nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––– PHẠM THANH VŨ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA LOẠI HÌNH
THỨC ĂN VÀ PHƢƠNG THỨC NUÔI ĐẾN KHẢ NĂNG
SẢN XUẤT THỊT CỦA VỊT CV SUPER M
3

THƢƠNG PHẨM TẠI VĨNH PHÚC

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA LOẠI HÌNH
THỨC ĂN VÀ PHƢƠNG THỨC NUÔI ĐẾN KHẢ NĂNG
SẢN XUẤT THỊT CỦA VỊT CV SUPER M
3

THƢƠNG PHẨM TẠI VĨNH PHÚC Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHÙNG ĐỨC TIẾN
TS. NGUYỄN THỊ THUÝ MỴ THÁI NGUYÊN - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i


Tôi xin trân trọng cảm ơn sự động viên, giúp đỡ vô hạn của gia đình và
bạn bè, đồng nghiệp… đã góp phần to lớn để tôi hoàn thành thí nghiệm và
luận văn.
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 05 năm 2010
Học viên Phạm Thanh Vũ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I
LỜI CẢM ƠN II
MỤC LỤC III
DANH MỤC BẢNG V
MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA
ĐỀ TÀI 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1. Đặc điểm sinh vật học của vịt 3

3.2.1. Sinh trưởng tích lũy 39
3.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm 44
3.2.3. Sinh trưởng tương đối của vịt thí nghiệm 48
3.2.4. Hệ số sinh trưởng 53
3.3. Khả năng sử dụng và chuyển hóa thức ăn 55
3.3.1. Lượng thức ăn tiêu thụ của vịt thí nghiệm qua các tuần tuổi 55
3.3.2. Khả năng chuyển hóa thức ăn 57
3.4. Chỉ số sản xuất PI (Performance-Index) 67
3.5. Chỉ số kinh tế (EN - Economic Number) 69
3.6. Khả năng sản xuất thịt của vịt thí nghiệm 70
3.6.1. Năng suất thịt 70
3.6.2. Thành phần hóa học của thịt xẻ 73
3.7. Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vịt broiler 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76
1. Kết luận 76
2. Đề nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
SO SÁNH THỐNG KÊ 87 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Số lượng vịt trên thế giới năm 2001 - 2007 23
Bảng 1.2. Sản lượng thịt vịt trên thế giới năm 2001 - 2007 23
Bảng 1.3. Số lượng đầu con thủy cầm năm 2001 - 2006 26

theo phương thức nuôi 59
Bảng 3.8a. Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến tiêu tốn protein cộng dồn
cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm 61
Bảng 3.8b: Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến tiêu tốn protein cộng
dồn cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm 62
Bảng 3.9a. Tiêu hóa protein hữu hiệu của vịt thí nghiệm theo loại hình thức ăn 63
Bảng 3.9b. Tiêu hóa protein hữu hiệu của vịt thí nghiệm theo phương thức nuôi 63
Bảng 3.10a. Tiêu tốn ME cộng dồn cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm
theo loại hình thức ăn 65
Bảng 3.10b. Tiêu tốn ME cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm theo phương
thức nuôi 66
Bảng 3.11a. Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến chỉ số sản xuất của vịt thí
nghiệm (chung đực, cái;) 68
Bảng 3.11b. Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến chỉ số sản xuất của
vịt thí nghiệm (chung đực, cái) 68
Bảng 3.12a: Chỉ số kinh tế của vịt thí nghiệm theo loại hình thức ăn 69
Bảng 3.12b. Chỉ số kinh tế của vịt thí nghiệm theo phương thức chăn nuôi 70
Bảng 3.13: Kết quả mổ khảo sát vịt thí nghiệm ở 56 ngày tuổi 71
Bảng 3.14: Thành phần hóa học thịt xẻ ở dạng tươi của vịt thí nghiệm ở 56
ngày tuổi 73
Bảng 3.15: Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vịt thương phẩm 74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài

. Năng suất trứng 238 -
263quả/mái/48 tuần đẻ, tỷ lệ phôi 85%, tỷ lệ nở 62 - 64%. Vịt thương phẩm nuôi
đến 47 ngày tuổi có khối lượng trung bình 3,66kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối
lượng 2,18kg, tỷ lệ nuôi sống 97% [58].
Các tính trạng của một giống được hình thành, ngoài các yếu tố di truyền, tác
động của con người thì các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, thức ăn,
phương thức chăn nuôi … có ảnh hưởng rất lớn đến đặc tính sinh trưởng, sinh sản,
các chỉ tiêu sản xuất của giống đó.
Chăn nuôi thuỷ cầm nói chung và chăn nuôi vịt nói riêng ở nước ta hiện nay
vẫn mang tính tận dụng, nuôi vịt chạy đồng, phân tán. Do đó, một số khâu trong kỹ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2
thuật chăn nuôi thuỷ cầm còn hạn chế, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, chất lượng sản
phẩm thấp, giá thành cao, gây ô nhiễm môi trường, không an toàn vệ sinh phòng
dịch. Chính vì vậy, phải định hướng cho người chăn nuôi theo các phương thức
chăn nuôi phù hợp với từng vùng sinh thái, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững.
Từ lâu nay các nghiên cứu về giống, thức ăn dinh dưỡng, quy trình chăm sóc
nuôi dưỡng, quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh… còn đơn lẻ, đặc biệt trong những
năm qua dịch cúm gia cầm xảy ra hàng năm gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho
người chăn nuôi. Để ngăn chặn, hạn chế sự lây lan dịch cúm gia cầm xảy ra trên đàn
vịt và nâng cao hiệu quả chăn nuôi vịt, đồng thời đáp ứng nhu cầu của xã hội về sản
phẩm thịt vịt an toàn, chất lượng cao, nước ta đã hạn chế chăn nuôi vịt theo phương
thức chăn thả chạy đồng.
Nhằm góp phần đánh giá ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức
chăn nuôi đến khả năng sinh trưởng và để có cơ sở khoa học về khả năng sản xuất,
làm nguyên liệu để lai tạo và hoàn thiện qui trình chăn nuôi vịt đảm bảo tính bền

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm sinh vật học của vịt
Decarville, Decroutte, 1985, [7], Thummabood, 1990, [82], sau khi nghiên
cứu đều đưa ra kết luận: Vịt nhà có nguồn gốc từ vịt trời đầu xanh (Anas
platyrhynchos). Loài vịt trời hiện nay (là tổ tiên của vịt nhà) đang sinh sống ở hầu
hết các châu lục, nhưng tập chung ở Bắc bán cầu. Đó là loài chim ham ăn, hay bay,
hay kiếm mồi ở chỗ đầm lầy, chúng ăn những thức ăn hạt, củ, quả, giun, sên, côn
trùng, cá, ếch, nhái… kích thước dài thân của chúng 45 - 55cm, cân nặng 700 -
1400g, tầm vóc con đực lớn hơn con cái. Vịt trời thuộc loại đơn giao và kết đôi
trong màu sinh sản. Thịt vịt cổ xanh không béo bằng thịt vịt nhà nhưng nó có mùi vị
đặc biệt gần giống thịt chim rừng. Vịt trời hoang dã rất dễ thuần hoá và được thuần
hoá độc lập ở nhiều nước. Sự thuần hoá vịt được tiến hành bằng nhiều con đường
khác nhau, trong thời gian dài và điều kiện môi trường hết sức khác nhau, nên các
giống vịt hiện nay có kích thước, hình dáng và màu lông khác nhau.
Theo Nguyễn Văn Thiện, 1996 [40], cho biết vị trí sắp xếp của vịt nhà trong
hệ thống của giới động vật như sau:
- Giới (Kingdom): Animal
- Ngành (Phylum): Aves
- Bộ (Order): Anseriformes
- Họ (Family): Anatidea
- Chủng (Genus): Anas
- Loài (Species): Anas platyrhynchos
Hiện nay số lượng các giống vịt rất lớn có khoảng 50 giống. Dựa trên quan
điểm về kinh tế, Nguyễn Thị Bạch Yến trích dẫn của Abakumov, 1977 và Neumeister,
1972, [48] đã chia các gống vịt nhà ra làm 3 loại:
- Vịt hướng trứng: mục đích để sản xuất trứng
- Vịt hướng thịt: mục đích để sản xuất thịt
- Vịt kiêm dụng (trứng - thịt, thịt - trứng): để sản xuất trứng và thịt

đạt trên 200 quả/mái/năm, thức ăn chủ yếu là nhặt thóc rơi vãi, chỉ khi giáp vụ mới
cho ăn.
Vịt Deshi được nuôi chăn thả ở Ấn Độ, chúng tự kiếm mồi ở cánh đồng hoặc
ven bờ sông, đêm đến vịt được quây ngay ở trên cánh đồng hay bờ sông. Mùa vịt đẻ
trứng cũng là mùa thu hoạch, vịt ăn hoàn toàn bằng thóc rơi rụng ngoài đồng (Rama
Krishnam, 1996, [70]). Nhờ khả năng tìm kiếm thức ăn của vịt mà nó giúp làm sạch
nước ao, vịt ăn ốc nên làm giảm bệnh, đặc biệt bệnh sán lá gan ở trâu bò (Sathe,
1995, [77]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5
Nuôi vịt ở các nước Châu Á nói chung, không chỉ là tận dụng khả năng tìm
kiếm thức ăn tự nhiên mà còn là sự tương tác phát triển vật nuôi, cây trồng khác.
Đặc biệt là tương tác: vịt - lúa; vịt - cá, thế mạnh nghề cổ truyền của các nước văn
minh lúa nước đem lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao năng suất của các đối tượng
tham gia tương tác kết hợp (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1997, [42]).
Chính nhờ các khả năng trên mà vịt dễ thích ứng với các điều kiện chăn nuôi ở
môi trường mới và điều kiện khí hậu khác nhau, vịt vẫn cho năng suất sản phẩm cao.
1.1.2. Cơ sở khoa học về các tính trạng sản xuất
Khi nghiên cứu các tính trạng sản xuất của một giống gia súc, gia cầm trong
điều kiện chăn nuôi cụ thể thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truyền và ảnh hưởng
của những tác động xung quanh đến các tính trạng đó. Theo quan điểm di truyền
học, hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như; sinh trưởng, sinh
sản, cho thịt, cho sữa, cho lông, cho trứng… đều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di
truyền của các tính trạng số lượng cũng là các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định.
Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng (thường gọi là các tính trạng đo
lường) như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng sữa, sản lượng

Trong đó: G; là giá trị kiểu gen
A; là giá cộng gộp (Additive value)
D; là sai lệch trội (Dominance deviation)
I; là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation)
Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành phần
quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền lại
cho thế hệ sau, có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống.
Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cũng có vai trò quan
trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con đường thực
nghiệm. D và I không di truyền được và phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác giữa
các gen. Chúng là cơ sở của việc lai giống.
Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường,
có 2 loại môi trường chính.
- Sai lệch môi trường chung (Genneral Environmental deviation - Eg) là sai
lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi.
Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên và không cục bộ như; thức ăn, khí hậu…
Do vậy, đó là sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau
trên một cơ thể.
- Sai lệch môi trường riêng (Special Environmental deviation - Es) là sai lệch
do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi,
hoặc trong một giai đoạn nào đó trong cuộc đời con vật. Loại yếu tố này có tính
chất không thường xuyên và cục bộ như các thay đổi về thức ăn, khí hậu, trạng thái
sinh lý… gây ra. Do đó, nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì
quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể có biểu thị
như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
của Chambers, 1990 [53] thì Mozan, 1977, định nghĩa sinh trưởng là tổng sự sinh
trưởng của các bộ phận như thịt, da, xương.
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên
người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh
trưởng. Tuy có khi tăng khối lượng mà không phải tăng trưởng (chẳng hạn béo mỡ, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8
chủ yếu là tích nước không có sự phát triển của mô cơ). Sinh trưởng thực chất là sự
tăng khối lượng, số lượng các chiều của các tế bào mô cơ. Quá trình sinh trưởng
phải thông qua 3 quá trình:
- Phân chia tế bào để lấy số lượng tế bào
- Tăng thể tích tế bào
- Tăng thể tích giữa các tế bào
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19] cho biết; Midedorpho
(1867) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia
súc, ông cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng
khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi.
* Khái niệm sinh trưởng
Theo Chambers, 1990 [53] cho rằng; sinh trưởng là quá trình sinh lý, sinh hóa
phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành. Để
có được số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng.
Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19] (dẫn của Ganer
(1992)) cho biết sinh trưởng trước hết là kết quả phân chia tế bào, tăng thể tích tế
bào để tạo nên sự sống. Từ đó đã khái quát: sinh trưởng là một quá trình tích lũy các
chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang,
khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở di truyền

kg/con hoặc g/con. Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau
người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng.
Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số để đánh giá sự sinh trưởng một
cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra được sự khác nhau về tỷ lệ sinh trưởng
của các thành phần trong khoảng thời gian của cấc độ tuổi.
Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản
xuất đều không phải đã có sẵn trong tế bào. Các bộ phận hình thành trong quá trình
sinh trưởng là thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ nhưng hoạt động mạnh
hay yếu còn do tác động của môi trường.
* Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp, khá dài, từ lúc thụ tinh đến khi
trưởng thành. Do vậy, việc xác định chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng không
phải dễ dàng. Tuy nhiên các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng
cách đo đơn giản và thực tế, đó là khả năng sinh trưởng theo 3 hướng là: chiều cao,
thể tích và khối lượng. (Chambers, 1990, [53])
Khối lượng cơ thể: về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình
tổng hợp, tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Do vậy, có thể lấy việc tăng
khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc, gia cầm.
Khối lượng cơ thể gia súc, gia cầm là những tính trạng di truyền số lượng. Sinh
trưởng có khả năng di truyền cao và liên quan chặt chẽ với những đặc điểm trao đổi
chất đặc trưng cho từng giống và từng cá thể gia cầm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19] cho rằng, sinh trưởng là
cường độ tăng các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Trong chăn
nuôi gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ tiêu để mô tả sinh trưởng là sinh trưởng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11
Đồ thị sinh trưởng tích lũy biểu thị một cách đơn giản nhất về đường cong
sinh trưởng.
Theo Knizetova, Hyanck, Knize và Roubicek, 1991, [69], cho biết đường
cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ
về mặt chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, giống, giới tính.
Nguyễn Đăng Vang, 1983 [46] khi nghiên cứu về đường cong sinh trưởng
của ngỗng Rheinland từ sơ sinh đến 77 ngày tuổi thấy hoàn toàn phù hợp với quy
luật sinh trưởng của gia cầm nói chung.
- Tiêu tốn thức ăn: tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng phản ánh quá
trình chuyển hóa thức ăn để sinh trưởng. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng
thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của vịt nói riêng chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố.
* Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
- Giống, dòng: có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia súc, gia
cầm. Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994 [12], cho biết; sự khác nhau về khối
lượng giữa các giống gia cầm là rất lớn. Thuỷ cầm có tốc độ sinh trưởng cao trong
những tuần đầu tiên, ở tuổi giết thịt 7-8 tuần tuổi đối với vịt nhà, 9 tuần đối với
ngỗng, 10-11 tuần đối với ngan, chúng có thể đạt 70-80% khối lượng trưởng thành,
trong khi đó gà chỉ đạt 40%. Jaap và Morris, 1937, [65], đã phát hiện những sai
khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng trước 8 tuần tuổi của gà con ở
các bố mẹ khác nhau. Những nghiên cứu trước đây cho biết có 2 hoặc 4 gen chính.
Nhiều tác giả cho rằng có nhiều hơn 15 cặp gen qui định tốc độ sinh trưởng. Như
vậy các tác giả đã chứng tỏ sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng do di truyền mà cơ sở

Theo Siegel và Dumington, 1978 [76] thì những alen quy định tốc độ mọc
lông phù hợp với tăng khối lượng cao.
- Chế độ dinh dưỡng; có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ sinh trưởng và ảnh
hưởng đến biến động di truyền về sinh trưởng. Chembers, 1990 [53] cho biết; sinh
trưởng là tổng số của sự phát triển các phần cơ thể như thịt, xương, da. Tỷ lệ sinh
trưởng các phần này phụ thuộc vào tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức
độ dinh dưỡng. Mức độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ
phận khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối
với mô khác.
Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993, [16], thì với gia cầm để phát huy
được khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu đầy đủ chất dinh dưỡng
và cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lượng. Ngoài ra trong
thức ăn hỗn hợp cho chúng còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hóa sinh
không mang theo nghĩa dinh dưỡng nhưng có kích thích sinh trưởng làm tăng chất
lượng thịt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13
Nguyễn Thị Thúy Mỵ, 2006 [20] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức
năng lượng và protein khác nhau cùng với tỷ lệ ME/CP khác nhau để tìm ra khẩu
phần ăn hợp lý, nhằm phát huy tối đa đến khả năng sinh trưởng của ngan Pháp nuôi
tại Thái Nguyên.
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô khác nhau gây
nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô này với mô
khác. Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng đến sinh trưởng mà còn làm biến
động di truyền về sinh trưởng.
- Điều kiện môi trường chăm sóc nuôi dưỡng


14
Năng suất thịt cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như:
giống, dòng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tính biệt, phương thức chăn nuôi, vệ
sinh thú y…
Tỷ lệ thịt xẻ chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượng thân thịt so với khối
lượng sống của gia cầm. Tương tự như vậy, năng suất của các thành phần thân thịt
là tỷ lệ phần trăm của các phần so với thân thịt và năng suất của cơ là tỷ lệ phần
trăm của cơ so với thân thịt.
Theo Chambers, 1990 [53] tỷ lệ các phần thân thịt như sau: Khối lượng sống
của gia cầm 100 % thì khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64 % (trong đó thịt 52 %
và xương là 12 %); phủ tạng chiếm khoảng 6 %; máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm
khoảng 17 % và tỷ lệ hao hụt khi giết mổ chiếm 13 %.
Mối tương quan giữa khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ là khá cao
thường là 0,9, còn tương quan giữa khối lượng sống và mỡ bụng thì thấp hơn
thường 0,2 - 0,5 (dẫn theo Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997 [21]).
Chambers, 1990, [53], thì các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt
cũng khác nhau. Giữa các dòng luôn có sự khác di truyền về năng suất thịt xẻ, hay
năng suất các phần như thịt đùi, thịt ngực và từng phần thịt, da, xương.
Theo Decarville, Decroutte, 1985, [7], tỷ lệ thịt xẻ phụ thuộc vào tính biệt,
vịt Bắc Kinh con đực là 60,3 %, con cái 61 %.
Mối quan hệ di truyền giữa cấu trúc cơ thể và khối lượng cơ thể là 0,5, với
tổng số móc hàm là 0,45, tỷ lệ thịt ngực là 0,6. Khả năng di truyền được ước tính
cho cấu trúc cơ thể dao động từ 0,3-0,5, Vereijken, 1992, [83]. Theo Kosba, et al,
1995, [68] cho biết hệ số di truyền tuyệt đối của thịt xẻ như sau: Hệ số di truyền
theo bố (h
2
S
)= 0,19 - 0,22; hệ số di truyền theo mẹ (h
2

Các giống gia cầm khác nhau thì thành phần hoá học của thịt cũng khác
nhau. Hetzel, 1983, [59], khi so sánh thành phần hoá học thịt xẻ của vịt Bắc Kinh,
Alabio, F
1
(BK x A), F
1
(Ngan x Alabio) thấy rằng: Tỷ lệ vật chất khô và mỡ của
thịt xẻ cao nhất ở con lai F
1
(BK x Alabio) = 47,8 % và 31,7 %. Nhưng tỷ lệ protein
lại cao nhất ở con lai F
1
(Ngan x Alabio) = 15 %.
Hetzel và Simon, 1983, [61], khi so sánh 3 giống vịt địa phương với vịt
Khaki Cambell đến 16 tuần tuổi thấy; tỷ lệ sinh trưởng khác nhau rất nhỏ, tỷ lệ mỡ
khác nhau chút ít. Vịt Bali và Tegal có tỷ lệ mỡ thấp hơn Alabio và Khaki Cambell.
Theo Chambers, 1990, [53], tốc độ sinh trưởng có tương quan âm với tỷ lệ mỡ (-
0,32), hệ số di truyền về thành phần hoá học của thịt xẻ như sau; nước 0,38, protein
0,47, mỡ 0,48, khoáng 0,25. Ngoài yếu tố di truyền giống, dòng, thành phần hoá
học thịt xẻ ở vịt còn chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố môi trường, thức ăn, bệnh tật
(Helzel, 1983, [59]).
1.1.5. Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn
Khoa học ngày nay đã chứng minh mối lên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng
với duy trì sự sống và năng suất của vật nuôi. Nhu cầu về dinh dưỡng của gia cầm
bằng tổng nhu cầu duy trì và nhu cầu sản xuất. Dinh dưỡng một là quá trình sinh
học nhằm duy trì cơ thể và không ngừng đổi mới những chất tạo nên cơ thể. Trong
chăn nuôi nói chung và chăn nuôi vịt nói riêng, việc tạo ra giống mới có năng suất
cao thì chưa đủ mà còn phải tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng phù hợp với đặc
tính sinh lý, phù hợp với mục đích sản xuất của từng giống, dòng và phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của vật nuôi.

giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hoá thức ăn từ 1- 4 tuần
tuổi là r = 0,5.
Hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với
tiêu tốn thức ăn thường rất cao được Chambers, 1984 xác định là (0,5 - 0,9), còn
tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm từ -0,2 đến -0,8
(dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996, [34]). Porodman và cộng sự (1970), Pym (1979)
cho biết ở những giống gia cầm có tốc độ tăng khối lượng cao thì hiệu quả sử dụng
thức ăn cũng tốt hơn đối với gia cầm sinh sản. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17
Willson, 1969 [86] xác định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng
cơ thể và hiệu quả chuyển hóa thức ăn từ 1 - 4 tuần tuổi là r = -1 đến +1. Hiệu quả
sử dụng thức ăn liên quan chặt chẽ đến sinh trưởng.
Khả năng chuyển hóa protein thức ăn của gia cầm mái cho hoạt động duy trì
cơ thể, sản xuất nói chung và tạo trứng nói riêng là 55 %. Do vậy, gà đẻ 100 % cần
nhu cầu là tạo trứng 8,9 g protein cho tạo trứng (Ivy và Gleaves, 1976, [64]).
Theo Morris và Wasserman, 1971, [11] thì chỉ có 80 % năng lượng của thức
ăn được gia cầm hấp thu, trong đó 25 % ME được hấp thu dùng cho tạo trứng.
Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm của gia cầm nuôi thịt phụ thuộc vào tốc độ
sinh trưởng, độ tuổi, giai đoạn đầu tiêu tốn thức ăn thấp, giai đoạn sau tiêu tốn thức
ăn cao hơn. Ngoài ra còn phụ thuộc vào tính biệt, khí hậu thời tiết và chế độ chăm
sóc, nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khoẻ của đàn gia cầm, đặc biệt mức độ cân
bằng các chất dinh dưỡng trong thức ăn.
Sinh trưởng nhanh và tiêu tốn thức ăn thấp luôn là mục tiêu của nhiều công
trình nghiên cứu về lai tạo giống gia cầm.
1.1.6. Cơ sở khoa học về khẩu phần ăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status