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng rất rõ rệt, đặc biệt là
giai đoạn gà con. Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây
thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí
hậu nhiệt đới (Wesh Bunr, 1992 [22]).
Ẩm độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của gia cầm. Khi ẩm
độ tăng làm cho chất độn chuồng dễ ẩm ướt, thức ăn dễ bị ẩm mốc làm ảnh hưởng
xấu đến gà. Đặc biệt là NH3 do vi khuẩn phân hủy acid uric trong phân và chất độn
chuồng, làm tổn thương đến hệ hô hấp của gà, tăng khả năng nhiễm bệnh cầu trùng,
CRD dẫn tới làm giảm khả năng sinh trưởng của gà.
Trong điều kiện nóng ẩm mưa nhiều như nước ta, độ thông thoáng trong
chuồng có vai trò quan trọng trong việc giúp gà có đủ O2, thải CO2 và các chất độc
khác, nó giúp giảm ẩm độ chuồng nuôi, điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi, qua đó
15
hạn chế bệnh tật.
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà, gà rất
nhạy cảm với ánh sáng, mỗi giai đoạn gà cần chế độ chiếu sáng khác nhau. Theo
Trần Thanh Vân và cs, (2015) [13], đối với gà giết thịt sớm 38 - 42 ngày tuổi, thời
gian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ, cường độ ánh sáng 20
lux/m2, ngày thứ tư đến khi kết thúc thời gian chiếu sáng giảm xuống còn 23/24 giờ,
cường độ chiếu sáng còn 5 lux/m2.
Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng chân 4 ngón, có hai hàng
vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi.
* Khả năng sản xuất
Dẫn theo Trần Thanh Vân và cs, (2015) [13], các kết quả nghiên cứu được
công bố của Nguyễn Viết Ly, 2001; Át lát vật nuôi, 2004; Nguyễn Đăng Vang,
Nguyễn Thanh Sơn, 2000; Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006 thì:
Khối lượng mới nở là 30 - 31 g; 6 tháng tuổi gà mái là 1130 g, ở gà trống là
1636 g; đến 12 tháng tuổi gà mái là 1246 g, ở gà trống là 2735 g. Thịt thơm ngon
màu trắng.
Thành thục về tính sớm: Gà trống 2 - 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà
mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng.
Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 - 15 quả. Năng suất trứng có thể đạt từ 70 - 125
quả. Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6 %, tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78 %, tỷ lệ gà con loại
I đạt 94,1 %.
Gà nuôi thịt đến 12 tuần: Tỷ lệ nuôi sống là 95,7 %. Khối lượng con trống:
1.140,7 g; con mái 940,5 g. Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là 77,75 %. Còn tỷ
lệ thịt đùi + thịt ngực đạt 37 %.
Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả.
2.1.4.2. Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng
* Nguồn gốc
Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa, do xuất xứ từ vùng ven
sông Lương Phượng. Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố
Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm
nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài. Việt
Nam nhập từ Trung Quốc năm 1997.
* Đặc điểm ngoại hình
Gà Lương Phượng có hình dáng bên ngoài gần giống với gà Ri của ta. Lông
màu vàng tuyền, vàng đen hoặc đốm hoa. Mào, yếm, mặt và tích tai màu đỏ. Gà