MÔN THI LSTHPT
Câu 1: Tư tưởng về bản thể luận và nhận thức luận của triết học cổ đại? Giá
trị lịch sử đối với sự phát triển tư tưởng triết học nhân loại?
Là một điểm sáng trong bức tranh triết học chung của thế giới, triết học Hy Lạp cổ
đại đã đóng góp cho sự hình thành và phát triết tư tưởng triết học nhân loại những giá trị
to lớn, đặt nền móng ban đầu cho các học thuyết triết học sau này phát triển, đặc biệt là
đã cống hiến cho Triết học Mác - Lênin những hạt nhân hợp lý.
Không mờ nhạt như triết học phương đông, triết học cổ đại Hy Lạp đề cập một
cách sâu sắc đến hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học, đặc biệt là vấn đề bản thể luận
và nhận thức luận - những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
*Tư tưởng về bản thể luận
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại không dừng lại ở sự nhận xét muôn hình muôn vẻ
của thế giới, họ đã đi tìm cơ sở của nó với cách quy nó về một nguyên nhân phổ biến,
sâu sắc hơn về một nguyên thể đầu tiên. Các nhà triết học duy vật thời kỳ này đã cố tình
“xây dựng nên mặt lý luận về thế giới, thế giới gồm có cái gì, và tác động như thế nào
vào các khái niệm trong đời sống và lao động hàng ngày”. Công lao của các nhà duy vật
Hy Lạp cổ đại là đã xây dựng được giả thiết về cơ cấu nguyên tử của vật chất. Nét nổi
bật của triết học duy vật là các nhà triết học đều cho rằng thế giới là do vật chất tạo
thành, có vận động và có biến đổi, tuy rằng quan niệm vật chất tạo thành giới của mỗi
nhà triết học có khác nhau:
- Talet coi bản nguyên thế giới ông coi đó là nước, mọi sự vật hiện tượng đều được
sinh ra từ nước và khi tiêu tan lại trở về với nước. Nước là vĩnh viễn, bất diệt, còn
những cái được sinh ra từ nó lại luôn biến đổi. Đóng góp độc đáo của Talet cho tư duy
chính là ông quan niệm rằng, mặc dù có những sự khác biệt trong các sự vật khác nhau,
nhưng vẫn có một sự giống nhau cơ bản giữa tất cả các sự vật ấy, và cái nhiều nhưng
tương quan với nhau nhờ cái một. Ông giả thiết rằng có một yếu tố duy nhất nào đó,
một “chất liệu” nào đó chứa đựng nguyên lý hành động hay biến đối của chính nó và là
nền tảng cho mọi thực tại vật lý.
- Anaximanđrơ cho rằng Ơpâyron là bản nguyên của thế giới. Đây là một dạng vật
chất đơn nhất, bất định, vô hạn và tồn tại vĩnh viễn. Ông còn cho rằng Ơpâyron là
nguồn gốc vận động của các sự vật vì nó có chứa các mặt đối lập như nóng và lạnh, khô
giới đó không do thần thánh hoặc do một lực lượng siêu nhiên nào tạo nên. Quan niệm
duy vật thô sơ của các nhà triết học Hy lạp cổ đại đã đóng góp vào trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa duy tâm, chống tôn giáo, chống thần học cổ đại.
*Tư tưởng về nhận thức luận
- Các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã giải quyết đúng đắn mặt thứ hai của
vấn đề cơ bản của triết học. Họ cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế
giới, nhận thức được chân lý khách quan.
- Đối tượng của nhận thức theo họ không phải là thế giới ý niệm mà là thế giới vật
chất, là giới tự nhiên.
- Họ là những người đầu tiên nêu lên cảm giác luận duy vật và cho rằng cảm giác
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nhận thức. Nhận thức lý tính không tách rời nhận
thức cảm tính, theo họ, đó là hai giai đoạn của quá trình nhận thức.
- Họ đã đứng trên quan điểm nhận thức luận duy vật để chống chủ nghĩa duy lý
duy tâm.
Hêraclít cho rằng nhận thức cảm tính có vai trò rất quan trọng vì nó đem lại cho ta
sự hiểu biết xác thực và sinh động về các sự vật đơn lẻ, tuy nhiên cảm tính không giúp
con người nhận thức được logos của sự vật. Chỉ có lý tính mới đem lại sự hiểu biết về
logos, tuy nhiên không phải ai cũng có khả năng này mà chỉ các nhà thông thái mới hiểu
được logos.
Đêmôcrit: ông đã có những quan điếm tiến bộ hơn, ông đã phân biệt sự khác nhau
giữa con người và con vật là ở chỗ trong con người chúng ta có nhiều nhiệt lượng hơn
và các chất cấu thành cũng sạch sẽ hơn so với động vật. Ông đã định nghĩa con người
như một động vật nhưng về bản tính, có khả năng học được bất kì cái gì, có chân tay,
cảm giác và sự năng động trí tuệ làm trợ giúp cho mọi cái. Ông đã chia nhận thức của
con người thành hai trình độ: nhận thức cảm tính và nhận thức chân lý(đáng tin cậy).
Arixtôt: coi thế giới khách quan là đối tượng nhận thức, là nguồn gốc của cảm giác
và kinh nghiệm, coi tự nhiên là thứ nhất còn tri thức là thứ hai. Ông chia nhận thức ra
thành hai giai đoạn là cảm tính và lý tính, trong đó cảm tính là điểm bắt đầu của mọi tri
thế kỷ XIX có những biến đổi sâu sắc: từ 300 nhà nước nhỏ chỉ còn vài chục, tư tưởng
tự do và luật pháp tư sản từng bước được áp dụng trong các nhà nước này; sản xuất,
kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển. Trong khi đó, quân
đội Phổ bị Pháp đánh bại và chiếm đóng nhiều vùng đất đã mất sức chiến đấu.Tình hình
đó đã làm sôi sục tình thần dân tộc của giai cấp tư sản và nhân dân Đức trong cuộc đấu
tranh chông chủ nghĩa phong kiến.
Do ra đời từ một nền công nghiệp chưa phát triển lại bị quan hệ phong kiến chèn
ép, giai cấp tư sản Đức không đủ mạnh, không thống nhất, thậm chí hèn nhát buộc phải
thoả hiệp với giai cấp địa chủ phong kiến. Sự thoả hiệp giữa hai giai cấp này đã quy
định và thể hiện rõ nét tính quy định đối với sự hình thành, tồn tại, phát triển của nền
triết học cổ điển Đức đầu thế kỷ XIX.
Khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX đã đạt được những thành
tựu xuất sắc.Các phát minh của Lômônôxốp (người Nga), Lavoađiê (người Pháp),
Đantôn (người Anh) đã vạch ra phép biện chứng của tự nhiên, thúc đẩy kỹ thuật và công
nghiệp phát triển.Những tiến bộ lớn về khoa học đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến
nền triết học Đức thời kỳ này.
Triết học cổ điển Đức là sự tiếp tục và phát triển tất yếu của những trào lưu tư
tưởng triết học tiên tiên thế kỷ XVII- XVIII. Đó là triết học của R.Đềcáctơ, Ph.Bêcơn,
B.Xpinôda, G.V.Lépnít, G.Lôccơ… và những nhà khai sáng Đức thế kỷ XVIII… Tồn
tại của nước Đức đầu thế kỷ XIX đã in dấu ấn sâu sắc trong nền triết học cổ điển Đức:
tính chất duy tâm, sự thoả hiệp, nửa vời và bảo thủ của nó. Mặt khác, thực tiễn cách
mạng ở châu Âu, thành tựu khoa học tự nhiên và tư tưởng triết học duy vật Anh và Pháp
đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng biện chứng và duy vật trong triết học cổ điển Đức.
Triết học cổ điến Đức với những nét riêng do nền tảng chính trị, xã hội và tư tưởng
của thời kỳ này quy định là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển ở phương Tây và có
ảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại. Kant, Hêghen và Phoiơbắc là nhừng đại biểu lớn
của triết học cổ điển Đức, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển triết học vào cuối
thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, góp phần làm cho triết học cổ điển Đức trở thành
người không phụ thuộc vào ý thức con người, là cơ sở sinh sống của con người. Giới tự
nhiên không do ai sáng tạo ra, nó tồn tại, vận động nhờ những cơ sở bên trong nó.
Triết học của Phoiơbắc mang tính chất nhân bản.Nó chống lại nhị nguyên luận về
sự tách rời giữa tinh thần và thể xác.Ông coi ý thức tinh thần cũng là một thuộc tính đặc
biệt của vật chất có tổ chức cao là óc người.Từ đó cho phép khẳng định mối quan hệ
khăng khít giữa tồn tại và tư duy. Phoiơbắc không chỉ chống lại chủ nghĩa duy tâm mà
với triết học nhân bản của mình ông còn đấu tranh chống nhừng quan điểm duy vật tầm
thường quy các hiện tượng tâm lý, tinh thần về các quá trình lý hóa, không thấy sự khác
nhau về chất giữa chúng.
Mặt tích cực trong triết học nhân bản của Phoiơbắc còn thể hiện ở chỗ ông đấu
tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo Thiên chúa, đặc biệt là quan
niệm về thượng đế. Trái với các quan niệm truyền thống của tôn giáo và thần học cho
rằng thượng đế tạo ra con người. Ông khẳng định chính con người sáng tạo ra thượng
đế. Phoiơbắc phủ nhân mọi thứ tôn giáo và thần hoc về một vị thượng đế siêu nhiên
đứng ngoài sáng tạo ra con người, chi phối cuộc sống của con người.
Triết học của Phoiơbắc cũng bộc lộ những hạn chế. Đó là khi ông đứng trên lập
trường của chủ nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội.
Con người trong quan niệm của Phoiơbắc là con người trừu tượng, khi xã hội mang
những thuộc tính sinh học bẩm sinh. Triết học nhân bản của Phoiơbắc chứa đựng những
yếu tố của chủ nghĩa duy tâm. Ông nói rằng bản tính con người là tình yêu, tôn giáo
cũng là một tình yêu. Do vậy, thay thế cho thứ tôn giáo tôn sùng một vị thượng đế siêu
nhiên cần xây dựng một thứ tôn giáo mới phù họp với tình yêu của con người. Ông cho
rằng cần phải biến tình yêu thương giữa người với người thành mối quan hệ chi phối
mọi mối quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội.Trong điều kiện của xã hội tư sản
Đức thời đó, với sự phân chia và đối lập giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo của Phoiơbắc
trở thành trừu tượng và duy tâm.
Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, Phoiơbắc lại phủ nhận
luôn phép biện chứng vốn là "hạt nhân hợp lý” của Hêghen.
trưng. Từ chỗ chỉ là những nhận thức trực quan, chất phác có xen lẫn yếu tố duy tâm
của triết học thời kỳ cổ đại đến bước đầu quan điểm duy vật siêu hình, máy móc vào thế
kỷ XV và phát triển đến đỉnh cao với triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa duy vật đã chứng
tỏ là tiền đề đáng tin cậy cho một sự phát triển cao hơn của chính bản thân mình, đó là
chủ nghĩa duy vật biện chứng sau này.
Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật ngày càng chứng
tỏ là có cơ sở khoa học và chủ nghĩa duy vật với cách nhìn khoa học đối với thế giới đã
có nhiều đóng góp vĩ đại cho sự phát triển của triết học, khoa học nói riêng và cho xã
hội nói chung.
Câu 3.Tư tưởng biện chứng của triết học phương Tây cổ đại?Giá trị lịch sử
đối với sự phát triển triết học nhân loại?
*Bối cảnh ra đời của triêí học Hy Lạp cổ đại
- Là một trong những “chiếc nôi” của nền văn minh cổ đại, Hy Lạp không chỉ nổi
tiêng với những thành tựu của khoa học tự nhiên, văn học, nghệ thuật mà còn có nền
triết học phát triển rực rỡ gồm những hệ thống, trường phái, học thuyết triết học nổi
tiếng với tên tuổi của những triết gia lớn,
- Khởi đầu cho sự ra đời và phát triển của triết học phương Tây và nhân loại. Cơ sở
để hiểu và đánh giá chính xác những công hiến và các hạn chế của triết học Hy Lạp cổ
đại là nắm vững bối cảnh lịch sử, xã hội của sự ra đời và phát triên của nền triết học
này.
- Vào thời nguyên thuỷ, ở Hy Lạp, văn học dân gian, thần thoại và trường ca nổi
tiếng của Hôme đã chứa đựng những quan niệm của người Hy Lạp cổ về các hiện tượng
phức tạp của tự nhiên và xã hội. Đó là mầm mống của những tư tưởng triết học. Vào
khoảng thế kỷ thứ VII-VI tr.CN, chế độ chiêm hữu nô lệ đã được xác lập và phát triển,
triết học với tư cách là hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới
và vai trò của con người trong thế giới đã chính thức ra đời.
- Chế độ đìiếm hữu nô lệ được hình thành và phát triên gắn liền với việc sử dụng
đổ sắt đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và giao lưu,
của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ.Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy
nghĩ của con người.Logos khách quan phải phù hợp với logos chủ quan nhưng nó biểu
hiện ở từng người khác nhau.
- Theo Empêđôclơ thì mọi sự vật đều có quá trình được sinh ra và bị mất đi (sinh
tử) đó chính là sự hợp và phân của 4 căn nguyên: đất, nước, không khí và lửa. Nguồn
gốc của sự vận động đó là do sự tác động của hai lực đối lập là tình yêu và căm thù.
Tình yêu làm cho các căn nguyên kết hợp lại với nhau còn căm thù thì là cho chúng tách
rời nhau. Đây là một bước thụt lùi.
- Anannago, dưới hình thức sơ khai, đã nêu lên tư tưởng biện chứng về mối liên hệ
phổ biến giữa các sự vật. Ông cho rằng sự biến hoá về chất giữa các sự vật là do sù thay
thế phần lớn trong nó các hạt giống của sự vật. Và ông giải thích sự vận động của những
“phần tử đồng nhất” bằng một lực ở bên ngoài mà ông gọi là lực Nusơ.
- Lơxip thì cho rằng vận động chỉ là sự di chuyển vật thể trong không gian. Tuy
nhiện ông đã đề cập đến tính nhân quả tất yeué trên quan điểm quyết định luận duy vật,
chống lại mục đích luận của chủ nghĩa duy tâm.Ông khẳng định “Không một sự vật nào
phát sinh một cách vô cớ mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy và do quá tính
tất nhiên”.
- Đêmôcit kế thừa quan điểm của Hêracrit cho rằng mọi sự vật biến đổi không
ngừng.Quan điềm của ông về vận động của nguyên tử là vĩnh viễn và nguyên nhân là ở
bản thân nguyên tử, ở động lực tự thận, tự nó. Đồng thời ông thừa nhận sự ràng buộc
theo qui luật nhân quả, tính tất nhiên và tính khác quan của các hiện tượng tự nhiên.
- Arixtôt thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận
động và biến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại ở bên ngoài sự vật, hơn nữa sự
vật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ với các sự vật khác. Ông cho rằng vận động
gắn liền với các vật thể, với mọi sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên.Ông cũng đã
khẳng định vận động là không thể bị tiêu diệt, đã có vận động và mãi mãi có vận động.
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nghiên cứu phép biện chứng cốt chỉ để nâng cao
nghệ thuật tranh luận, nghệ thuật hùng biện để bảo vệ những luận điểm triết học của mình
như là nền văn hoá văn minh nhân loại.
Câu 6: Phân tích điểm khác biệt giữa THPT cổ, trung đại với THPĐ cổ, trung
đại. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được
thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ.
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặc
biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự
nhiên, địa lý dân số mà hơn cả là phương thức của sản xuất của phương Đông là phương
thức sản xuất nhỏ còn phương Tây là phương thức sản xuất của tư bản do vậy mà cái
phản ánh ý thức cũng khác
1. Mục đích của triết học
Sự ra đời của triết học trước hết xuất phát từ những đòi hỏi của cuộc sống; => triết
học có vị trí đặc biệt quan trọng; sự tồn tại của triết học không phải vì bản thân của triết
học mà bởi vì nó cần cho cuộc sống.Tuy vậy, mục đích của hai nền triết học cũng có sự
khác nhau.
- Ptây: nhận thức để cải tạo thế giới; triết học trở thành công cụ giúp cho con người
chinh phục tự nhiên.
- PĐ: Xây dựng những con người lý tưởng, khôi phục lại “trật tự xã hội đã mất”
(Nho giáo) hay “ giải thoát” con người (Phật giáo), làm cho con người “hòa đồng” với
thiên nhiên (Đạo giáo)…
2. Phương pháp tiếp cận của triết học
- Ptây: Thường đi từ thế giới quan, bản thể luận đến nhân sinh quan, nhận thức
luận, lô gic học, từ đó tạo nên một hệ thống tương đối hoàn chỉnh, chặt chẽ. PTây nhìn
chung có xu hướng đi từ thực thể ban đầu tạo nên thế giới như nước, lửa, không khí,
nguyên tử…
- PĐông: các nhà tư tưởng lớn lại đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan. Việc đề cập
tới giới tự nhiên xét đến cùng cũng là nhằm để lý giải về con người và xã hội loài người.
Sự khác nhau về phương pháp tiếp cận của triết học Phương đông và triết học
- PTây phân biệt rõ chủ thể và khách thể, chủ quan và khách quan, người nhận
thức và đối tượng nhận thức thì ở Phương Đông chủ trương để nhận thức sự vật con
người cần phải hòa mình vào đối tượng.
- Triết học PTây thường có những sự biến đổi nhảy vọt mang tính cách mạng, vạch
thời đại. Phương Đông lại nghiêng về sự phát triển tuần tự.Triết học Phương Đông có sự
phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, đi sâu vào từng chi tiết.
- Về PBC: Tiết học PTây nghiêng về đấu tranh, nghiêng về vận động và phát triển
theo chiều hướng đi lên…Thì triết học PĐông lại đề cao sự thống nhất, coi vận động và
phát triển là những vòng tuần hoàn, thậm chí là những vòng tròn khép kín.
5. Triết học Phương Tây gắn với khoa học tự nhiên còn triết học Phương Đông
gắn với chính trị xã hội.
- Từ sự khác biệt về cơ sở KT-XH=> sự khác biệt về TT TH
- Trong quá trình nhận thức các sự vật hiện tượng tự nhiên, xã hội và con người,
các nhà triết học Phương Tây đã dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên nên xu
hướng chủ đạo của triết học là duy vật. Triết học phương đông ít khi tồn tại dưới dạng
triết học thuần túy. Tư tưởng triết học thường “lẩn khuất” đằng sau những học thuyết
chính trị xã hội và tôn giáo
6. Triết học Phương Tây mang tính giai cấp trực diện còn triết học Phương Đông
thì tính giai cấp mờ nhạt…
- Phương Tây sự phân chia các hình thái kinh tế xã hội ở Phương Đông không rõ nét.
Nguyên nhân: Chế độ quốc hữu hóa về ruộng đất và sự tồn tại dai dẳng của công
xã nông thôn đã làm cho sự phát nhiển của các xã hội Phương Đông có tính chất “tiệm
tiến” mà ít có những biến đổi nhảy vọt.
- Phương Tây: Triết học đã là TGQ của các tập đoàn chủ nô, thống trị xã hội.
Chính vì vậy, nó mang tính giai cấp, điều này thể hiện trong cuộc đấu tranh quyết liệt
giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm, giữa hai phương pháp biện chứng và siêu hình.
*Giá trị lịch sử và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Mặc dù có sự khác nhau nhất định, xong triết học Phương Tây cũng như triết học
Phương Đông đã cơ bản đáp ứng được những vấn đề cấp bách mà thời đại lúc bấy giờ
đã đặt ra. Theo như C.Mác: “mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần
được tăng cường, nhờ đó mà các nước phát triển sớm như Anh, Pháp, Tây Ban Nha... thi
nhau xâm chiếm thuộc địa để mở rộng việc khai thác thiên nhiên và thị trường tiêu thụ
hàng hoá.
*Về xã hội: Đồng thời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã
hội Tây Âu thời kì này, sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt. Tầng lớp tư sản xuất hiện
gồm các chủ xưởng công trường thủ công, xưởng thợ, thuyền buôn... Vai trò và vị trí
của họ trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn.Hàng loạt nông dân từ nông thôn di cư ra
thành thị, trở thành người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ. Họ tham gia vào
lực lượng lao động xã hội mới, làm hình thành giai cấp công nhân. Các tầng lớp xã hội
trên đại diện cho một nền sản xuất mới, cùng với nông dân đấu tranh chống chế độ
phong kiến đang suy tàn.
*Về văn hoá, tư tưởng: Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, khoa học kĩ
thuật và tư tưởng thời kì Phục hưng cũng đạt được sự phát triển mạnh mẽ. Các nhà tư
tưởng thời Phục hưng đã phê phán mạnh mẽ các giáo lý Trung cổ. Mở đầu là nhà triết
học người phía Nam nước Đức, Nicôlai Kuzan (1401-1464). Tiếp đó là các nhà khoa
học - triết học như Nicôlai Côpecnich (1475-1543) người Ba Lan; Lêôna đơ Vanhxi
(1452-1519) - nhà danh hoạ, nhà toán học, cơ học, kĩ sư người Italia; Gioocđanô Brunô
(1548-1600) người Italia; Galilêô Galilê (1564-1642) người Italia.
Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức
duy vật về thế giới, nổi trội hơn cả là thuyết nhật tâm của Nicôlai Côpecnich (14751543), nhà bác học vĩ đại người Ba Lan. Nicôlai Côpecnich đã đứng trên lập trường của
triết học duy vật để bác bỏ thuyết địa tâm do Ptôlêmê (người Hy Lạp) đề xuất từ thế kỷ
thứ II, một giả thuyết sai lầm coi quả đất là trung tâm của hệ mặt trời và vũ trụ. Thuyết
nhật tâm của Nicôlai Côpecnich đã giáng một đòn nặng nề vào thế giới quan tôn giáo,
thần học.Giả thuyết của ông là một cuộc cách mạng trên trời, báo trước một cuộc cách
mạng trong lĩnh vực các quan hệ xã hội sắp xảy ra.
Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học duy vật,
vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung cổ. Cuộc đấu tranh của
chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc
với nhiều khám phá trong lĩnh vực tâm sinh lý học, các nhà triết học ngày càng thấy rõ
vai trò của thể xác con người đối với sự phát triến trí tuệ và nhân cách. Tuy nhiên con
người ờ đây mới được đề cập chủ yếu ở khía cạnh cá thể, bản chất xã hội của con người
chưa được đề cao.
- Cuộc đấu tranh phức tạp và dai dẳng giữa triết học và khoa học chân chính với
các quan niệm tôn giáo, thần học trong việc giải quyết các vấn đề bản chất của Thượng
đế, thế giới và con người.
Thời kỳ Phục Hưng ờ Tây Âu, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã bênh vực
triết học duy vật, chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học trung cổ. Song chính việc
thỏa hiệp của giai cấp tư sản trong các vấn đề tôn giáo là hậu thuẫn trực tiếp cho các
quan niệm tự nhiên thần luận (thuyết cho rằng tự nhiên sau khi được Chúa sinh ra rồi thì
vận động theo quy luật riêng của nó, không phụ thuộc vào Chúa nữa) và phiếm thần
luận (thuyết cho rằng tự nhiên và Chúa là một) thòi kỳ này.
Đây là những hình thức biểu hiện của tư tưởng duy vật trong cuộc đấu tranh chống
tôn giáo.Những tư tưởng này rất gắn chặt với những thành tựu khoa học, thúc đẩy mạnh
mẽ lực lượng sản xuất mới.Nhiều nhà khoa học đã có những tư tưởng tiến bộ đặc biệt là
về khoa học tự nhiên lúc bấy giờ.Khoa học tự nhiên thời kỳ này được xây dựng trong
không khí cách mạng và bản thân nó cũng cách mạng.
Mặt khác, sự tồn tại dai dẳng của tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm triết học đòi hỏi
chúng ta không nên phiến diện trong việc đánh giá tôn giáo cũng như tiến trình lịch sử
thắng lợi của các tư tưởng duy vật và vô thần trong cuộc đâu tranh chống các quan niệm
duy tâm và tôn giáo. Xét ở một khía cạnh cụ thể, các quan niệm này đóng vai trò tích
cực nhất định trong đòi sống xã hội.
- Cùng vói sự phục hồi của phép biện chứng tự phát thời cổ đại, trong khoa học tự
nhiên và trong triết học xuất hiện xu hướng siêu hình, xu hướg này tăng lên vào cuối
thời kỳ Phục Hưng.
Triết học duy vật thế kỷ XVII - XVIII có phương pháp nhận thức xem xét các hiện
tượng trong tự nhiên theo phương pháp siêu hình, máy móc. Dựa vào phát triển khoa
kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển. Trong khi đó, quân
đội Phổ bị Pháp đánh bại và chiếm đóng nhiều vùng đất đã mất sức chiến đấu.Tình hình
đó đã làm sôi sục tình thần dân tộc của giai cấp tư sản và nhân dân Đức trong cuộc đấu
tranh chông chủ nghĩa phong kiến.
Do ra đời từ một nền công nghiệp chưa phát triển lại bị quan hệ phong kiến chèn
ép, giai cấp tư sản Đức không đủ mạnh, không thống nhất, thậm chí hèn nhát buộc phải
thoả hiệp với giai cấp địa chủ phong kiến. Sự thoả hiệp giữa hai giai cấp này đã quy
định và thể hiện rõ nét tính quy định đối với sự hình thành, tồn tại, phát triển của nền
triết học cổ điển Đức đầu thế kỷ XIX.
Khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX đã đạt được những thành
tựu xuất sắc.Các phát minh của Lômônôxốp (người Nga), Lavoađiê (người Pháp),
Đantôn (người Anh) đã vạch ra phép biện chứng của tự nhiên, thúc đẩy kỹ thuật và công
nghiệp phát triển.Những tiến bộ lớn về khoa học đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến
nền triết học Đức thời kỳ này.
Triết học cổ điển Đức là sự tiếp tục và phát triển tất yếu của những trào lưu tư
tưởng triết học tiên tiên thế kỷ XVII- XVIII. Đó là triết học của R.Đềcáctơ, Ph.Bêcơn,
B.Xpinôda, G.V.Lépnít, G.Lôccơ… và những nhà khai sáng Đức thế kỷ XVIII… Tồn
tại của nước Đức đầu thế kỷ XIX đã in dấu ấn sâu sắc trong nền triết học cổ điển Đức:
tính chất duy tâm, sự thoả hiệp, nửa vời và bảo thủ của nó. Mặt khác, thực tiễn cách
mạng ở châu Âu, thành tựu khoa học tự nhiên và tư tưởng triết học duy vật Anh và Pháp
đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng biện chứng và duy vật trong triết học cổ điển Đức.
Triết học cổ điến Đức với những nét riêng do nền tảng chính trị, xã hội và tư tưởng
của thời kỳ này quy định là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển ở phương Tây và có
ảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại. Kant, Hêghen và Phoiơbắc là nhừng đại biểu lớn
của triết học cổ điển Đức, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển triết học vào cuối
thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, góp phần làm cho triết học cổ điển Đức trở thành
một tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác.
Mặc dù đứng trên lập trường duy tâm, nhưng phép biện chứng cồ điển Đức đã đặt ra
động và của tất cả mọi sức sống; chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân
nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có năng lực và hoạt động”. Ông đã phát
hiện ra các quy luật biện chứng cơ bản mà các nhà triết học trước đó có đề cập nhưng
chưa được thể hiện một cách rõ ràng. Hêghen đã nghiên cứu hơn một trăm phạm trù
khác nhau, cùng với các quy luật và chúng tạo thành một hệ thống, thống nhất
+ Hêghen cho rằng: “tất cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó”.
Mâu thuẫn là bản chất của mọi sự vật, mọi tư tưởng và khái niệm.Mọi cái đều là sự
thống nhất, nhưng không phải là sự thống nhất khô cứng mà là sự thống nhất cụ thể của
các mặt đối lập.Mâu thuẫn là một quá trình thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập. Bước chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác là quá trình tích luỹ dẫn dần về
lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại. Đồng thời đây cũng là quá trình phủ
định của giai đoạn sau đối với giai đoạn trước.Bản thân sự giải quyết mâu thuẫn cũng
chính là sự phủ định của cái mới đối với cái cũ, là sự phá vỡ độ dẫn đến sự hình thành
chất mới.
+ Hêghen còn có đóng góp to lớn vào việc xây dựng học thuyết về biện chứng của
“tha hoá”, với tư cách là mâu thuẫn xã hội đặc biệt và cơ bản. Như C.Mác đã nhận xét
trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Hêghen đã xuất phát từ “tha hóa” để nghiên
cứu triết học của mình.
+ Xây dựng một hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của phép
biện chứng như: phạm trù chất, lượng, độ, lọc bỏ, phủ định, mâu thuẫn, cái chung, cái
riêng, bản chất, hiện tượng, nguyên nhân, kết quả… là công lao to lớn của Hêghen.
+ Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Hêghen đã tạo ra được một lý luận biện
chứng phát triển với tư cách là lôgic học và với tư cách là phương pháp, đã hợp nhất
phép biện chứng - một hệ thống lý luận biện chứng với sự kết hợp của phép biện chứng
và lôgíc học.
+ Hêghen đã đề ra một loạt những tư tưởng biện chứng về sự thống nhất của vật
chất và vận động, về tính chất mâu thuẫn của những phạm trù không gian, thời gian và
vận động, về sự phụ thuộc của những đặc tính hoá học vào những thay đổi về lượng…
ánh tình trạng mâu thuẫn của giai cấp tư sản Đức, khuynh hướng thoả hiệp của nó với
các thế lực phong kiến.Hegel ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến, bênh vực nhà nước quân
chủ phản động Phổ, cho đó là đỉnh cao của sự phát triển xã hội.Như vậy ông đã nhận
thức sai lầm về khái niệm nhà nước, thừa nhận cái tuyệt đối của nó. Do đó, ông cũng
như các nhà triết học trước đó, chỉ tìm cách giải thích mà không thể tìm ra được con
đường đúng đắn để cải tạo xã hội hiện thực.
Câu 7: Đặc điểm của THPT cổ đại và giá trị lịch sử của nó đối với sự phát
triển TH hiện đại?
*Bối cảnh ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại
- Là một trong những “chiếc nôi” của nền văn minh cổ đại, Hy Lạp không chỉ nổi
tiêng với những thành tựu của khoa học tự nhiên, văn học, nghệ thuật mà còn có nền
triết học phát triển rực rỡ gồm những hệ thống, trường phái, học thuyết triết học nổi
tiếng với tên tuổi của những triết gia lớn,
- Khởi đầu cho sự ra đời và phát triển của triết học phương Tây và nhân loại. Cơ sở
để hiểu và đánh giá chính xác những công hiến và các hạn chế của triết học Hy Lạp cổ
đại là nắm vững bối cảnh lịch sử, xã hội của sự ra đời và phát triên của nền triết học
này.
- Vào thời nguyên thuỷ, ở Hy Lạp, văn học dân gian, thần thoại và trường ca nổi
tiếng của Hôme đã chứa đựng những quan niệm của người Hy Lạp cổ về các hiện tượng
phức tạp của tự nhiên và xã hội. Đó là mầm mống của những tư tưởng triết học. Vào
khoảng thế kỷ thứ VII-VI tr.CN, chế độ chiêm hữu nô lệ đã được xác lập và phát triển,
triết học với tư cách là hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới
và vai trò của con người trong thế giới đã chính thức ra đời.
- Chế độ đìiếm hữu nô lệ được hình thành và phát triên gắn liền với việc sử dụng
đổ sắt đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và giao lưu,
buôn bán ngày càng mở rộng với quy mô lớn, dẫn đến sự ra đời của các thành bang, các
trung tâm kinh tế, văn hóa lớn, nổi bật là thành bang Aten và spac.
- Chiến thắng của Hy Lạp trong chiến tranh với Ba Tư (thế kỷ IV tr.CN) đã giúp họ
của nó là lương tâm trong sáng, tinh thần lành mạnh của từng cá nhân. Tư tưởng về đời
sống kinh tế - xã hội là cơ sở của đời sống đạo đức, là tư tưởng có giá trị của Ông.
Platon hướng đạo đức vào đời sống của thế giới “ý niệm” trong sự tha hoá của nó thành
thiện, ác, thành sự thông thái và lòng dũng cảm
+ Về CT-XH: Đêmôcríttheo phái chủ nô dân chủ, kịch liệt chống lại phái chủ nô
quí tộc. Platon đứng về phía NN bảo thủ, đấu tranh chống lại nền dân chủ.
- Hai là, Triết học Hy Lạp cổ đại gắn chặt với khoa học lự nhiên, lấy giới tự nhiên
làm đối tượng nghiên cứu. Vì vậy, nó thuộc loại hình triết học tự nhiên, nhà triết học
đồng thời là nhà khoa học tự nhiên; muốn hiểu biết sâu sắc nền triết học này cần phải có
tri thức khoa học tự nhiên vững chắc.
+ Do nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất xã hội nên lực lượng sản xuất từng bước
phát triển đó cũng là sự quan tâm của nhiều ngành khoa học. Chính sự phát triển các
ngành khoa học ấy nó lại tạo ra điều kiện để phát triển lực lượng sản xuất. Những nhà
triết học tiêu biểu ở thời kỳ Hy Lạp cổ đại là: TaLét, Anaximanđrơ, Anaximen, Hêraclít,
Pitago, Lơxíp, Đêmôcrít, Platôn, Arixtốt..
+ Các nhà triết học phương Tây hoà mình trong tự nhiên, quan tâm đến tự nhiên,
đối tượng nghiên cứu là giới tự nhiên, nhà khoa học tự nhiên là nhà triết học, hoặc nhà
triết học cũng đồng thời là nhà khoa học tự nhiên. Bởi vì ở phương Tây chính nhu cầu
của sản xuất xã hội, chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cực kỳ phát triển. Đó là thời kỳ nhân loại
chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt.
+ Triết học Hy Lạp cổ đại gắn chặt với khoa học tự nhiên bởi nó xuất phát từ nhu
cầu sản xuất hàng hoá, nhu cầu mở rộng chiến tranh để có thêm nô lệ và tài nguyên
- Ba là, Triết học Hy Lạp cổ đại là ngọn cờ lý luận của giai cấp chủ nô, ngay từ đầu
đã mang tính chất giai cấp sâu sắc. Về thực chất, là thế giới quan, ý thức hệ của giai cấp
chủ nô thống trị, là công cụ lý luận để duy trì và bảo vệ trật tự xã hội dương thời, phục
vụ cho giai cấp chủ nô.
- Bốn là, Phép biện chứng tự phát, ngây thơ ra đời và phát triển trong triết học Hy
Lạp cổ đại cùng với chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và thành tựu của khoa học tự
nhiên... là đặc điểm nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại.
- Năm là, Ngay từ đầu, sự ra đời của triết học Hy Lạp đã gắn chặt với thực tiễn,
tưởng Hồ Chí Minh
- Nắm vững lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ đảng viên đặc biệt là lực
lượng vũ trang trong nhận thức cũng như trong hành động, trong mỗi việc làm.