Pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế
Luận văn ThS Luật
Ngô Quỳnh Hoa
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam được xây dựng trong thời gian qua đã
đạt được nhiều thành tựu đáng kể, tạo lập được các cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên cần nhận
thấy rằng so với các yêu cầu, đòi hỏi và thách thức về phương diện lập pháp trong bối
cảnh quốc tế hiện nay với các không gian pháp lý mới đang được xác lập thì hệ thống
pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta trong đó có các quy định pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá
hiện tại vẫn còn khá bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Vì
vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những điểm chưa phù hợp trong các quy định pháp luật
hiện hành về nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp là một
yêu cầu cấp thiết để Việt Nam có thể sớm đáp ứng các yêu cầu ra nhập WTO.
Bên cạnh đó, thời gian qua, tình trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đặc biệt
là đối với Nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) diễn ra ngày càng phức tạp, đã và đang trở thành
một vấn đề mang tính thời sự. Việt Nam đang trên đà hội nhập vào hệ thống thương mại
đa phương, khi Việt Nam trở thành thành viên của AFTA và tổ chức thương mại thế giới
(WTO) vào năm 2006. Cạnh tranh sẽ trở nên sống còn trên tất cả các thị trường, tình
trạng xâm phạm quyền sở hữu đối với NHHH và nguy cơ bị mất các NHHH có uy tín
trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ ngày càng lớn.
Nhận thức được tầm quan trọng của NHHH đối với sự phát triển và hội nhập kinh
tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Là một học viên lớp cao
học, với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về NHHH của Việt
Nam, tôi đã chọn đề tài: " Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong thời kỳ
hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vũ Thị Phương Lan "So sánh pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam với
các điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước phát triển" thực hiện năm 2002- Đây
là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề so sánh pháp luật bảo hộ NHHH, nhưng
phạm vi so sánh rộng nên chỉ đi vào các vấn đề chung có tính chất khái quát. Vì vậy, việc
chọn và nghiên cứu đề tài "Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế" là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại. Tuy nhiên, để hoàn thành
đề tài này, người viết phải tham khảo, sưu tầm, học hỏi các kiến thức cũng như kinh
nghiệm trong các công trình khoa học có liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ đã được
công bố và các tạp chí nghiên cứu khoa học khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu những quy định của pháp luật về
nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trong quá trình Việt
Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích và chỉ ra những bất cập, đồng thời nêu một số
kiến nghị với hy vọng các quy định pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu hàng hoá sẽ ngày
càng hoàn thiện hơn, đặc biệt sẽ được hoàn thiện trong Luật sở hữu trí tuệ (dự kiến thông
qua tại kỳ họp Quốc Hội tháng 11/2005), tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy sự phát triển kinh tế
của đất nước trong thời kỳ hội nhập.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ giới hạn của một luận án Thạc sỹ luật học, người viết không có
tham vọng nghiên cứu toàn bộ các quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá mà chỉ
tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:
- Phân tích khái niệm NHHH theo quy định hiện hành, các tiêu chí để một NHHH
được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và vai trò của NHHH trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế.
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về NHHH và việc bảo hộ quyền này trên thực tế
của Việt Nam.
- Quan điểm của tác giả về một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung qua việc nghiên cứu
pháp luật về NHHH ở Việt Nam trong sự so sánh với các điều ước quốc tế và pháp luật
chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá như Công ước Paris (1883), Thoả
ước Madrid (1891), Hiệp định về các khía cạnh liên quan liên quan đến thương mại của
SHTT (TRIPs), Hiệp định về luật NHHH ký giữa các nước thành viên trong khuôn khổ
WIPO…trong đó điển hình hơn cả là Hiệp định TRIPs đã đưa khái niệm nhãn hiệu hàng
hoá như sau:
“Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa
hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau đều có thể làm NHHH. Các dấu hiệu đó,
đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các
sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là
NHHH”.(Điều 15 – Hiệp định TRIPs).
Có thể thấy khái niệm NHHH trong Hiệp định TRIPs được quy định rất khái quát,
và do đó mang tính quy chuẩn. Việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là NHHH hay
không sẽ căn cứ vào tính phân biệt của hàng hoá dịch vụ. Điều này thể hiện rõ nhất trong
các quy định tương ứng của TRIPs là bất kỳ một dấu hiệu nào, cho dù là hình ảnh, màu
sắc, âm thanh hay mùi vị có khả năng phân biệt được hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp
này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều được coi là NHHH. Đây
cũng là cách tiếp cận chung của các nước khi định nghĩa NHHH trong pháp luật của
mình. Tuy nhiên, các nước cũng có những quan điểm khác nhau liên quan đến những yếu
tố có thể phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp. Sự khác biệt này
đôi khi bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế hay mức độ đa dạng của nền kinh tế. Vì thế, có
trường hợp chúng ta thấy ở một số nước phát triển thì các dấu hiệu được coi là NHHH có
thể bao gồm cả hình ảnh ba chiều, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì
chỉ các yếu tố cấu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận.
* Khái niệm về NHHH theo pháp luật Việt Nam
Tại Việt Nam, Điều 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “NHHH là
những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất,
kinh doanh khác nhau. NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó
được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.
định chi tiết về sở hữu công nghiệp.
4. Quy định số 308/ĐK ngày 11/6/1997 của Cục SHCN về hình thức, nội dung các loại
đơn về SHCN.
5. Bộ Luật hình sự nước CHXHCNVN 1999.
6. Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6/3/1999 của Chính phủ về xử phạt hành chính
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
7. Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh
chống sản xuất và buôn bán hàng giả.
8. Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000
của Bộ Thương mại, Tài chính, Công an, Khoa học, công nghệ và Môi trường hướng
dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg
9. Thông tư số 825/2000/TT-BKHCNMT ngày 3/5/2000 của Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6/3/1999 của
Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
10. Thông tư số 49/2001/TT-BKHCNMT ngày 14/9/2001 của Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 825/2000/TT-
BKHCNMT ngày 3/5/2000 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường hướng dẫn
thi hành Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6/3/1999 của Chính phủ về xử phạt hành
chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
11. Luật hải quan năm 2001.
12. Nghị định số 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải
quan.
13. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
14. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
15. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan năm 2005.
B. Điều ƣớc quốc tế và văn bản pháp luật nƣớc ngoài
16. Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ SHCN được sửa đổi tại Stockholm năm 1967
30. Dự thảo 4 Luật Sở hữu trí tuệ-
31. Đức Hà (2004), Thương hiệu- phán quyết đâu phải là đơn giản, Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật số chuyên đề về pháp luật và thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, tháng 2, tr.
31-32.
32. Trần Việt Hùng (2003), Tham luận về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế, Hội thảo "Xây dựng thương hiệu Việt và bảo hộ nhãn hiệu hàng
hoá trong hội nhập kinh tế quốc tế" Hà Nội, ngày 29/8/2003.
33. Vũ Thị Phương Lan (2002), So sánh nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam với các điều
ước quốc tế và pháp luật của một số nước công nghiệp phát triển, Luận văn Thạc sỹ
luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 74.
34. Dương Tuyết Miên (2003), Tội phạm kinh tế và đấu tranh phòng chống tội phạm này
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Luật học số 3, tr. 65.
35. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2001), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Việt
Nam, Tập III, Hà Nội, tr 274.
36. Lê Mai Thanh (2004), Nghĩa vụ điều ước quốc tế của Việt Nam liên quan đến chuyển
dịch quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 11, tr 54.
37. Đinh Văn Thanh, Đinh Thị Hằng (2004), Nhãn hiệu hàng hoá trong pháp luật dân
sự, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr. 49.
38. Anh Thi (2002), Vì niềm kiêu hãnh Việt Nam - các doanh nghiệp tích cực đầu tư xây
dựng thương hiệu. Thời báo kinh tế Việt Nam, số 42, tr 12.
39. Toà án Nhân dân tối cao (1999), Nâng cao vai trò và năng lực của toà án trong việc
thực thi quyền SHTT ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài khoa học
cấp bộ, số đăng ký 99-98-098, tr. 190.
40. Trung tâm Thông tin kinh tế- xã hội quốc gia - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004),
Doanh nghiệp Việt Nam với vấn đề thương hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, Nhà xuất bản thống kê, tr. 104-105.
41. Trung tâm Sở hữu công nghiệp Châu Á -Thái bình dương (JIII) 2000, Giới thiệu