I/ LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN.
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng
nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng
phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ
quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc,
thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất
nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi
nhất định về dân tộc ta!
Việt nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm.
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
---------------------------------------------Theo “Hồ Chí Minh. Toàn tập. T.4”.- H.:
Chính trị quốc gia, 1995.
II/ THƯ GỬI CÁC CHIẾN SĨ CẢM TỬ QUÂN THỦ ĐÔ.
Cùng các chiến sĩ yêu quý Trung đoàn Thủ đô
Các em ăn tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ? Tôi và nhân viên chính phủ nhớ đến
các em nên không ai nỡ ăn Tết. Còn 90 phần trăm đồng bào ở hậu phương cũng giảm
bớt 90 phần trăm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng tiết kiệm để dự bị công cuộc trường kỳ
kháng chiến.
Các em là đội Cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là
- Đánh phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập.
2. Tính chất
- Trường kỳ kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
3. Chính sách
- Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp.
- Đoàn kết với Mên, Lào và các dân tộc yêu tự do, hoà bình.
- Đoàn kết chặt chẽ toàn dân.
- Thực hiện toàn dân kháng chiến.
- Bảo vệ dân; được lòng dân.
- Nêu tên “Hội liên hiệp quốc dân” mà cổ động kháng chiến.
4
- Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt.
4. Cách đánh
- Triệt để dùng du kích, vận động chiến
- Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài.
- Phá hoại nhiều hơn bắn; triệt để làm cho địch đói, khát, què, mù, điếc, câm,
tiêu hao, mệt mỏi, chán nản.
- Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ.
5. Giai đoạn kháng chiến
Ba giai đoạn:
a/ Giai đoạn phòng ngự: có thể vạn bất đắc dĩ phải tạm thời bỏ những thành
thị lớn sau khi kháng chiến quyết liệt ở đó. Chú ý: phải luôn luôn quấy nhiễu nơi tạm
bỏ.
b/ Giai đoạn cầm cự: giữ vững vị trí, tiêu hao lực lượng địch, bồi bổ thực lực
mình.
c/ Giai đoạn phản công: phản công toàn thể, lấy lại toàn bộ đất nước.
II
CHƯƠNG TRÌNH KHÁNG CHIẾN
NHỮNG ĐIỀU RĂN TRONG KHI KHÁNG CHIẾN
1. Dân
1- Không đi lính cho Pháp
Không nộp thuế cho Pháp.
Không bán lương thực cho Pháp.
Không mua hàng của Pháp.
Không dẫn đường cho Pháp.
Không làm việc cho Pháp.
Không lộ tin tức cho Pháp.
2- Phải đoàn kết chặt chẽ.
Phải đánh giặc, trừ gian.
Phải tăng gia sản xuất.
Phải ủng hộ Chính phủ kháng chiến.
Phải tiếp tế bộ đội.
Phải báo tin cho bộ đội.
Phải giúp đỡ đồng bào tản cư.
2. Quân
1- Không hàng giặc.
Không để mất súng.
Không bắn phí đạn.
Không xâm phạm tính mệnh, tài sản của dân.
Không xâm phạm tín ngưỡng của dân.
Không ngược đãi tù binh.
2- Phải ủng hộ Chính phủ kháng chiến và Hồ Chủ tịch.
Phải bảo vệ tính mệnh, tài sản cho dân.
Phải kính trọng và giúp đỡ dân.
Phải sĩ quan và binh lính một lòng.
Phải tuân lệnh cấp trên.
Phải phục tùng kỷ luật.
3- Triệt để dùng chiến thuật du kích!
4- Mỗi phố là một mặt trận!
Mỗi làng là một pháo đài!
5- Mỗi viên đạn là một quân thù!
6- Cướp súng giặc bắn giặc!
7- Hết sức quấy rối quân địch!
8- Giữ bí mật quân sự là cứu nước!
9- Theo gương kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam Bộ!
10- Kháng chiến nhất định thắng lợi!
c/ Kinh tế:
1- Tăng gia sản xuất để kháng chiến!
2- Giữ gạo nuôi lính!
3- Vừa kháng chiến vừa kiến quốc!
7
d/ Văn hoá:
1- Chống mù chữ, chống xâm lăng!
2- Cần, kiệm, liêm, chính: kháng chiến thắng lợi!
3- Văn nghệ sĩ giúp kháng chiến!
------------------------------------------Theo cuốn “Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đảng. Toàn tập. Tập 8 (1945 - 1947)”.- H.: Chính trị quốc gia,
2000.
IV/ TÓM TẮT DIỄN BIẾN 60 NGÀY ĐÊM CHIẾN ĐẤU Ở HÀ NỘI TRONG
NHỮNG NGÀY ĐẦU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN.
Với tinh thần chủ động, chỉ ba phút sau khi nhận lệnh – lúc 20 giờ 3 phút ngày
19 tháng 12 năm 1946 quân dân Hà Nội đã đồng loạt nổ súng đánh địch, mở đầu cuộc
kháng chiến toàn quốc.
Pháo đài Láng có vinh dự được bắn những phát pháo đầu tiên mở màn cho
quyết liệt trên đường Hàng Đậu, buộc địch phải đưa cánh quân thứ hai vốn định đánh
chiếm Ô Yên Phụ quặt lại đánh về phía cầu Long Biên để hợp lực với cánh quân thứ
nhất mở thông cho được đường Hàng Đậu. Chỉ một quãng đường 300 mét, địch phải
tập trung đột phá nhiều lần, sau 3 giờ mở thông, nhưng thiệt hại khá lớn: 1 xe tăng, 2
xe bọc thép, 1 xe gíp bị phá hỏng, phá huỷ, mấy chục binh sĩ bị thương vong.
Cùng thời gian trên cánh quân thứ ba gồm 18 xe tăng, xe bọc thép và nhiều cơ
giới chở 500 quân theo đường Cửa Nam, Tràng Thi, Tràng Tiền, tiến đánh Bắc Bộ
Phủ. Đây là địa bàn tiếp giáp giữa Liên khu I và Liên khu II, lực lượng ta bố trí
mỏng, nên việc chặn đánh địch trên đường kém hiệu quả, ta chỉ diệt được một xe tăng
địch ở trước hiệu thuốc Hoàng Xuân Hãn.
Tại Bắc Bộ Phủ, trận chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt. Trong suốt 20 giờ quân
ta đã đánh lui 6 đợt xung phong của địch, buộc chúng phải dùng máy bay đến oanh
tạc.
Trước tình thế không thuận lợi, ta chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng... Kết
quả: sau gần một ngày chiến đấu ta đã tiêu diệt 122 tên địch, phá huỷ, phá hỏng 4 xe
tăng, xe thiết giáp, 1 ô tô, 1 xe gíp. Tại đây xuất hiện gương chiến đấu và hy sinh
oanh liệt của Lê Gia Định – chính trị viên đại đội, dũng cảm ôm bom ba càng lao vào
xe tăng và đã anh dũng hy sinh.
Riêng ở khu vực Nhà Hát Lớn thành phố, trung đội vệ quốc đoàn và tiểu đội tự
vệ tại chỗ, chiến đấu rất dũng cảm, bắn đến viên đạn cuối cùng và hầu hết hy sinh.
Cánh quân thứ tư xuất phát từ Cửa nam, đến đầu đường Hàng Lọng bị quân ta
phục kích chặn đánh quyết liệt phải quay sang hướng đường Quán Sứ tiến đánh sở
hoả xa Việt Điền. Ngày 20 tháng 12 năm 1946, chúng tập trung thêm lực lượng
phương tiện đánh thông đường Hàng Lọng ra ga.
Thực tế các trận Hàng Đậu, Bắc Bộ Phủ, Nhà Hát Lớn đã làm cho quân xâm
lược Pháp từ chủ quan, ngạo mạn, hung hăng nay hoang mang, dao động sợ bom ba
càng, sợ mìn, lựu đạn, sợ súng trường bắn tỉa và sợ tinh thần chiến đấu quả cảm sẵn
sàng hy sinh của quân và dân Thủ đô. Bộ chỉ huy quân đội Pháp phải rút quân ở Bắc
Giang, Bắc Ninh về, ra lệnh cho bộ phận quân chiếm đóng ở Hải Phòng, nhanh chóng
đánh thông đường 5 để đưa lực lượng, phương tiện lên ứng cứu cho cuộc tiến công
phòng ngự kiên cường nhất.
Ngoài ra trong trận Ô Cầu Dền ngày 28, dựa vào baricát, ta đã chặn được các
mũi tiến công của địch. Đặc biệt, trong trận chiến đấu này có sự tham gia của 1 chiến
sĩ quốc tế người Nhật Bản đã dùng Badôka bắn cháy một xe tăng, 1 thiết giáp địch.
“Chiến luỹ” Cầu Dền đã ngăn chặn địch được trên 20 ngày đêm.
2. Đợt hai (từ 30-12-1946 đến ngày 14-1-1947)
Sau khi đánh thông đường 5, có thêm lực lượng tăng viện, quân Pháp được phi
pháo chuẩn bị hoả lực mãnh liệt, có xe tăng thiết giáp dẫn đầu và có xe chở bộ binh
lần lượt đánh chiếm các cửa ô.
Bộ Tổng chỉ huy đã tăng cường thêm cho Mặt trận Hà Nội 2 tiểu đoàn (d64,
d45) và lệnh cho Liên khu II và III chủ động chuẩn bị chặn đánh các mũi tiến công
của địch.
Ngày 30, địch từ nhà Gian Đa theo đường Hàng Bột và từ nhà Dầu Sen theo
đường Khâm Thiên tiến đánh Ô Chợ Dừa. dựa vào baricát, nhà cửa ngõ phố, bộ đội
và tự vệ ta chặn được địch. Nhưng sau đó chúng cho quân vu hồi đánh vào cạnh
sườn, ta buộc phải rút lui.
10
Ngày 31, quân bộ binh địch tiến đánh Kim Liên, dựa vào baricát, ta cũng thực
hiện đánh ngăn chặn thành công, nhưng khi địch cho xe lội nước chở quân qua Hồ
Bảy Mẫu đổ bộ vào phía nam đánh lên ta phải rút.
Trong các trận chiến đấu này Liên khu III diệt trên 60 địch.
4 ngày sau (3-1-1947), địch mở cuộc tiến công theo 3 trục: Đội Cấn, Hoàng
Hoa Thám, Thủ Khoa Huân (tức Thuỵ Khuê) để nống ra phía tây.
Quân ta ở Liên khu III chặn đánh quyết liệt, nhất là trên đường Đội Cấn địch
không tiến được, buộc phải vu hồi đánh chiếm Liễu Giai, ta phải rút. Qua 1 ngày
chiến đấu ta diệt 116 địch, dùng bom ba càng phá huỷ 1 xe tăng, dùng chai xăng
cơrếp đốt 2 xe vận tải, phá huỷ 1 xe thiết giáp.
Ở Liên khu II, trong ngày 3 tháng 1 năm 1947, địch cũng tổ chức lực lượng
Liên khu I sau khi co về khu cố thủ phải giải quyết rất nhiều vấn đề khó khăn
phức tạp. Lực lượng vũ trang có nhiều đầu mối: vệ quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, tự vệ
xí nghiệp, tự vệ thành, công an xung phong, trong đó vệ quốc đoàn chỉ còn khoảng 2
đại đội lại chưa có sự chỉ huy thống nhất, do vậy Liên khu I đã tổ chức thành trung
đoàn Thủ đô, một trung đoàn chính quy, đó là một thành công, một sáng tạo quan
trọng.
Liên khu nằm trong vòng vây, việc tiếp tế rất khó khăn nên Uỷ ban kháng
chiến Thành đã ra lệnh cho Uỷ ban kháng chiến Trúc Lãng tổ chức đại đội tiếp tế
Hồng Hà, chui qua cầu Long Biên dưới chân bốt gác địch, lúc đầu đưa mỗi đêm hàng
tấn gạo, thực phẩm, đạn dược vào nội thành, nhưng do địch lùng sục, kiểm soát gắt
gao nên khối lượng hàng giảm dần, đến đầu tháng 2 thì không đưa vào được nữa.
Một vấn đề lớn là còn bốn vạn dân chưa tản cư được phải bảo đảm lương thực
thực phẩm. Qua trung gian Lãnh sự Trung Quốc, hai bên đồng ý ngày 15 tháng 1 và
ngày 30 tháng 1 ngừng bắn cho dân tản cư. lợi dụng thời cơ thuận tiện này ta kết hợp
đưa một phần lực lượng vũ trang ra khỏi thành phố theo đường công khai và bí mật,
chỉ để 500 người ở lại tiếp tục chiến đấu và làm các nhiệm vụ bí mật, nhưng anh chị
em vẫn bí mật ở lại nên quân số còn lại lên tới trên 1.200 người.
Liên khu I đã ngăn chặn nhiều cuộc tiến công của địch, đặc biệt đã đánh bại
được các trận tiến công của địch vào nhà Xôva và trường Ke, hai vị trí quan trọng để
giữ đường tiếp tế và rút lui ở phía sau.
4. Đợt 4 (7-2 đến 17-2-1947).
Địch đánh mạnh vào Liên khu I, trước hết là vào khu vực Hàng Thiếc. Ta
quyết định vẫn tiếp tục kéo dài giam chân địch thêm một thời gian.
Ngày 14, chúng tập trung quân và phi pháo, xe tăng thiết giáp tiến công khu
vực Đồng Xuân bị ta chặn đánh hết sức quyết liệt, diệt khoảng 200 địch, nhưng sau
đó địch chiếm lại được chợ Đồng Xuân.
Sau trận Đồng Xuân, Bộ Tổng chỉ huy, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội quyết định
cho Trung đoàn Thủ đô rút khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng tiếp tục chiến đấu
tiếng và kế hoạch kết thúc chiến tranh trước mùa mưa năm 1947 của thực dân Pháp.
Thắng lợi này tạo điều kiện hết sức thuận lợi để chuyển đất nước sang thời chiến và
tạo niềm tin vũng chắc, động viên cổ vũ cho cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài
nhưng nhất định thắng lợi.
--------------------------------------Theo cuốn “Hà Nội mở đầu kháng chiến toàn quốc - Tầm
vóc và ý nghĩa”.- H.: QĐND, 1996.
V/ KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA CUỘC CHIẾN ĐẤU 60 NGÀY ĐÊM MỞ ĐẦU
TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN CỦA QUÂN, DÂN HÀ NỘI.
A- KẾT QUẢ
Trong 60 ngày đêm đánh địch, Hà Nội đã đạt được những thành tích to lớn.
1. Góp phần rất quan trọng bảo vệ cơ quan đầu não được an toàn.
Địch muốn tiêu diệt các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến để thắng
nhanh. Nhưng ngay từ sau Cách mạng tháng Tám, Hà Nội đã làm tốt việc bảo vệ cơ
quan đầu não trong tình thế thù trong giặc ngoài hết sức phức tạp. Khi kháng chiến
toàn quốc sắp bùng nổ, Hà Nội đã góp phần rất quan trọng vào việc tìm ATK, di
chuyển cơ quan đầu não kịp thời bí mật, an toàn, nhờ đó duy trì được sự lãnh đạo và
chỉ huy kịp thời, liên tục của Thường vụ và Bộ Tổng chỉ huy, không những đối với
Hà Nội, mà đối với toàn quốc. Đây là một thành tích hết sức quan trọng.
2. Tiêu hao tiêu diệt khá nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch.
Với binh lực ít hơn địch nhiều lần, trang bị kém, trình độ bộ đội, cán bộ còn
thấp lại đánh địch trong thế cơ bản phải phòng ngự, Hà Nội vừa tiêu hao tiêu diệt
13
được khá nhiều địch, phá huỷ phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Số
địch bị tiêu diệt gần 2.000 tên. Tổng số xe bị phá là 22 xe tăng và xe thiết giáp, 31 xe
vận tải. ta còn bắn rơi và bắn hỏng 7 máy bay địch, bắn chìm 2 ca nô. Lực lượng địch
bị tiêu hao tiêu diệt thuộc những đơn vị tinh nhuệ bậc nhất đã từng tham gia giải
phóng nước Pháp, giải phóng Pari, đã từng đánh chiếm Tây Đức.
Tiểu đoàn 56 của Hà Đông tăng cường cho mặt trận Hà Nội, trải qua thử thách
trong chiến đấu đã trở thành cốt cán để xây dựng trung đoàn 35 có nhiệm vụ đánh
địch trên đường số 6 Hà Đông – Hoà Bình.
Tiểu đoàn 45 của Trung đoàn 13 (Hà Đông) và tiểu đoàn 69 của trung đoàn 9
(Sơn Tây) được rèn luyện trong khói lửa của mặt trận Hà Nội, đã cùng một tiểu đoàn
mới xây dựng để trở thành Trung đoàn 37 có nhiệm vụ đánh địch trên trục Hà Nội –
14
Sơn Tây. Hai trung đoàn 35 và 37 sau được sáp nhập thành Trung đoàn 66 – trung
đoàn chủ công của đại đoàn 304.
Một điểm quan trọng hơn là trong 60 ngày đêm chiến đấu, bộ đội Hà Nội đã
được thử thách trong khói lửa. Từ chỗ chiến sĩ cán bộ chưa hề có kinh nghiệm, họ đã
được đọ sức với địch trong nhiều trận nảy lửa, đã hiểu được địch một phần, có lòng
tin có thể đánh thắng địch.
Qua bốn điểm về kết quả nói trên, có thể nói quân dân Hà Nội đã hoàn thành
vượt mức nhiệm vụ Bác Hồ, Thường vụ, Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy giao cho.
Một điểm hết sức có ý nghĩa là 60 ngày đêm chiến đấu oanh liệt của Hà Nội đã
bồi dưỡng cho quân đội ta một bộ phận cán bộ sau này rất có tài năng.
B/ Ý NGHĨA CỦA THẮNG LỢI 60 NGÀY ĐÊM ĐÁNH ĐỊCH Ở HÀ NỘI.
Thắng lợi của 60 ngày đêm đánh địch ở Hà Nội có ý nghĩa hết sức to lớn. Có
thể nêu mấy điểm chủ yếu sau đây:
1. Về chiến lược, Hà Nội đã đánh đòn quyết định nhất trong chiến cuộc
chủ động mở đầu kháng chiến toàn quốc.
Chủ động hoặc bị động mở đầu chiến tranh xưa nay vẫn là vấn đề hết sức quan
trọng của nghệ thuật tiến hành chiến tranh. Nó ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình và kết
cục chiến tranh.
Ở nước ta, trong lịch sử, cha ông ta thường phải chống kẻ địch mạnh tiến công
mình. Nhưng việc mở đầu chiến tranh của ta nhìn chung chủ động.
Đời nhà Lý, quân ta chủ động “tiên phát chế nhân” tiến công Ung Liêm, rồi
nhanh chóng lật đổ chính quyền Trung ương của ta, nhanh chóng kết thúc cuộc
xâm lược.
Cũng như mọi kẻ xâm lược khác, thực dân Pháp đã vận dụng chiến lược đánh
nhanh thắng nhanh.
Từ 23 tháng 9 năm 1945, chúng định chiếm miền Nam trong vòng 4 tuần lễ,
nhưng rút cuộc chúng phải mất trên 5 tháng mới chiếm được Nam Bộ và Cực Nam
Trung Bộ. Tuy âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch không thể thực hiện nhưng
quân ta cũng chưa giáng được một đòn nào đáng kể vào chiến lược ấy của chúng.
Đến kháng chiến toàn quốc, Hà Nội đã làm phá sản kế hoạch của địch định
đánh chiếm Thủ đô trong một thời gian rất ngắn (có tư liệu nói trong vòng 24 gìơ),
đánh bại âm mưu kết thúc bằng một màn đảo chính, tức âm mưu thắng nhanh, buộc
địch phải đi vào một cuộc chiến tranh lâu dài, hoàn toàn trái với chiến lược đánh
nhanh thắng nhanh của chúng.
3. Thắng lợi của Hà Nội góp phần chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho cả
nước chuyển sang thời chiến.
Chuyển đất nước sang thời chiến cũng là một vấn đề lớn của nghệ thuật mở
đầu chiến tranh.
Thường bên mạnh, bên tiến công có điều kiện thuận lợi để chuyển đất nước
sang thời chiến một cách có chuẩn bị, có kế hoạch và an toàn. Còn bên yếu, bên
phòng ngự thường ít có điều kiện như vậy. Có khi tuy rất mạnh, nhưng không có
chuẩn bị, bị bất ngờ nên cũng không làm được.
Ở nước ta mặc dù khi mở đầu kháng chiến toàn quốc, so sánh lực lượng giữa
địch và ta rất chênh lệch, địch ở thế tiến công, ta ở thế phòng ngự, thậm chí ta buộc
phải rút lui ở một số địa bàn, nhưng ta lại chuyển đất nước sang thời chiến một cách
chủ động, có tổ chức, có kế hoạch, bí mật, an toàn, không có tổn thất gì đáng kể.
Sở dĩ như vậy là vì ta có chuẩn bị chu đáo trước và ta chủ động mở một chiến
cuộc đánh địch đồng thời ở nhiều thành phố, thị xã, tích cực tiêu hao tiêu diệt địch,
giam chân chúng càng lâu càng tốt.
Hà Nội có vinh dự bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ từ sau
Cách mạng tháng Tám và trước khi nổ súng, đã góp phần quan trọng vào việc di
Tuy địch cố bóp méo sự thật, đổ vấy cho ta gây chiến, nhưng nhân dân nhiều
nước Đông Nam Á đang chống thực dân xâm lược và nhân dân Pháp đều hiểu rõ
chính nghĩa của ta.
Chưa bao giờ trong một thời gian rất ngắn Bác đã gửi nhiều thư ngoại giao cho
tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, v.v... cho lãnh tụ các nước Ấn
Độ, Mianma, Thái Lan, v.v... như trong thời kỳ này. Các báo Ấn Độ, Mianma, Thái
Lan, Inđônêxia đã liên tiếp đăng tin ca ngợi chiến công của quân dân Việt Nam, nhất
là của Hà Nội. Nhân dân, nhiều nhân sĩ tiến bộ Pháp ủng hộ Việt Nam.
Dư luận Pháp lên tiếng phản đối chủ trương hiếu chiến của chính quyền Pháp.
Bản thân chính phủ Pháp cũng chê trách sự bất lực của bọn chỉ huy xâm lược ở Việt
Nam. Sau chiến cuộc Đông Xuân 1946-1947 mà trung tâm là trận hội chiến Hà Nội,
Đácgiăngliơ đã mất chức cao uỷ Đông Dương.
--------------------------------------------
17
Theo cuốn “Tổng kết 60 ngày đêm chiến đấu mở đầu toàn
quốc kháng chiến chống Pháp của quân và dân Thủ đô Hà Nội
(19/12/1946 – 18/2/1947).- H.: QĐND, 1997.
VI/ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI TRƯỚC KHI BƯỚC
VÀO CUỘC KHÁNG CHIẾN.
Công việc xây dựng các lực lượng vũ trang tuy gặp rất nhiều khó khăn, nhưng
dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự ủng hộ của nhân dân, đến tháng 12 năm 1946, Thủ
đô Hà Nội đã có những lực lượng bảo vệ sau đây: bộ đội chính quy, tự vệ chiến đấu,
công an xung phong, tự vệ thành.
Bộ đội chính quy: có 5 tiểu đoàn gồm 2.515 người, trong đó chỉ có 2 tiểu đoàn
đóng ở nội thành để bảo vệ các cơ quan chính phủ như Bắc Bộ Phủ, dinh Hồ Chủ
Tịch, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ... và một số công sở, xí nghiệp quan
trọng như toà án, Toà Thị chính, nhà ga, nhà máy điện, nhà máy nước, v.v. Các đơn
Việt - quốc, Việt – cách hoạt động mạnh thì chính tự vệ chiến đấu và công an xung
phong là những lực lượng chủ yếu đứng ra bảo vệ các cơ quan Mặt trận, đoàn thể,
bảo vệ cán bộ, chống lại các hoạt động ám sát, bắt cóc, tống tiền của bọn côn đồ. Sau
khi quân Tưởng cuốn xéo, tự vệ chiến đấu và công an xung phong đã phối hợp với bộ
đội vệ quốc đoàn và tự vệ thành tiêu diệt các ổ phản động của bọn Việt - quốc, Việt –
cách ở Quan Thánh, hiệu sách Trường Xuân ( phố Huế), Ôn Như Hầu, v.v. Lúc quân
Pháp vào Hà Nội đóng quân, tự vệ chiến đấu và công an xung phong cũng lại giữ
nhiệm vụ rất nặng nề trong việc chống các âm mưu khiêu khích của binh lính thực
dân, diệt trừ bọn Việt gian, phản quốc và bọn Trốtkít. Sau này đại bộ phận tự vệ
chiến đấu chuyển thành “đại đội đặc vụ của vệ quốc đoàn Hà Nội” và phiên chế vào
Bộ Quốc phòng, một số anh em khác được đặc phái xuống các khu phố để huấn luyện
quân sự cho tự vệ khu phố.
Tự vệ Hoàng Diệu: tổ chức để tự vệ của nhân dân Thủ đô, thành lập sau Cách
mạng tháng Tám với số lượng 5.000 thanh niên, gồm các tầng lớp xã hội như công
nhân, nông dân, trí thức, học sinh, viên chức, v.v. Lúc đầu tổ chức này lấy tên là “
Việt – dũng đoàn”.
Nhân dân Thủ đô nhiệt liệt ủng hộ việc xây dựng tự vệ khu phố, có bữa toàn
thành đã nhịn ăn góp gạo, bán lấy tiền mua sắm vũ khí. Từ đầu năm 1946, Việt –
dũng đoàn đổi tên là “ Thanh niên tự vệ Hoàng Diệu”. Mỗi khu phố tuỳ theo tầm
quan trọng và sự cần thiết có từ 1 trung đội đến 1 đại đội tự vệ.
Việc vũ trang tự vệ chủ yếu dựa vào nhân dân và do từng đội viên tự túc tiền
mua sắm. Ai có thứ vũ khí gì thì được sử dụng coi như của riêng, nhưng chỉ khi nào
làm nhiệm vụ chung mới được mang vũ khí.
Vì do mọi người tự mua sắm lấy nên vũ khí chỉ có hạn: 500 súng trường, 600
các bin , 2 súng máy và một số lựu đạn Nhật, Mỹ, hoặc lựu đạn do xưởng Phan Đình
Phùng của ta chế tạo. Còn đại bộ phận vũ trang bằng dao găm, kiếm, mã tấu, giáo,
mác.
Lực lượng tự vệ Hoàng Diệu cho tới trước ngày toàn quốc kháng chiến đã có
tới 8.500 người, đặt dưới sự chỉ đạo của Ban chấp hành tự vệ toàn thành.
Lực lượng nòng cốt để xây dựng Trung đoàn là các đơn vị vệ quốc đoàn và tự
vệ chiến đấu. Các cán bộ từ tiểu đội trở lên đều là những đồng chí đã được thử thách
trong chiến đấu, được anh em tín nhiệm. Ở mỗi tiểu đoàn và Trung đoàn bộ có một
chi bộ Đảng. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Trung đoàn là Trung đoàn uỷ do đồng
chí Lê Trung Toản làm bí thư. Ngoài ra còn có một số cơ quan các ngành thuộc Liên
khu bộ như: phòng quân pháp và toà án quân sự, ban quân nhu, ban trưng dụng, ban y
tế, ban tuyên truyền, v.v.
Tin Trung đoàn Liên khu I ra đời bay về hậu phương rất nhanh. Hàng trăm bức
thư, điện văn của Chính phủ và các cơ quan đoàn thể, đảng phái chính trị gửi vào
hoan hô, khích lệ các chiến sĩ. Báo Chiến thắng tại Liên khu I đã đăng một bức thư
ngắn của đồng chí Võ Nguyên Giáp, trong đó có đoạn viết: “... Tôi báo cho anh chị
em biết rằng nhân dân toàn quốc đang nô nức với cuộc chiến đấu anh dũng của anh
chị em. Tấm gương anh chị em cần giữ cho sáng, nêu cho cao, sáng hơn nữa, cao
hơn nữa trong lịch sử nước Việt Nam”.
Ngày 13 tháng 1 năm 1947, các chiến sĩ Liên khu 1 nhận được một bức điện
ngắn của Uỷ ban kháng chiến thành phố Hà Nội:
20
“ Gửi Trung đoàn bộ Trung đoàn Liên khu 1
Hội nghị quân sự toàn quốc họp ngày 12 tháng 1 năm 1947 quyết định tặng
Trung đoàn Liên khu 1 là: ĐOÀN THỦ ĐÔ. Sẽ có điện riêng của ông Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng trực tiếp khen tặng”.
Bức điện được phổ biến tới từng tổ chiến đấu. Các nữ tuyên truyền viên đem
tin đi đến đâu là tiếng reo hò ca hát rộn ràng đến đấy. Sự săn sóc của Đảng, Chính
phủ và nhân dân khiến cho các chiến sĩ Liên khu I rất cảm động. Những tin vui khác
lại liên tiếp truyền đi: Các chiến sĩ Nam Bộ tặng Trung đoàn một lá cờ thêu chữ
QUYẾT TỬ, hội phụ nữ Cứu quốc tỉnh Hải Dương tặng một lá cờ thêu dòng chữ
vàng TỔ QUỐC NHỚ ƠN. Anh chị em chiến sĩ Liên khu I ôm nhau sung sướng đến
trào nước mắt. Họ nắm tay nhau hứa hẹn đoàn kết chặt chẽ, vượt qua mọi khó khăn
nay theo chỉ thị của Trung ương Đảng, của Chính phủ, giữa khói lửa, chúng ta làm
lễ khai sinh cho đội quyết tử đồng thời cũng làm lễ khai tử cho chúng ta. Chúng ta
thề sống chết với thủ đô Hà Nội, con cháu chúng ta sẽ lấy ngày này làm giỗ chúng ta.
Giặc Pháp muốn chiếm thủ đô Hà Nội, nhưng chúng ta còn thì thủ đô không bao giờ
mất”.
Buổi lễ tuyên thệ nói nhiều đến cái chết, nhưng không ai nghĩ là mình sẽ chết
mà phải sống, sống mãi để giành lấy thắng lợi cuối cùng.
------------------------------------------Theo cuốn “Trung đoàn Thủ đô”/ Duy Đức. – H. : QĐND,
1962.
VIII/ GƯƠNG CHIẾN ĐẤU VÀ TRẬN ĐÁNH ÁC LIỆT TRONG 60 NGÀY ĐÊM
BẢO VỆ HÀ NỘI CUỐI NĂM 1946.
A - NHỮNG NGƯỜI ĐIỂM GIỜ G
ĐỖ CHÍ
Giờ G chính là 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Nhưng đúng giờ đó vẫn
chưa thấy gì. Tất cả cán bộ của Sở chỉ huy đều ngạc nhiên nhìn nhau: “ Kìa, sao chưa
có hiệu lệnh chiến đấu?”. Rồi một phút hồi hộp qua đi. Có tiếng chuông điện thoại.
Từ trong nhà đèn Bờ Hồ, trung đội trưởng Phúc Ánh, người được giao trách nhiệm
chỉ huy một tốp công nhân nhà máy tắt điện, hỏi tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Triệu:
“ Sao chưa thấy gì?”. Phúc Ánh cũng đang sốt ruột chờ hiệu lệnh, chờ đại bác ở
ngoại thành lên tiếng, chờ nhà máy điện Yên Phụ, nguồn điện chính của thành phố tắt
trước.
20 giờ 30 phút. Điện tắt.
Công nhân nhà máy điện Yên Phụ hoàn thành nhiệm vụ phá điện rất xuất sắc.
Đồng chí Nguyễn Giang, cán bộ công vận kể lại trận đánh rất quan trọng mở đầu đêm
lịch sử 19/12/1946 như sau:
Trung tâm Yên Phụ cung cấp điện cho Hà Nội và các tỉnh lân cận. Từ đầu
tháng 12/1946, đồng chí Nguyễn Văn Trân giao cho tôi nhiệm vụ làm kế hoạch phá
tay làm hiệu cho ông Cai Thăng giật cầu dao cắt điện. Rồi cùng đồng chí Dung mỗi
người điểm hoả một quả mìn...
20 giờ 03 phút. Điện tắt. Toàn thành phố chìm trong đêm tối, ắng lặng đi trong
giây lát. Rồi tiếng súng nổ, tiếng lựu đạn, tiếng mìn, tiếng thét xung phong. Cây cối
vặn mình đổ ầm ầm. Cả Hà Nội vùng lên dội xuống đầu quân xâm lược một trận bão
lửa bất ngờ, choáng váng.
B - TRẬN BẮC BỘ PHỦ
Sáng ngày 20, địch chiếm xong trục đường huyết mạch Cửa Nam – Nhà Hát
Lớn. Từ đây, chúng liên tiếp tấn công vào khu Hoàn Kiếm.
Ngày 20, lực lượng địch có khoảng 1 đại đội, 4 xe tăng, 8 xe bọc thép, dàn đội
hình từ Nhà băng Đông Dương ( nay là Ngân hàng Trung ương) qua vườn hoa Con
Cóc ( còn gọi là vườn hoa Cóc Phun) đến khách sạn Mêtrôpôn.
23
Mở đầu trận đánh lúc 6 giờ 30, địch tập trung các cỡ súng bắn dồn dập vào
chính diện khu vực Bắc Bộ Phủ gồm có Dinh Chủ Tịch và Bộ Nội Vụ. Tiếp đó, hai
xe tăng xông lên hàng rào sắt phía trước Dinh Chủ Tịch mở đường cho bộ binh xung
phong. Ta bắn mạnh, địch không vượt qua được hàng rào, phải kéo nhau lui về vườn
hoa Con Cóc.
9 giờ, địch tấn công lần thứ hai. Chúng dồn hoả lực tập trung vào Dinh Chủ
Tịch. Hai xe tăng húc đổ hai đoạn hàng rào xông vào trong sân và theo sau mỗi chiếc
xe có khoảng một trung đội bộ binh. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn bình tĩnh bắn chặn
địch diệt hơn chục tên và hầu như cùng lúc hai tổ bom ba càng đánh gục cả hai chiếc
xe tăng. Nhân đà thắng lợi, ta phản kích mạnh. Địch rối loạn tháo lui.
Đến gần trưa, địch tấn công lần thứ ba. Nhưng hàng giờ bắn phá, xông lên rồi
lại lùi xuống mấy lần xung phong thất bại, chúng chuyển hướng đột phá lướt qua bên
sườn Dinh Chủ Tịch, theo dọc vườn hoa Chí Linh, đánh vào nhà Bưu điện nhằm
chiếm lấy đó làm bàn đạp thọc sau lưng khu vực Bắc Bộ Phủ. Ở đây ta có một tiểu
kéo đến bổ nhào, bắn phá các hầm của ta ở sân trước, sân sau Dinh Chủ Tịch. Máy
bay địch hoạt động trên bầu trời khu vực Bắc Bộ Phủ, vườn hoa Chí Linh, Toà Thị
Chính... cho đến lúc sẩm tối.
----------------------------------------------Theo cuốn “ Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. – H. : Nxb.
Hà Nội, 1997.
IX/ MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA HÀ NỘI TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP.
- Di tích phố Hàng Bún khắc sâu căm thù thực dân xâm lược Pháp đã tàn sát
đồng bào ta ngày 17 tháng 12 năm 1946 - mở đầu cuộc gây hấn của Pháp ở Thủ đô
Hà Nội.
- Di tích nhà số 8 phố Lê Thái Tổ - nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Thường vụ Trung ương Đảng từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946.
- Nhà số 107 phố Trần Hưng Đạo – nơi thành lập đội tự vệ thành Hoàng Diệu.
- Pháo đài Láng – nơi đây đã nổ súng đầu tiên mở đầu ngày toàn quốc kháng
chiến chống thực dân Pháp 19 tháng 12 năm 1946.
- Bưu điện thành phố - nơi đã diễn ra trận chiến đấu ác liệt đêm 19 và ngày 20
tháng 12 năm 1946.
- Rạp hát Tố Như (phố Hàng Bạc). Ngày 7 tháng 1 năm 1947, thành lập trung
đoàn Liên khu I, sau đổi thành Trung đoàn Thủ đô.
- Chợ Đồng Xuân – nơi tiểu đoàn 101 đã chiến đấu ác liệt với thực dân Pháp
ngày 14 tháng 2 năm 1947, trước khi Trung đoàn Thủ đô rút lui về hậu cứ.
NHÀ SỐ 8 LÊ THÁI TỔ
NƠI Ở CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN
Di tích này chính là ngôi nhà số 8 phố Lê Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Nơi đây trước kia gọi là đường vua Lê hay đường Bờ Hồ, thuộc phần đất của các
25
Song việc bảo tồn những dấu vết xưa cũ và ghi tóm tắt ý nghĩa lịch sử của di tích để
giới thiệu với đồng bào cả nước cùng khách quốc tế là điều không thể thiếu trong
chặng đường lịch sử.
DI TÍCH CHỢ ĐỒNG XUÂN
Chợ Đồng Xuân xưa ở phường Đồng Xuân, tổng Hậu Trúc, sau đổi thành tổng
Đồng Xuân, huyện Thọ Xương.
26
Chợ xưa kia nằm bên lẻ của phố Đồng Xuân. Phố này còn có tên là phố Hàng
Gạo. Sau Cách mạng tháng 8-1945, ta đã đặt tên là phố Đồng Xuân, tiếp nối là phố
Hàng Giấy, thông sang phố Hàng Đường.
Chợ Đồng Xuân trải qua nhiều biến đổi, từ mảnh đất rào tre nứa 5 quán chợ,
cho đến ngày nay đã được dựng mới hoàn toàn, vẫn trên nền chợ cũ. Dưới đây là mấy
nét ghi lại về chợ vào cuối năm 1947 đầu năm 1948, tức là trong thời gian Pháp tạm
chiếm (cuối tháng 2-1947 đến tháng 10-1954)
Theo lời kể của các cụ cao tuổi Hàng Giấy cho biết: Chợ có 3 cổng vào, cổng
chính đi từ phía Đồng Xuân vào, 1 cổng ở phố Hàng Chiếu, và 1 cổng ở phía Hàng
Khoai.
Trước khi bị hoả hoạn (1994) chợ Đồng Xuân về cơ bản vẫn như trước kia, có
5 cầu được xây dựng nối tiếp nhau, toàn bộ diện tích: 52m x 70m = 3640m2
Phía trước cửa chợ có bức phù điêu thể hiện hình tượng các chiến sĩ Cảm tử
quân đang trong tư thế chiến đấu, cùng các lớp người ở nội thành tham gia chiến đấu
sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), thể hiện tinh thần “ Quyết tử cho tổ
quốc quyết sinh”.
Phía trên bức phù điêu bằng gỗ có đề: “Nơi đây xảy ra cuộc chiến đấu rất anh
dũng của quân và dân Liên khu I chống thực dân Pháp xâm lược ngày 14-1-1947”.
Ở Liên khu I ( gồm các khu Hoàn Kiếm, Long Biên, Đồng Xuân, Đông Kinh
Nghĩa Thục và Đông Thành), khu Đồng Xuân là cửa ngõ của Liên khu I. Địch mưu
mô tập trung hàng mấy tiểu đoàn trang bị tối tân định sẽ đè bẹp chớp nhoáng, giữa