Câu 1: Từ nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội của Chủ nghĩa Mác –
Lênin, hãy phân tích mô hình, đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay?
Phê phán quan điểm sai trái?
Trả lời:
Mở đầu: Nghiên cứu lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa để thấy quá trình phát
triển các nguyên lý, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là quá trình liên tục, luôn có sự bổ
sung, phát triển phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Sự phát triển đó, phù
thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Lý luận về chủ nghĩa xã hội là một nội
dung quan trọng được chủ nghĩa Mác Lênin, các đảng cộng sản thường xuyên nghiên
cứu, bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm trên nhiều phương diện. Đảng Cộng sản
Việt Nam trung thành với chủ nghĩa Mác lênin, và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ
thể của đất nước. Nhận thức về con đường, mục tiêu, mô hình đi lên CNXH ngày càng
rõ hơn. Đây cũng chính là bước phát triển tư duy của Đảng ta về lý luận CNXH.
Phân tích:
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mô hình và các đặc trưng của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam theo văn kiện đại hội XI là: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân
dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do
nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng
đồng Việt Nam bình đẳng đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản
lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”
- Xuất phát từ lý luận phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
của Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở để Đảng ta xác định mô hình, đặc trưng của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta” khi bàn về hình thái kinh tế - xã
hội cộng sản chủ nghĩa lần đầu tiên C. Mác và Ph. Ăngghen nêu ra lý luận về sự phân kỳ
trong hình thái kinh tế- xã hội ấy bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội
và giai đoạn cao là giai đoạn phát triển trên cơ sở của chính nó là chủ nghĩa cộng sản.
+ Lý luận về thời kỳ quá độ, giai đoạn thấp, giai đoạn cao.
người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ” .
- Chủ nghĩa xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do.
- Chủ nghĩa xã hội là xã hội giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bốc lột, bất
công, nghèo nàn, lạc hậu “Nước độc lập mà dân không được hưởng, hạnh phúc, tự do
thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”
- Chủ nghĩa xã hội là xã hội do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản.
- Chủ nghĩa xã hội là một chế độ dân chủ thật sự, dân chủ với đa số “bao nhiêu
lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”
- Dưới chủ nghĩa xã hội quyền làm chủ xã hội thuộc về nhân dân, dân là chủ,
dân làm chủ, chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương đều do dân cử ra, Nhà
nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
- Lý luận về sứ mệnh lịch sử của GCCN:
Theo Mác và Ănghen, giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử
thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, giành lấy dân chủ, bắt tay xây dựng xã hội mới, xã hội chủ
nghĩa. Điều này xuất phát từ địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp công
nhân. Theo qui luật phát triển của lịch sử, sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và ra
đời, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đều tất yếu như nhau. Cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản chống lại giai cấp tư sản là tất yếu của lịch sử, là quy luật khách quan, bởi lẽ
với bản chất của chủ nghĩa tư bản, sự đối kháng giữa GCVS và GCTS, “Giai cấp tư
sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử
dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”.
C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một vấn đề
khách quan nhưng để thực hiện thắng lợi sứ mệnh đó phải gắn liền với vai trò của
Đảng.
V.I. V.I. Lênin khẳng định lại tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về vai trò
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: là người duy nhất có sứ mệnh thủ tiêu chủ
nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên
con đường cách mạng vô sản.
+ Con đường cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc đó là “cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa”
+ Điều kiện để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa: Thành lập Đảng cộng
sản; Liên minh công nông trí; Đoàn kết dân tộc, quốc tế..
+ Biện pháp tiến hành:Đấu tranh chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao; Khởi
nghĩa vũ trang kết hợp với nổi dậy giành chính quyền; Sử dụng bạo lực cách mạng
một cách triệt để, kiên quyết để giành và giữ chính quyền.
- Sự phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội trước
công cuộc đổi mới.
Trước đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện Việt Nam. Trong các
Văn kiện thời kỳ này cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức bước
đầu về xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, về chính sách đối ngoại.
Về kinh tế: Đảng Cộng sản Việt Nam coi kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa là
phát triển cân đối các lĩnh vực, "có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa
học, kỹ thuật tiên tiến".
Về chính trị: Quan điểm đúng đắn xuyên suốt từ khi thành lập Đảng cho đến
thời kỳ này là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Việt Nam là đất nước duy
nhất thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược cùng một lúc: tiến hành cách
mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Về văn hoá: Vận dụng quan điểm Mác - Lênin về văn hoá vô sản - văn hoá xã
hội chủ nghĩa vào điều kiện Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phải xây
dựng văn hoá mới - văn hoá xã hội chủ nghĩa để xây dựng đời sống văn hoá tinh thần
của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Về xã hội: Thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội, thực hiện phân phối theo lao
động.
nghiệp lạc hậu với cơ sở vật chất - kỹ thuật rất nghèo nàn.
Từ những hạn chế, khuyết điểm vừa nêu trong nhận thức đã dẫn đất nước đến
tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng vào những năm 80 của thế kỷ XX.
Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm vừa nêu có cả hai phương diện:
khách quan, chủ quan. Trong đó những nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, trực tiếp;
có nguyên nhân từ tư duy lý luận: giáo điều, máy móc, xa rời các quan điểm lịch sử,
cụ thể và phát triển trong vận dụng lý luận Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Tính đặc
thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã chưa được nhận thức, xác
định đúng.
Thời kỳ này, mô hình xã hội, xã hội chủ nghĩa và phương hướng, giải pháp xây
dựng chủ nghĩa xã hội đều chưa được xác định cụ thể, thiết thực, phù hợp với đặc
điểm của Việt Nam.
- Tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về mô hình, đặc trưng của chủ nghĩa
xã hội trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Một trong những bài học kinh nghiệm quý báu mà Đại hội VI của Đảng đã đúc
kết là: "Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy
luật khách quan. Chính việc đổi mới tư duy, trước hết là tư duy lý luận về chủ nghĩa
xã hội đã tạo ra bước đột phá trên các lĩnh vực.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh này lần đầu tiên Đảng ta
đã chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội mà nhân dân ta xây dựng. Bao gồm:
Thứ nhất: Do nhân dân lao động làm chủ.
Thứ hai: Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Thứ ba: Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Thứ tư: Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo
năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện cá nhân.
Minh: dân chủ tức là dân là chủ, dân làm chủ.
Đảng ta nhận thức và từng bước bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
gắn liền với việc bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân (nhân dân là
chủ thể của mọi quyền lực).
Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ
nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất
nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất
cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trong thực tế
cuộc sống ở mọi cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do
nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực tiếp…”.
Thứ ba: Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp
So với cách diễn đạt trong Cương lĩnh năm 1991 và trong Văn kiện Đại hội X
thì lần này có những điều chỉnh nhất định: không diễn đạt quan hệ sản xuất dựa trên
"chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu" như Cương lĩnh năm 1991 hoặc
"có quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất" (như
Văn kiện Đại hội X) mà diễn đạt ngắn gọn về quan hệ sản xuất là "quan hệ sản xuất
tiến bộ phù hợp".
Đây là đặc trưng thể hiện tính ưu việt trên lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa xã hội
mà nhân dân ta đang xây dựng so với các chế độ xã hội khác.
Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) tiếp tục khẳng định: Những mâu thuẫn vốn
có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao
của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chẳng những
không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khi bàn về phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế.
Quan điểm này hoàn toàn nhất quán với đặc trưng trong quan hệ sản xuất của
chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng là xác lập dần từng bước chế độ công
hóa hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng của con người trong xã hội xã hội chủ
nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.
Vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa, Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã xác
định hệ giá trị phản ánh nhu cầu, nguyện vọng thiết thực của con người Việt Nam
hiện nay là: có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
cá nhân. Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội thể hiện trong đặc trưng này là quan điểm
nhân văn, vì con người, chăm lo xây dựng con người, phát triển toàn diện con người
(đức, trí, thể, mỹ) của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ sáu: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển
Đặc trưng này thể hiện tính ưu việt trong chính sách dân tộc, giải quyết đúng
các quan hệ dân tộc (theo nghĩa hẹp là quan hệ giữa các tộc người) trong quốc gia đa
dân tộc Việt Nam.
Thực tiễn gần 30 năm đổi mới đất nước đã và đang chứng minh tính ưu việt
trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, chứng minh tính ưu việt của chủ
nghĩa xã hội trong giải quyết các quan hệ dân tộc ở Việt Nam. Nhờ đó đã và đang
phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tính đồng thuận trong cộng đồng 54
dân tộc anh em, chống lại âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch.
Thứ bảy: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Đây là đặc trưng hoàn toàn mới được bổ sung từ Văn kiện Đại hội X. Tuy
nhiên, trong Cương lĩnh 2011 có diễn đạt mới: cụm từ "do Đảng Cộng sản lãnh đạo",
thay cho cụm từ "dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản".
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện trong tính ưu việt của
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực
hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tính ưu việt của một xã hội do nhân dân làm chủ gắn bó mật thiết với tính ưu
việt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã chỉ rõ tính ưu việt của Nhà nước
lập dân tộc. ...
Câu 2: Từ nghiên cứu các nguyên lý của CNXHKH, hãy phân tích quan
điểm của ĐCSVN: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn
đúng đắn của ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển
của lịch sử”. Phê phán quan điểm sai trái?
Trả lời:
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa để thấy quá trình phát triển các
nguyên lý, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là quá trình liên tục, luôn có sự bổ sung,
phát triển phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Sự phát triển đó, phù thuộc vào
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là
một nội dung quan trọng được chủ nghĩa Mác Lênin, các đảng cộng sản thường xuyên
nghiên cứu, bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm trên nhiều phương diện.
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân
dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp
với xu thế phát triển của lịch sử”. Đây thực chất là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo
các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin để Đảng tiếp tục kiên định, luận chứng
khoa học cho con đường đi lên CNXH ở nước ta. Quan điểm của Đảng xuất phát
từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:
- Cơ sở lý luận:
* Từ lý luận hình thái phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Xuất phát từ việc nghiên cứu các phương thức sản xuất vật chất - phương thức
kinh tế, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra lịch sử phát triển của xã hội loài người đã và
sẽ trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội, từ thấp đến cao: Hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản nguyên thuỷ; Hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ; Hình thái kinh tế - xã
hội phong kiến; Hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa; Hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa.
Trong đó, hình thái kinh tế -xã hội CSCN là hình thái kinh tế - xã hội sau
cùng, tiến bộ, ưu việt hơn hẳn so với các hình thái trước đó. Sau khi giai cấp công
- Lý luận về sứ mệnh lịch sử của GCCN:
Theo Mác và Ănghen, giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử
thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, giành lấy dân chủ, bắt tay xây dựng xã hội mới, xã hội chủ
nghĩa. Điều này xuất phát từ địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp công
nhân. Theo qui luật phát triển của lịch sử, sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và ra
đời, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đều tất yếu như nhau. Cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản chống lại giai cấp tư sản là tất yếu của lịch sử, là quy luật khách quan, bởi lẽ
với bản chất của chủ nghĩa tư bản, sự đối kháng giữa GCVS và GCTS, “Giai cấp tư
sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử
dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”.
C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một vấn đề
khách quan nhưng để thực hiện thắng lợi sứ mệnh đó phải gắn liền với vai trò của
Đảng.
V.I. V.I. Lênin khẳng định lại tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về vai trò
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: là người duy nhất có sứ mệnh thủ tiêu chủ
nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên
phạm vi toàn thế giới. Để giành được thắng lợi giai cấp công nhân Nga phải được
sự lãnh đạo của một chính đảng mác xit chân chính, Lênin đã đề ra học thuyết xuâ
dựng đảng kiểu mới vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
- Từ lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng xã hội
+ Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ
nghĩa: Tất yếu lịch sử, tất yếu kinh tế , tất yếu chính trị - xã hội
+ Phương pháp tiến hành: bạo lực, hoà bình, cách mạng không ngừng
+ Khả năng: Đồng loạt các nước tư bản phát triển, diễn ra trên từng quốc gia,
dân tộc, thậm chí một nước nơi khâu yếu của sợi dây chuyền CNTB.
+ Nội dung: toàn diện chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội: đạp tan nhà nước tư
sản,
+ Động lực cách mạng xã hội chủ nghĩa: Giai cấp công nhân lãnh đạo thông
có thể thất bại tạm thời, vì tiến trình cách mạng luôn luôn gặp phải sự chống trả
quyết liệt của các thế lực thù địch.
Thứ tư, cách mạng vô sản là cách mạng lâu dài, khó khăn, phải đảm bảo những
điều kiện tiên quyết: có sự lãnh đạo của các Đảng mácxít chân chính, giai cấp công
nhân phải liên minh chặt chẽ với nông dân và các tập thể lao động khác; Đảng của
giai cấp công nhân phải xác định đúng thời cơ, xây dựng chiến lược, sách lược đúng
đắn phù hợp với điều kiện cụ thể của tình hình…
Lý luận về cách mạng không ngừng của Mác đã được V.I.Lênin bảo vệ, bổ
sung, cụ thể hoá trong điều kiện nước Nga, làm chuyển biến cách mạng dân chủ tư
sản lên cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười.
- Cơ sở thực tiễn
* Chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn tồn tại với những tiềm năng phát triển nhất
định do các Chính phủ mới này đang cố gắng điều chỉnh các quan hệ kinh tế, chính
trị, xã hội… Tuy nhiên do bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi: chênh
lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng; vẫn là một chế độ xã hội áp bức, bóc lột, bất
công, các mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản vẫn không được giải quyết mà còn diễn
ra ngày càng gay gắt. Biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại là nhiều quốc
gia tư bản đang khủng hoảng trầm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Chân tướng của
chủ nghĩa tư bản cũng ngày càng bộc lộ rõ rệt tính chất phản nhân đạo, phản tiến bộ đi ngược lại xu thế phát triển của thời đại và quy luật tiến hoá của lịch sử. Vì vậy,
mặc dù chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn còn tồn tại và vẫn còn tác động tiêu cực đến
chính trị thế giới nhưng cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, các cuộc đấu tranh vì hoà
bình, dân chủ, tiến bộ xã hội sẽ quyết định sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản. Tương
lai loài người không thuộc về chủ nghĩa tư bản.
* Thực tiễn công cuộc cải cách đổi mới ở các nước.
Từ sau năm 1991 đến nay, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ thì một số nước cùng với việc rút ra những bài học từ sự đổ vỡ của mô
hình xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết, các cuộc cải cách ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt
Nam, với những thành tựu "to lớn có ý nghĩa lịch sử". Đó vừa là sự tìm tòi về lý luận
7% /năm. Kinh tế Cuba tăng trưởng bình quân GDP trong những năm qua khoảng
11,8%... Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, tỷ trọng GDP toàn thế giới của 5 nước
Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Triều Tiên và Lào đã tăng 2 lần trong vòng 15 năm
qua, từ 1,7% lên 4,1%.
Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, dân chủ được mở rộng, quốc phòng
an ninh được củng cố và ngày càng vững mạnh, đập tan mọi âm mưu diễn biến hòa
bình và bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động.
Thông qua thực tiễn đấu tranh và các diễn đàn quốc tế của các đảng cộng sản,
cánh tả họp hàng năm ở khu vực đã làm dấy lên phong trào nhân dân mạnh mẽ đánh
đổ các chính phủ cánh hữu, đưa các lực lượng cánh tả lên cầm quyền thông qua bầu
cử ở các nước Mỹ la tinh như: các chính phủ của Hugô Chavét ở Vênezuêla (năm
1998), Lagốt ở Chilê (năm 2000), Lula ở Braxin (năm 2002), Kitxnơ ở Áchentina
(năm 2003), Mactin Tôrigốt ở Panama (năm 2004), Tabarê Vatxkê ở Urugoay (năm
2004), Êvô Môralet ở Bôlivia và Baselét ở Chilê (năm 2006). Có thể thấy, phong trào
cánh tả ở Mỹ Latinh đang có những bước phát triển mạnh mẽ.
Các chính phủ cánh tả ở các nước Mỹ Latinh đã tiến hành các cải cách kinh tế xã hội sâu rộng vàthu được những kết quả bước đầu tích cực; kinh tế phục hồi và có
mức tăng trưởng khá; chính trị đi dần vào ổn định; đời sống nhân dân dần được cải
thiện...
- Thực tiễn cách mạng Việt Nam
Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam (ngày 3-2-1930) đã chủ trương: tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đến Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011), Đảng ta một lần nữa khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của
nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
Thực tiễn cách mạng nước ta 85 năm từ khi có Đảng lãnh đạo, Đảng và nhân
Quyết tâm của nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất để vượt qua khó khăn, xây
dựng thành công CNXH.
Xây dựng CNXH dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN, một đảng giàu tinh thần cách
mạng và sáng tạo, có đường lối đúng đắn và gắn bó với nhân dân, có Nhà nước
XHCN do dân, vì dân ngày càng được củng cố vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn
dân, đó là nhân tố chủ quan vô cùng quan trọng bảo đảm thắng lợi công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc VN XHCN.
Những điều kiện để Việt Nam thực hiện thành công kiểu quá độ rút ngắn
Để có thể thực hiện thành công con đường quá độ rút ngắn lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam, cần phải nắm vững lý luận thời kỳ quá độ của chủ nghĩa Mác - Lênin và
vận dụng nó một cách đúng đắn và sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để
thúc đẩy nhanh lực lượng sản xuất phát triển. Cụ thể là phải thực hiện chiến lược
công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đầu tư phát triển kinh tế tri thức, nhất là lĩnh
vực khoa học, công nghệ và công nghệ thông tin để tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cần
thiết cho sự phát triển nhanh của lực lượng sản xuất.
Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm: đội ngũ trí thức, các
nhà khoa học tài năng đức độ; đội ngũ công nhân - tri thức, người lao động có trình
độ cao để đủ sức làm chủ quá trình sản xuất trong thời đại khoa học - công nghệ và
kinh tế tri thức.
Tạo điều kiện và môi trường chính trị, dân chủ lành mạnh để tạo động lực cho
hoạt động sáng tạo đạt hiệu quả cao, vì đây là yếu tố không thể thiếu để đảm bảo cho
kinh tế tri thức phát triển.
Phát triển đội ngũ tinh hoa của đất nước, đó là các nhà lãnh đạo quản lý thật sự
có đức, có tài, vừa hồng vừa chuyên, tâm huyết và kiên định với sự nghiệp và con
đường phát triển của đất nước. Đây được xem là một trong những yếu tố có ý nghĩa
quyết định để vạch ra đường lối chiến lược phát triển đúng đắn và tạo sự đồng thuận
trong dân để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
ở Việt Nam./.
điều kiện đất nước.
- Thực chất quan điểm của Đảng ta là một lần nữa khẳng định bản chất tốt
đẹp, ưu việt chế độ chính trị - xã hội của Việt Nam, khẳng định vai trò của dân chủ
với sự phát triển của đất nước.
- Sở dĩ Đảng khẳng định như vậy xuất phát từ quan điểm chủ chủ nghĩa Mác
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Quan niệm của CN Mác – Lênin về dân chủ thể hiện ở những quan điểm sau:
+ Dân chủ là một nhu cầu khác quan của nhân dân lao động, dân chủ là quyền
lực thuộc về nhân dân, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát
triển tự do của mọi người”.
+ Khi XH có giai cấp và nhà nước – tức là một chế độ dân chủ thể hiện chủ
yếu qua nhà nước thì khi đó không có dân chủ chung chung, phi giai cấp, siêu giai
cấp, “ dân chủ thuần túy”. Trái lại, mỗi chế độ dân chủ gắn liền với nhà nước đều
mang bản chất giai cấp thống trị XH: Dân chủ nô lệ, dân chủ TS, dân chủ VS ( dân
chủ XHCN ).
+ Từ khi có nhà nước dân chủ, thì dân chủ còn với ý nghĩa là một hình thức
nhà nước, trong đó chế độ bầu cử, bãi miễn các thành viên của nhà nước, có quản lý
XH theo pháp luật nhà nước và thừa nhận ở nước đó “quyền lực thuộc về nhân dân”
gắn liền với một hệ thống chuyên chính của giai cấp thống trị xã hội. Tính giai cấp
thống trị cũng gắn liền và chi phối tính dân tộc, tính chính trị, kinh tế, văn hóa, XH…
ở mỗi quốc gia, dân tộc cụ thể.
V.I.Lênin viết: "Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những
hình thái của nhà nước, cho nên cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi
hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng chế đối với người ta; một mặt là như thế.
Nhưng mặt khác, chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhận quyền bình đẳng
giữa những công dân, thừa nhận cho mọi người có quyền ngang nhau trong việc xác
định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước" 1
Bản chất của dân chủ XHCN:
sản xuất Người cho rằng : Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là một kế hoạch dân chủ,
nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên…Phải bàn bạc dân chủ và tính toán cho
công bằng, hợp lý .
11 V.I. Lênin, Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ, M. 1976, Tr. 123.
1 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2000, tr.515
Hồ Chí Minh đã nhận thức được quy luật khách quan, Người đưa ra quan
điểm : Từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ việc quản lý kinh tế, làm
chủ việc phân phối sản phẩm theo lao động.
+ Dân chủ luôn gắn liền với chuyên chính, kỷ luật, kỷ cương xã hội; Muốn có
một nền dân chủ thực sự thì phải thực hiện dân chủ triệt để “ thực hành dân chủ là cái
chìa khoá vạn năng để có thể giải quyết mọi khó khăn”
Vai trò của quần chúng nhân dân trong thực hiện dân chủ
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và đánh giá cao vai trò của quần chúng
nhân dân trong cách mạng cũng như trong qúa trình thực hiện dân chủ. “ Trong bầu
trời không có gì quý bằng nhân dân, không sức mạnh nào bằng sức mạnh toàn dân
đoàn kết”, “ nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. “Lực lượng
toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn ai hết, không ai chiến thắng được lực lượng đó”.
- Nội dung thực hiện dân chủ toàn diện: Đó là quyền bình đẳng về chính trị,
kinh tế, văn hóa, trước pháp luật, giữa các dân tộc, nam nữ…
Người đã chỉ rõ: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ”. “Nếu Chính phủ
làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.
Đảng, Chính phủ“Phải làm sao cho dân biết quyền dân chủ, biết dùng quyền
dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.
+ Phát triển kinh tế, văn hóa , “ thực hiện những cải cách xã hội, để nâng cao
đời sống nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự”.
+ Phải khơi dậy được sức mạnh to lớn của nhân dân, để mỗi người dân đều
hăng hái phấn đấu tham gia xây dựng các mục tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa, “ Nhân
+ Trong công cuộc đổi mới đất nước:
Đại hội VI đánh dấu bước phát triển tư duy lý luận về dân chủ xã hội chủ nghĩa
của Đảng. Đó là coi “làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ dân chủ
xã hội chủ nghĩa cần được thực hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống” 2. Đảng xác
định “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong
quản lý toàn bộ xã hội”.
Cương lĩnh 1991 tiếp tục khẳng định các quan điểm của Đảng ta về dân chủ xã
hội chủ nghĩa, coi bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền làm chủ trên thực
tế, về mọi mặt của nhân dân; xác định các nội dung dân chủ trên các lĩnh vực đời
sống xã hội, mối quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính, dân chủ và tập trung, dân
chủ với pháp luật, kỷ luật, kỷ cương xã hội.
Đại hội VIII, chủ trương “xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của
Đảng, Nhà nước”. Nêu lên các hình thức dân chủ: “thông qua đại diện là các cơ quan
dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng
các qui ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với pháp luật của Nhà nước”3
Trong nhiệm kỳ Đại hội IX, Đảng coi thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là
điều kiện, yêu cầu cơ bản để xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân. Tiếp
tục hoàn thiện hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện và coi đó là phương
hướng cơ bản để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Đại hội X, coi phát huy dân chủ gắn với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, là một phương hướng quan trọng để phát huy Đại đoàn kết; coi thực hiện “phản
biện xã hội” của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thẻ nhân dân để phát huy dân chủ, triển
khai Qui chấ dân chủ ở mọi cấp để nhân dân tham gia rộng rãi vào xây dựng hệ thống
chính trị.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng TT, T 47, tr. 433
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, H 1996, tr. 127
Đại hội X tiếp tục khẳng định “dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa
ngày càng phát huy trong quá trình xây dựng xã hội mới;
Thứ hai, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo;
Thứ ba, dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đa số, của người lao động, vì
đa số và người lao động, không phải của thiểu số bóc lột, đặc quyền, đặc lợi;
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb Chính trị Quốc gia, H 2006, tr. 125
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H 2011, tr. 84-85
6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H 2011, tr. 85
7 Sđd, tr. 85
Thứ tư, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ, mà ở đó, nhân dân lao
động làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm;
Thứ năm, dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện bằng hệ thống tổ chức thể
hiện quyền lực chính trị - xã hội của nhân dân, tập trung và thông qua nhà nước;
Thứ sáu, không ngừng mở rộng dân chủ gắn với tăng cường kỷ cương, pháp
luật là quy luật cơ bản của sự phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó là bản chất tốt
đẹp của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó là chế độ dân chủ “gấp triệu lần” hơn bất cứ
chế độ dân chủ nào trong lịch sử như V.I.Lênin từng khẳng định.
Nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì nó vẫn là nền
dân chủ của thiểu số, của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai
cấp tư sản đối với xã hội và lao động.
* Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của sự phát triển đất nước thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, nền dân chủ ấy phải được xác lập và không ngừng hoàn thiện cùng
với quá trình phát triển đất nước;
Thứ hai, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải xuất phát
từ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân;
Thứ ba, nhân dân lao động làm chủ thực sự trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội là thước đo và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của nền dân chủ xã hội chủ