Quản lý an toàn vệ sinh lao động,sức khỏe và bệnh nghề nghiệp - Pdf 38

CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VỆ SINH LAO
ĐỘNG, SỨC KHOẺ VÀ BỆNH NGHỀ NGHIỆP
I.1 Cơ sở pháp lý:
I.1.1 Cơ sở pháp lý
Dựa trên luật pháp, chế độ chính sách của nhà nước về An
toàn vệ sinh lao động:
- Luật lao động năm 2012
- Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015
Điều 4. Chính sách của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động
1. Tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng lao động, người lao
động, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan thực hiện
các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong quá
trình lao động; khuyến khích người sử dụng lao động, người lao
động áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý tiên
tiến, hiện đại và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao,
công nghệ thân thiện với môi trường trong quá trình lao động.
2. Đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về an
toàn, vệ sinh lao động; hỗ trợ xây dựng phòng thí nghiệm, thử
nghiệm đạt chuẩn quốc gia phục vụ an toàn, vệ sinh lao động.
3. Hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong
các ngành, lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp; khuyến khích các tổ chức xây dựng, công bố hoặc
sử dụng tiêu chuẩn kỹ thuật tiên tiến, hiện đại về an toàn, vệ
sinh lao động trong quá trình lao động.
4. Hỗ trợ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao
động làm việc không theo hợp đồng lao động làm các công việc
có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.
5. Phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự
nguyện; xây dựng cơ chế đóng, hưởng linh hoạt nhằm phòng
ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro cho người lao động.

việc, nhiệm vụ lao động (điều 142 Bộ luật Lao động năm 2012).
- Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có
hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động. Danh mục
các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao
động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động (điều
143 Bộ luật Lao động năm 2012).


- Điều kiện lao động tổng thể các yếu tố về kỹ thuật – công
nghệ, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tư nhiên thể hiện qua
quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi
trường lao động, năng lực của con người lao động và sự tác
động qua lại giữa các yếu tố đó tạo nên những điều kiện cần
thiết cho hoạt động lao động sản xuất của con người.
- Các yếu tố nguy hiểm và có hại trong lao động:
Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương
hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động.
Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe
con người trong quá trình lao động.
Các yếu tố nguy hiểm bao gồm: các bộ phận truyền động và
chuyển động như những trục máy, bánh răng, sự chuyển động
của bản thân máy móc như ô tô máy trục; nguồn điện; nguồn
nhiệt; vật rơi, đổ sập, vật văng bắn; nguy cơ nổ.
- Đơn vị quản lý về sức khỏe người lao động và môi trường
tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Bộ, ngành là
Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và môi trường hoặc Trung
tâm Y tế dự phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (đối
với các tỉnh không thành lập Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao
động và môi trường) và đơn vị được giao trách nhiệm quản lý

quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ.
I.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sức
khỏe, bệnh nghề nghiệp người lao động. ( Bỏ toàn bộ
phần này)
I.4.1.Chủ trương chính sách của Nhà nước về An toàn
lao động, chăm sóc sức khỏe, bệnh nghề nghiệp.
Chính sách của chính phủ, pháp luật của Nhà nước: mọi chính
sách trong công ty đều phải tuân thủ theo các quy định của
pháp luật bởi các quy định này mang tính pháp lý. Nếu các
chính sách đề ra của công ty thực hiện tốt pháp luật của Nhà
nước thì người lao động sẽ tin tưởng và gắn bó với tổ chức hơn.
Theo điều 4 Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng lao động, người lao
động, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan thực hiện
các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong quá
trình lao động; khuyến khích người sử dụng lao động, người lao
động áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý tiên
tiến, hiện đại và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao,
công nghệ thân thiện với môi trường trong quá trình lao động.
Đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về an
toàn, vệ sinh lao động; hỗ trợ xây dựng phòng thí nghiệm, thử
nghiệm đạt chuẩn quốc gia phục vụ an toàn, vệ sinh lao động.


Hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong
các ngành, lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp; khuyến khích các tổ chức xây dựng, công bố hoặc
sử dụng tiêu chuẩn kỹ thuật tiên tiến, hiện đại về an toàn, vệ
sinh lao động trong quá trình lao động.
Hỗ trợ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động


người lao động để có thể đưa ra chính sách chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe cho NLĐ phù hợp với đặc điểm của NLĐ.
+ Yếu tố sinh học: có tác động rất nhiều đến sức khỏe của bản
thân. Trong điều kiện lao động, mỗi cơ thể có sức đáp ứng khác
nhau. Nếu bản thân NLĐ nào mà có cơ thể yếu, sức đề kháng
kém mà làm trong môi trường có nhiều yếu tố có hại thì ảnh
hưởng sức khỏe nghiêm trọng hơn người khỏe mạnh, có sức đề
kháng tốt. Do vậy, chính sách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho
NLĐ phải phù hợp với từng đối tượng.
I.5. Nội dung công tác quản lý sức khỏe, bệnh nghề
nghiệp người lao động.
- Thông tư 14/2013/TT-BYT Hướng dẫn khám sức khỏe ngày
06/5/2013 cua Bộ Y tế.
Thông tư gồm những nội dung: Phạm vi điều chỉnh và đối tượng
áp dụng; sử dụng tiêu chuẩn sức khỏe để tuyển dụng; chi phí
khám sức khỏe; hồ sơ khám sức khỏe; thủ tục khám sức khỏe;
nội dung khám sức khỏe, phân loại sức khỏe; cấp giấy khám
sức khỏe; điều kiện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép
thực hiện khám sức khỏe; trách nhiệm thực hiện.
Pháp luật về quản lý sức khỏe, bệnh nghề nghiệp được nghiên
cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất, nó là cơ
sở pháp lý bắt buộc các tổ chức và mọi người tham gia lao động
phải có trách nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện.
TT01/2011......
- Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, luật gồm: Phạm vi
điều chỉnh, Đối tượng áp dụng, Giải thích từ ngữ, Chính sách
của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động, Nguyên tắc bảo
đảm an toàn, vệ sinh lao động, Quyền và nghĩa vụ về an toàn,
vệ sinh lao động của người lao động, Quyền và nghĩa vụ về an

a) Quản lý sức khỏe người lao động.
- Quản lý sức khỏe tuyển dụng.
Trước khi được tiếp nhận vào làm việc, NLĐ phải được khám sức
khỏe, đây gọi là “khám sức khoẻ ban đầu”. Việc khám sức khoẻ
này có thể do cơ sở tiếp nhận người vào làm việc tổ chức để họ
khám, hoặc người xin vào làm việc phải tự đi khám theo yêu
cầu của nơi mà người đó xin vào làm việc. Tuỳ vào điều kiện
của công việc mà người xin vào làm mà có các yêu cầu, mức độ
khám sức khoẻ khác nhau.
- Khám sức khỏe định kỳ
Trong quá trình làm việc tại cơ sở, nhà máy, công ty, hàng năm
NSDLĐ có trách nhiệm phải tổ chức khám sức khoẻ cho người
lao động. Đây được gọi là “khám sức khoẻ định kỳ”. Đây cũng
là quy định pháp luật bắt buộc mà NSDLĐ phải có trách nhiệm,
nghĩa vụ đối với NLĐ.
Việc khám sức khoẻ định kỳ đối với những NLĐ làm các công
việc khác nhau thì cũng khác nhau.
Theo quy định của pháp luật:


- Đối với những người làm công việc bình thường thì mỗi năm
được khám sức khỏe định kỳ 01 lần.
- Đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm thì mỗi năm phải được khám sức khoẻ định kỳ 02
lần, nghĩa là 6 tháng phải được khám sức khỏe định kỳ 01 lần.
Nội dung khám sức khoẻ định kỳ cũng tuỳ theo điều kiện làm
việc NLĐ để khám sao cho đầy đủ, không phải là khám chiếu lệ
để đối phó với các cơ quan chức năng. Nghiã là ngoài các nội
dung khám tổng quát về thể lực, lâm sàng (như đo chiều cao,
cân nặng, tai mũi họng, răng hàm mặt.v.v..) thì cần phải khám

I.5.5. Quản lý bệnh nghề nghiệp.
Bệnh nghề nghiệp phát sinh do điều kiện lao động có hại của
nghề nghiệp tác động đến người lao động.
Người làm việc trong điều kiện có nguy cơ mắc bệnh nghề
nghiệp phải được khám bệnh nghề nghiệp theo quy định của Bộ
Y tế.
Việc khám bệnh nghề nghiệp do đơn vị y tế chuyên khoa vệ
sinh lao động và BNN Nhà nước từ cấp tỉnh, thành phố, ngành
trở lên thực hiện.
Người bị bệnh nghề nghiệp phải được Hội đồng giám định y
khoa xac định khả năng suy giảm lao động và được sắp xếp
phù hợp với sức khỏe. Không bố trí người bị BNN nặng, bệnh
tiến triển nhanh, lao động trong điều kiện đặc biejt nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm ở môi trường cũ.
Người bị BNN phải được điều trị theo đúng chuyên khoa, được
điều dưỡng và kiểm tra sức khoe 6 tháng 1 lần, co hồ sơ quản
lý sức khỏe riêng theo quy định của Bộ Y tế và được lưu trữ suốt
đời
Tổ chức khám BNN cho những người làm việc trong điều kiện có
nguy cơ mắc BNN để phát hiện và điều trị kịp thời. Người bị
BNN được giám định xác định mức độ suy giảm khả năng lao
động và được bố trí công việc phù hợp với sức khỏe.
Chi phí cho việc cấp cứu tai nạn lao động, khám tuyển, khám ức
khỏe định kỳ, khám BNN do người sử dụng lao động chịu theo
các quy định hiện hành
Tóm lại, đối với việc khám sức khoẻ cho NLĐ các bên có trách
nhiệm như sau:
Về phía NSDLĐ phải có trách nhiệm:
1- Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp
(nếu có) cho người lao động.

LAO ĐỘNG,SỨC KHOẺ VÀ BỆNH NGHỀ
NGHIỆP CỦA NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT NAM
HIỆN NAY
II.1 Thực trạng công tác quản lý an toàn vệ sinh lao
động,sức khoẻ và bệnh nghề nghiệp của ngành xây dựng
Việt Nam hiện nay:
II.1.1 Tình hình tai nạn lao động ngành xây dựng và
đánh giá chung.


II.1.1.1 Tình hình chung TNLĐ


Số vụ tai nạn lao động:

Theo ông Hà Tất Thắng - Cục trưởng Cục An toàn lao động, Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết tại cuộc họp báo
thông tin về tuần lễ quốc gia An toàn - Vệ sinh lao động và
phòng chống cháy nổ lần thứ 18, được tổ chức ngày 4-3 tại Hà
Nội thông báo về tình hình tai nạn lao động năm 2015 trên toàn
quốc xảy ra 7.620 vụ tai nạn lao động trong đó có:
-Số người bị nạn: 7.785 người
-Số vụ tai nạn lao động chết người: 629 vụ
-Số người bị thương nạng: 1.704 người
-Số người chết: 666 người
-Số nạn nhân là lao động nữ: 2.432 người


So sánh tình hình tai nạn lao động năm 2015 với năm
2014

điện, 10% do sập đổ thiết bị trên công trình, 10% liên quan đến
phương tiện bảo vệ cá nhân).
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội,Lĩnh vực xây dựng chiếm 35,2% tổng số vụ tai nạn chết
người và 37,9% tổng số người chết

Bảng 2: Tỷ lệ TNLĐ và tỷ lệ người chết trong các ngành
Tại các công trình hiện nay, khi mà chúng ta phát triển với
những quy mô rất rộng và rất lớn thì năng lực quản lý của cả
trung ương và địa phương hầu như không đáp ứng được và việc
tuân thủ của các chủ đầu tư, giám sát và các nhà thầu là không
đầy đủ. Có thể nói, có nhiều nhà thầu cố tình vi phạm về an
toàn trong sử dụng lao động cũng như trong sử dụng các thiết
bị máy móc. Bảo đảm ATLĐ không chỉ là trách nhiệm và nghĩa


vụ của các cấp, các ngành, mà của chính những người lao động
và chủ sử dụng lao động:
-Sập giàn giáo Formosa vào khoảng 20 giờ ngày 25/3 trên công
trường đúc bê tông thùng chìm,dự án đê chắn sóng cảng Sơn
Dương( khu kinh tế Vũng Áng) làm 13 người chết và 29 người
bị thương
-Sập giàn giáo cửa hầm Cổ Mã ngày 17/3 khiến 4 công nhân bị
thương tại xã Đại Lãnh,huyện Vạn Ninh,tỉnh Khánh Hoà
-Ngày 4/12 tại toà nhà Lilama Hà Nội số 52 Lĩnh Nam đã xảy ra
vụ tai nạn lao động khi bất ngờ rơi tháng máy khiến 2 người tử
vong tại chỗ
II.1.2 Thực trạng quản lý sức khoẻ,BNN NLĐ:
Theo xu thế phát triển của xã hội, ngày càng nhiều ngành nghề
mới có tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh nghề nghiệp, đặc biệt

nước được khám bệnh. Đây là một thiệt thòi lớn cho nhóm lao
động phải tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh nghề nghiệp.
II.2 Nguyên nhân
- Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát sinh những yếu
tố nguy hiểm, độc hại mới kéo theo người lao động phải làm
việc trong điều kiện có nhiều nguy cơ mất an toàn
-Việc tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay còn rất yếu kém.
- Do thiết bị sản xuất không bảo đảm an toàn,điều kiện làm
việc không tốt, nhiều thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an
toàn lao động nhưng chưa được kiểm tra, đăng ký sử dụng.
- Nhiều chủ sử dụng chưa quan tâm, đầu tư chăm lo cải thiện
điều kiện làm việc cho người lao động.
-Cán bộ làm công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động và
chăm sóc sức khỏe người lao động còn thiếu và chưa được đào
tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đầy đủ; một bộ phận cán bộ lãnh đạo
các cấp công đoàn chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò ý
nghĩa của công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động do đó
chưa thực sự quan tâm, coi trọng thực hiện công tác bảo đảm
an toàn lao động, vệ sinh lao động
- Tác phong công nghiệp và nhân thức của người lao động chưa
cao Mặc dù biết mức độ nguy hiểm nhưng nhiều người sử dụng
các thiết bị vẫn không tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn.
- Các ngành chức năng ở Trung ương cũng như địa phương,
chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác
bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, cũng như
chưa thấy hết được tác hại và hậu quả xã hội nghiêm trọng do
điều kiện lao động xấu, gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
cho người lao động.


lao động.
-Về phía người sử dụng lao động:
+ Người sử dụng lao động phải đảm bảo tất cả những điều kiện
an toàn cho người lao động. Điều kiện đó từ trang thiết bị, chỗ
làm việc an toàn, đào tạo, huấn luyện, cử người giám sát trong
quá trình làm việc trong phương diện bảo vệ các nhân, nếu làm
sai phải yêu cầu người lao động dừng lại.
+ Công trường bắt buộc phải có cán bộ chuyên trách về an
toàn lao động, trong đó cán bộ phải có trình độ về an toàn lao
động. Tuy nhiên, công tác thanh, kiểm tra của các đơn vị còn
hạn chế, trong khi nhiều nhà thầu có tư duy chạy theo tiến độ,
nên vấn đề bảo đảm an toàn lao động của công trình bị xem
nhẹ.

CHƯƠNG III
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG
CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN
VỆ SINH LAO ĐỘNG,SỨC KHOẺ VÀ BỆNH
NGHỀ NGHIỆP CỦA NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT
NAM HIỆN NAY
III.1 Về phía nhà nước
+Cần quy định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các Tổ chức
chính trị xã hội, tổ chức xã hội và xã hội nghề nghiệp trong
công tác an toàn vệ sinh lao động. Quy định rõ phạm vi, vai trò
cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của các tổ chức này trong
công tác an toàn, vệ sinh lao động, nhằm tăng cường công tác
quản lý Nhà nước về vấn đề này, bảo vệ sức khoẻ người lao
động trong cũng như ngoài khu vực có quan hệ lao động. Giảm
gánh nặng về trách nhiệm xã hội lên Nhà nước, đồng thời thể
chế hoá quan điểm, tư tưởng của Đảng về vấn đề an toàn, vệ

+ Tổ chức Công đoàn cần tích cực tuyên truyền, nâng cao nhận
thức về an toàn vệ sinh lao động để người sử dụng lao động
hiểu rõ và thực hiện đúng quyền hạn và nghĩa vụ của mình
trong công tác bảo hiểm lao động như: Nắm vững và thực hiện
nghiêm các quy định của pháp luật, chế độ chính sách, quy
phạm tiêu chuẩn về bảo hiểm lao động; chăm lo cải thiện điều
kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động cho người lao
động; có kế hoạch và giải pháp để thực hiện đầy đủ các chế độ
BHLĐ. Thực hiện chế độ khám tuyển, khám định kỳ, theo dõi
tình hình sức khỏe cho người lao động, làm tốt công tác tự kiểm
tra bảo hiểm lao động, đồng thời tôn trọng, chịu sự kiểm tra của
cấp trên, sự thanh tra của thanh tra Nhà nước, sự kiểm tra giám
sát về bảo hiểm lao động của tổ chức Công Đoàn theo quy định
của pháp luật.


+ Các cấp Công đoàn cần tham gia với người sử dụng lao động
trong việc xây dựng các quy chế, nội quy quản lý về an toàn vệ
sinh lao động, đưa các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc,
bảo đảm an toàn vệ sinh lao động khi thay mặt người lao động
ký Thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao động.
+ Công tác kiểm tra công đoàn tại cơ sở lao động cần được tổ
chức hàng năm để tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật
và các chế độ chính sách về bảo hộ lao động. Công đoàn có
quyền yêu cầu các cấp chính quyền, người sử dụng lao động
thực hiện đúng pháp luật về an toàn vệ sinh lao động, yêu cầu
người có trách nhiệm ngừng hoạt động ở những nơi có nguy cơ
gây tai nạn lao động
+ Công đoàn cơ sở kịp thời kiến nghị với người sử dụng lao
động thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh lao

mình bằng các biện pháp
-Nguời lao động cần chấp hành các quy định, nội quy về an
toàn vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ
được giao.
-Sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được
trang bị, nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải báo cho người sử
dụng lao động để có biện pháp thay thế
-Báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy
cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự
cố nguy hiểm.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status