TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn CHIẾN TRANH và QUÂN đội - Pdf 40

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHIẾN TRANH - QUÂN ĐỘI
1. Thực chất bước ngoặc cách mạng trong lý luận về chiến tranh và quân đội
do Mác, Ăng ghen thực hiện? Ý nghĩa của vấn đề trong cuộc đấu tranh tư tưởng,
lý luận hiện nay?
Chủ nghĩa Mác, triết học Mác nói chung và những tư tưởng về chiến tranh, quân
đội nói riêng không phải là một trào lưu biệt lập, tách khỏi văn minh chung của nhân
loại. Quá trình hình thành và phát triển những tư tưởng về chiến tranh và quân đội của
C.Mác và Ph.Ăngghen là quá trình kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của nhân loại.
Đó là quá trình không ngừng đấu tranh chống lại những quan điểm duy tâm, tôn giáo,
siêu hình, cũng như những quan điểm phản khoa học của giai cấp tư sản về chiến tranh
và quân đội.
- Hai ông kiên quyết chống lại quan điểm duy tâm của Platôn thời cổ đại, vạch rõ
chiến tranh không phải là tất yếu vốn có, là định mệnh đối với con người và xã hội loài
người mà có nguồn gốc và nguyên nhân của nó.
- Tôn giáo: chiến tranh là do trời, do lực lượng siêu nhiên.
- G.Hêghen, C.Ph.Claudơvít, những người đã xuất phát từ lập trường tư sản để giải
thích hiện tượng chiến tranh và quân đội. Chiến tranh là công cụ của chính trị, nhưng là
chính trị chung chung, trừu tượng, phi giai cấp. Hêghen cho rằng: Quân đội là công cụ
bạo lực của toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc. Thực chất đây là quan điểm lừa
bịp, che giấu bản chất giai cấp của quân đội (quân đội phi chính trị, phi giai cấp).
- C.Mác và Ph.Ăngghen còn đấu tranh chống các quan điểm cho rằng nguồn gốc,
nguyên nhân của chiến tranh là đo tâm lý, sinh lý, địa lý, kỹ thuật, dân số... gây nên.
Việc đánh giá có phê phán những thành tựu của toàn bộ tư tưởng lý luận quân sự
trước đó trên lập trường có tính nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cho
phép C.Mác và Ph.Ăngghen tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong các quan điểm, tư
tường về chiến tranh và quân đội.
*Về bạo lực: C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem đến cho lý luận về bạo lực một tinh
thần mới, thực sự khoa học.
- Coi đó là cơ sở lý luận để nghiên cứu, xem xét các vấn đề về chiến tranh và quân đội.
- Nguồn gốc: bạo lực là phạm trù lịch sử, nguồn gốc của nó gắn với chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp.

là một phạm trù vĩnh viễn, cũng không phải là một tất yếu mang tính định mệnh. Con
người có thể loại bỏ được chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội khi xóa bỏ chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp.
- Làm rõ mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị, xem chiến tranh chỉ là sự tiếp tục
của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực. Theo đó, chiến tranh và chính trị có mối quan hệ với
nhau, chính trị bao giờ cũng là biểu hiện quyền lợi của giai cấp, còn chiến tranh bao giờ
cũng thực hiện mục đích chính trị, sự kế tục chính trị đó trước khi xảy ra chiến tranh.
Khi tổng kết cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), hai ông đã rút ra kết luận, rằng
chính trị sau khi dẫn đến chiến tranh thì nó vẫn tiếp tục cả trong thời kỳ chiến tranh.
Hai ông còn luận giải rõ mối quan hệ giữa chính trị đối nội và chính trị đối ngoại,
khắc phục được những sai lầm của các quan điểm trước đó về vấn đề này.
- Tính chất xã hội của chiến tranh: làm rõ cơ sở xã hội để phân tích, làm rõ tính
chất xã hội của chiến tranh. Khẳng định tính chất xã hội của chiến tranh không phải bất
biến, nó cũng có thể chuyển hoá; tính chất xã hội của chiến tranh phụ thuộc vào chế độ
chính trị - xã hội, vào mục đích chính trị mà cuộc chiến tranh đó đang tiếp tục…
Hai ông là người đầu tiên phân tích chiến tranh có 2 loại. Coi chiến tranh tấn công
là chiến tranh phi nghĩa, chiến tranh phòng ngự là chiến tranh chính nghĩa. Ủng hộ
chiến tranh chính nghĩa, lên án chiến tranh phi nghĩa.
Mặc khác, đi vào mục đích, tính chất của cuộc chiến tranh đó như thế nào. Tuyệt nhiên
quan niệm của hai ông không dựa vào hành động quân sự đơn thuần mà đi vào nội dung
chính trị, xã hội để phân tích đâu là chiến tranh chính nghĩa, đâu là chiến tranh phi nghĩa.
*Về quân đội
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu quân đội trong mối quan hệ với chiến tranh,
nhà nước và giai cấp. Biểu hiện:
- Ăngghen là người đầu tiên định nghĩa quân đội là gì: Quân đội là một tập đoàn
người vũ trang, có tổ chức, do nhà nước xây dựng để dùng vào cuộc chiến tranh tiến
công hoặc chiến tranh phòng ngự.


Quân đội là một tổ chức của nhà nước, do nhà nước xây dựng nên. Bản chất giai

cải tạo hiện thực quân sự của giai cấp vô sản.


2. Những cống hiến của Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển các quan điểm
của Mác, Ăng ghen về chiến tranh quân đội? Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề?
Cuối thế kỷ XIX dầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự đo cạnh tranh
chuyển sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).
- Sự xuất hiện chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm
lược giữa các nước tư bản nhằm thôn tính lẫn nhau, mở rộng thuộc địa và thị trường
nhằm vơ vét ngày càng nhiều lợi nhuận cho bọn tư bản độc quyền. Các cuộc chiến tranh
trong thời kỳ này diễn ra với quy mô và sử dụng lực lượng ngày càng lớn, vũ khí ngày
càng hiện đại, tác chiến hợp đồng quân binh chủng và có sự liên minh thành các khối
quân sự. Sự tiêu hao về người và của cải ngày càng lớn, tính chất ngày càng ác liệt, mức
độ tồn thất về người và hậu quả chiến tranh để lại cũng ngày càng nặng nề hơn.
- Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thành công, Nhà nước XHCN đầu tiên ra đời
trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc đã đặt ra những yêu cầu mới vủa thực tiễn xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, thực tiễn chuẩn bị lực lượng xây dựng nền QPTD, xây dựng Hồng quân
để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.
- V.I.Lênin (1870-1924), nhà lý luận thiên tài, vị lãnh tụ vĩ đại của giai cáp vô sản
và toàn thể nhân dân lao động trên thế giới, với những phẩm chất tư duy thiên bẩm và
lòng nhiệt thành cách mạng của mình, đã bảo vệ và phát triển thành công chủ nghĩa
Mác nói chung và những tư tưởng về chiến tranh và quân đội của C.Mác và PhĂngghen
nói riêng trong thòi kỳ đế quốc chủ nghĩa và cách mạng cô sản một cách toàn diện và
sâu sắc, đồng thời, vận đụng, phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới - điều
kiện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
*Vấn đề bạo lực cách mạng
- Vấn đề bạo lực và bạo lực cách mạng luôn được Lênin quan tâm và coi đó là cơ
sở lý luận để tiếp tục phát triển tư tưởng về chiến tranh và quân đội. Người luôn đấu
tranh kiên quyết chống lại những tư tưởng xuyên tạc quan điểm của C.Mác và
Ph.Ẫngghen về bạo lực.

Khẳng định rõ về sự lệ thuộc của chiến tranh vào mục đích chính trị của các giai
cấp, nhà nước đang theo đuổi chiến tranh. Người viết: “Chiến tranh chẳng qua chỉ là
chính trị từ đầu đến cuối, chỉ là sự tiếp tục thực hiện cùng những mục đích… của các
giai cấp… với những phương pháp khác mà thôi” (t.32, tr.356).
Luận điểm này của V.I.Lênin là sự đóng góp to lớn cho lý luận về bản chất chiến
tranh, là phương pháp luận quan trọng để xem xét chiến tranh như là một hiện tượng
chính trị - xã hội, kể cả các cuộc chiến tranh trong thời đại ngày nay.
Chống lại các quan điểm của các lãnh tụ Quốc tế II khi giải thích bản chất của
chiến tranh bằng phương pháp ngụy biện, họ đã xem xét tách rời giữa quan hệ kinh tế
với chính trị trong từng nước hoặc liên minh giữa các nước tiến hành chiến tranh.
- Phân chia các kiểu, loại chiến tranh: V.I.Lênin là người đầu tiên chỉ ra lý luận,
tiêu chí phân chia kiểu, loại chiến tranh.
Để phân kiểu, loại chiến tranh một cách đúng đắn, khoa học phải đứng trên lập
trường của giai cấp vô sản, phải dựa vào nội dung chính trị của mỗi cuộc chiến tranh,
gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại. V.I.Lênin cho rằng: “Không thể hiểu nổi
cuộc chiến tranh hiện nay nếu không hiểu được thời đại” (t.49, tr.388).
Là người đầu tiên chỉ ra khái niệm chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa
để phân loại tính chất xã hội của các cuộc chiến tranh, người khẳng định: “Trong lịch sử
đã từng nhiều lần có những cuộc chiến tranh tiến bộ - mặc dù những cuộc chiến tranh
này cũng như bất cứ cuộc chiến tranh nào khác, không tránh khỏi đem lại những nỗi
khủng khiếp tai hoạ, đau khổ - nghĩa là những cuộc chiến tranh có ích cho sự phát triển
của nhân loại” (t.49, tr.159). Từ đó Người đi đến kết luận: “có nhiều loại chiến tranh, có
chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phản động, có chiến tranh của những giai cấp
tiên tiến và chiến tranh của giai cấp lạc hậu, có chiến tranh nhằm củng cố ách áp bức
giai cấp và chiến tranh nhằm lật đổ ách áp bức ấy” (t.49, tr.403-404).
- Thái độ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động đối với chiến tranh
Ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, kiên quyết lên án, ngăn chặn chiến tranh phi nghĩa
“Đối với người maxxit thì làm sáng tỏ tính chất của chiến tranh là tiền đề cần thiết để
giải quyết vấn đề thái độ của mình đối với chiến tranh” (t.26, tr.30).
Biến chiến tranh đế quốc chủ nghĩa thành nội chiến. Trong chiến tranh chính

về chất so với quân đội tư sản.
- Phát triển lý luận về vai trò của nhân tố tinh thần trong chiến tranh, chỉ ra tính
quy luật của quá trình hình thành, phát triển của nhân tố tinh thần, cơ sở để củng cố
xây dựng nhân tố tinh thần cho quân đội như: phải dựa vào chế độ chính trị - xã hội;
nhân dân và quân đội phải thống nhất về chính trị tư tưởng; vai trò của hậu phương
quân đội, vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội… “Ở đâu công tác
chính trị trong quân đội được tiến hành chu đáo nhất thì ở đấy không có tình trạng lỏng
lẻo trong quân đội, quân đội giữ được trật tự tốt hơn, tinh thần của quân đội cao hơn, ở
đấy thu được nhiều thắng lợi hơn” (t.39, tr.66).
- Ngoài ra, V.I.Lênin còn đề cập đến tư tưởng xây dựng, củng cố quốc phòng, mối
quan hệ kinh tế với quốc phòng, xây dựng Hồng quân vững mạnh.
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định đóng góp của Lênin: Bổ sung, phát triển…. thực chất là lý luận về
chiến tranh, quân đội trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa.
- Những vấn đề thuần Lênin: Nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới (Hồng
quân); xây dựng học thuyết vũ trang, bảo vệ tổ quốc.
- Điều kiện ngày nay: Bổi cảnh quốc tế, khu vực, trong nước; Sự phát triển của
khoa học công nghệ và chiến tranh công nghệ cao; Sự chống phá của kẻ thù.
- Đấu tranh các quan điểm sai trái.


5. Sự thống nhất và khác biệt giữa quan điểm của Claudơvít và quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất chiến tranh? Ý nghĩa phương pháp luận
của vấn đề?
Bản chất chiến tranh là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong lịch sử, cũng như
hiện nay. Chiến tranh nổ ra với tính chất, quy mô và với không gian, thời gian khác nhau,
vì vậy nhận thức bản chất chiến tranh thường gặp khó khăn đối với mọi người. Trong lịch
sử đã có nhiều nhà tư tưởng, nhà quân sự khái quát về bản chất chiến tranh. Thời Cổ đại,
Arixtốt (384-322 Tr.CN) đã khái quát, chiến tranh là nghệ thuật chính trị. G.Hêghen
(1770-1830), nhà triết học duy tâm cổ điển Đức quan niệm, chiến tranh là công cụ thực

quan hệ giữa quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác), ông phủ nhận những
cuộc chiến diễn ra trong nội bộ quốc gia, dân tộc giữa hai giai cấp đối kháng. Ông chỉ
quan tâm đến vấn đề đối ngọai, quan hệ giữa các nước -> đem quân đánh nước khác ->
hai nước đánh nhau -> không có cuộc chiến tranh trong một nước -> trái quy luật,
không hợp lý -> phản đối nội chiến cách mạng.


Theo Lênin, chiến tranh là sự thống nhất cả chính trị, đối nội và đối ngoại, trong đó
đối ngoại là phản ánh của đối nội “chiến tranh là sự phản ánh của chính sách đối nội mà
nước đó đã thi hành trước đây” (t.39, tr.361).
Kết luận: Từ sự so sánh trên cho phép chúng ta bác bỏ quan điểm tư sản cho rằng
qua điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đồng nhất với quan điểm của Claudơvít về bản
chất của chiến tranh.
6. Quan điểm mácxít về mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị? Ý nghĩa
trong xem xét, đánh giá bản chất các cuộc chiến tranh hiện nay?
Chiến tranh và chính trị là những hiện tượng chính trị xã hội khác nhau, nhưng
quan hệ hữu cơ với nhau. Quan hệ giữa chính trị và chiến tranh là một phương diện
quan trọng của bản chất chiến tranh. Trong quan hệ này, chính trị là mặt bất biến, chiến
tranh là mặt khả biến. Mặt chính trị như cái chung, bản chất xuyên suốt các cuộc chiến
tranh, còn mặt khả biến có thể biến động khôn lường, nhưng thoát khỏi quỹ dạo của
chính trị. Hiện nay, xem xét bản chất các cuộc chiến tranh càng phải thông qua mối
quan hệ giữa chính trị và chiến tranh.
Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội mang tính lịch sử được thể hiện
bằng đấu tranh vũ trang giữa các tập đoàn người trong một nước, hoặc liên minh các
nước nhằm đạt tới những mục đích chính trị nhất định.
Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các
giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính
quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước,
sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước.
(Từ điển BKQSVN, H.2004, tr.244)

*Nội dung biểu hiện của mối quan hệ
Thứ nhất, chính trị quyết định chiến tranh: Trong mối quan hệ giữa chính trị và
chiến tranh thì chính trị quyết định chiến tranh. Chính trị quyết định chiến tranh trên
mọi phương diện.
- Chính trị quyết định mục đích chiến tranh. Bất kỳ một cuộc chiến tranh nào đều
hướng tới một mục đích chính trị nhất định. Mục đích chính trị của chiến tranh biểu
hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Mỗi giai cấp trong một dân tộc tiến hành chiến tranh
với nhau có mục đích chính trị khác nhau. Trước sức mạnh của quần chúng trong đấu
tranh giành chính quyền thì bạo lực phản cách mạng mà giai cấp thống trị sử dụng là
nhằm mục đích giữ vững địa vị, lợi ích, chế độ chính trị hiện tại. Ngược lại, quần chúng
nhân dân dưới sự lãnh đạo của lực lượng tiên tiến tiến hành chiến tranh cách mạng lại
có mục đích lật đổ chế độ chính trị hiện tại, thiết lập chế độ mới. Những cuộc chiến
tranh giữa các dân tộc, mục đích chính trị của mỗi bên tham chiến cũng khác nhau. Kẻ
đi xâm lược thì mục đích là áp đặt một chế độ chính trị bù nhìn, tay sai cho chúng, còn
các dân tộc chống lại chiến tranh xâm lược lại với mục đích giữ vững độc lập dân tộc,
chủ quyền đất nước. Mỗi cuộc chiến tranh có mục đích cụ thể khác nhau, nhưng thống
nhất ở mục đích chính trị.
- Chính trị quy định tiến trình, kết cục chiến tranh. Tiến trình diến biến của chiến
tranh rất phức tạp, nhưng cái chung nhất là do chính trị quy định. Mỗi giai đoạn của tiến
trình phát triển chiến tranh đều có mục đích chính trị cụ thể, nhưng thống nhất với mục
đích chung. Những cuộc chiến tranh do giai cấp, nhà nước thống trị tiến hành thường
được chỉ đạo bởi mục đích chính trị là kết thúc nhanh chóng. Tiến trình diễn ra và kết
cục của các cuộc chiến tranh này là do ý đồ chính trị muốn nhanh chóng củng cố địa vị
thống trị trong nước hoặc áp đặt chế độ bóc lột ở nước ngoài. Xét cho cùng tiến trình
này do lợi ích của giai cấp thống trị quyết định. Tiến trình đó còn dựa trên cơ sở tiềm
lực kinh tế, quân sự trong tay giai cấp thống trị khá mạnh và được chuẩn bị kỹ lưỡng từ
trước. Với thế và lực thực tế trong tay thì tiến trình chiến tranh do giai cấp thống trị tiến
hành đòi hỏi đánh nhanh, thắng nhanh là chủ yếu. Ngược lại, những cuộc chiến tranh
chống xâm lược, tiến trình chiến tranh dược diễn ra theo chỉ đạo của tư tưởng chính trị
đánh lâu dài. Trước sức mạnh ban đầu của kẻ xâm lược, nước tiến hành chiến tranh bảo

thuận lợi thì chủ thể tiến hành chiến tranh có thể đẩy nhanh, rút ngắn thời gian thực hiện
mục đích cuối cùng của một cuộc chiến tranh. Nếu tiến trình phát triển của chiến tranh
gặp khó khăn, chủ thể tiến hành chiến tranh có thể rút lui những mục đích chính trị cụ
thể, thường là nhượng bộ, thậm chí đầu hàng không điều kiện, từ bỏ mục đích chiến
tranh đã xác định trước.
Tiến trình phát triển của một cuộc chiến tranh có thể củng cố vững chắc, phát triển
một chế độ chính trị và cũng có thể làm sụp đổ hoàn toàn một chế độ chính trị. Nhìn
tổng quát trên toàn thể nhân loại, sự thất bại của chiến tranh do chế độ chính trị lỗi thời
tiến hành sẽ xoá bỏ mục đích chính trị, đồng thời tiêu diệt chế độ xã hội cũ, mở ra thời
đại mới. Sự thất bại của chiến tranh do chế độ phong kiến tiến hành chống lại chiến
tranh cách mạng của giai cấp tư sản sẽ xoá bỏ mục đích chính trị của nó và thủ tiêu chế
độ phong kiến. Trong thời đại đó, sự thắng lợi của chiến tranh cách mạng do giai cấp tư
sản lãnh đạo sẽ cho ra đời, phát triển chế độ chính trị tư sản. Trong thời đại ngày nay,
đến một lúc nào đó chiến tranh của giai cấp tư sản thất bại cũng sẽ kết thúc hoàn toàn
mục đích chính trị cũng như chế độ chính trị của giai cấp tư sản. Đồng thời với nó,
thắng lợi của chiến tranh do giai cấp vô sản tiến hành sẽ đánh đổ chế độ chính trị tư sản
và thiết lập chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới.
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Quan hệ giữa chiến tranh và chính trị là mối quan hệ cơ bản xuyên suốt trong mọi
cuộc chiến tranh, tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh mà biểu hiện mối quan hệ này trong các
cuộc chiến tranh là không giống nhau.
Ví dụ: Chiến tranh thế giới lần thứ nhất khác lần 2.


Do đó, trong nhận thức cũng vừa phải thấy sự thống nhất, vừa phải thấy sự khác
biệt mới có thể có thái độ đúng với chiến tranh. Nếu đồng nhất giữa hai mối quan hệ
này sẽ làm lẫn lộn giữa cách mạng và phản cách mạng; giữa chiến tranh chính nghĩa và
chiến tranh phi nghĩa. Nếu chỉ thấy sự khác biệt thì mối quan hệ giữa cách mạng và
chiến tranh không có cơ sở khoa học trong xem xét đánh giá và thái độ đối với chiến
tranh khó tránh khỏi sai lầm.

chính trị, đánh đồng quân đội của giai cấp tư sản với quân đội của giai cấp vô sản, hòng
lừa bịp nhân dân và lừa bịp chính quân đội của họ.
*Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quân đội là công cụ bạo lực vũ trang
của một giai cấp, một nhà nước nhất định nhằm phục vụ cho giai cấp và nhà nước tổ
chức, nuôi dưỡng nó.


Ở phương diện này, quân đội của các giai cấp và nhà nước thống trị bóc lột trong
lịch sử bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang để tiến hành chiến tranh và đàn áp nhân
dân lao động.
V.I.Lênin chỉ rõ: “Không phải chỉ dưới chính thể quân chủ, quân đội mới là công
cụ đàn áp. Nó vẫn là công cụ đàn áp trong tất cả các chính thể cộng hoà tư sản, kể cả
những chính thể cộng hoà dân chủ nhất”(t.37, tr.610).
Như vậy: Bản chất của quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, giai cấp
nhất định nhằm bảo vệ lợi ích căn bản của nhà nước, giai cấp ấy.
Với tính cách là một hiện tượng chính trị - xã hội, bất cứ quân đội nào trong lịch sử
cũng có bản chất giai cấp sâu sắc. Cái quyết định bản chất giai cấp của một quân đội là
ở chỗ, quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị xã hội nào; hoạt động của quân đội
đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc một cách trực
tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội. Bản chất giai cấp của
quân đội còn được thể hiện trong quá trình xây dựng và tổ chức quân đội. Giai cấp
thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo đảm phương hướng phát
triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Trong lịch sử chưa
có một quân đội nào chiến đấu vì lợi ích chung của tất cả các giai cấp, vì nó là công cụ
bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định. Để giữ vững phương hướng
chính trị và tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội, giai cấp thống trị bóc lột tiến
hành truyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng hệ thống giáo dục có tính chất
nhồi sọ về tư tưởng cho binh lính; thực hiện triệt để đường lối tổ chức, phương hướng
hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội.

chi phối bởi đường lối chính trị của một giai cấp. Bài học xương máu của Liên Xô và
các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho thấy, khi Đảng cộng sản mất vai trò lãnh đạo,
sự biến chất của nhà nước là không tránh khỏi và hậu quả tất yếu của nó là làm cho
quân đội mất phương hướng chính trị. V.I.Lênin từng chỉ rõ, giai cấp vô sản muốn là
giai cấp thống trị, thì nó phải tỏ rõ điều đó bằng tổ chức quân sự của mình.
Hiện nay, các học giả tư sản đang ra sức tuyên truyền cho quan điểm “siêu giai
cấp” của quân đội và cho rằng, quân đội là công cụ của toàn xã hội, sự tồn tại của nó là
cần thiết để đảm bảo hoạt động “bình thường” của bất cứ hệ thống xã hội nào. Do vậy,
quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không có bản chất giai cấp; là lực lượng
“trung lập về chính trị”. Thực chất của quan điểm trên là che đậy bản chất phản động
vốn có của quân đội tư sản đế quốc; thực hiện mưu đồ “vô hiệu hoá” quân đội của các
nước có chế độ chính trị xã hội xã hội chủ nghĩa còn lại, làm cho quân đội xã hội chủ
nghĩa dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng
chiến đấu; tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với quân đội. Cần thấy rằng,
đây là một thủ đoạn hết sức nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn
lật đổ và chuẩn bị gây chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc hiện nay để thực
hiện mục tiêu lật đổ và xoá bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Bởi vậy, cần đấu tranh
vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của các luận điểm trên và khẳng định vấn
đề có tính nguyên tắc do V.I.Lênin chỉ ra là, hiện nay cũng như trước kia và sau này
quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được. Nghĩa là, không có quân đội nào ra đời
và tồn tại lại thoát ly khỏi các quan hệ chính trị, giai cấp hiện thực và tăng cường bản
chất giai cấp công nhân, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản với quân đội xã
hội chủ nghĩa là vấn đề tất yếu đặt ra. Mặt khác, cần chủ động đấu tranh ngăn chặn,
khắc phục các tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến bản chất giai cấp công nhân của
quân đội xã hội chủ nghĩa hiện nay.
*Ý nghĩa của vấn đề đối với tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Quân
đội ta hiện nay
- Khi xem xét bản chất giai cấp của quân đội phải đi từ bản chất giai cấp của nhà
nước, giai cấp đã tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng nó.
- Việc xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội ta là một tất yếu khách

nghiệp (tập trung, thường trực) do một tập đoàn nhà nước, tập đoàn chính trị hoặc
phong trào chính trị làm chức năng nhà nước xây dựng để tiến hành đấu tranh vũ trang
nhằm thực hiện mục đích chính trị của nhà nước, tập đoàn hay phong trào đó.
(Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb.QĐND, H, 1996, tr.656).
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quân đội là công cụ bạo lực vũ trang
của một giai cấp, một nhà nước nhất định nhằm phục vụ cho giai cấp và nhà nước tổ
chức, nuôi dưỡng nó.
Bản chất của quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, giai cấp nhất định
nhằm bảo vệ lợi ích căn bản của nhà nước, giai cấp ấy.
Bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước, của
giai cấp đã tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng nó.
- Bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước về
mọi mặt.
+ Bản chất giai cấp, nội dung của nhà nước như thế nào thì quân đội mang bản
chất, nội dung như thế đó.
+ Về chính trị: quân đội do giai cấp thống trị và nhà nước tổ chức, xây dựng theo
đường lối, quan điểm chính trị của giai cấp mình. Giai cấp thống trị và nhà nước quyết
định mục tiêu chiến đấu của quân đội. Nói cách khác, mục tiêu chiến đấu của quân đội
là do mục tiêu chính trị của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó quyết định.
+ Về tư tưởng: hệ tư tưởng của giai cấp tổ chức ra nhà nước và quân đội luôn luôn
là hệ tư tưởng thống trị của quân đội, nó chi phối đến toàn bộ đời sống tinh thần của
quân đội.


+ Về tổ chức: giai cấp thống trị và nhà nước quyết định phương hướng và nguyên
tắc tổ chức, xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo và chỉ huy quân đội; kiểm
tra, giám sát mọi hoạt động của các tổ chức trong quân đội.
Ví dụ: Quân đội nhân dân Việt Nam
Mục tiêu, lý tưởng: từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng quân đội: trục xuyên suốt là cách mạng, chính

trung lập về chính trị.
“Phi chính trị” hóa quân đội là tách quân đội xã hội chủ nghĩa ra khỏi sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, đối lập quân đội ta với Đảng, với nhân dân, làm cho quân đội
không có sức chiến đấu, dần dần thoái hóa, biến chất về chính trị, xa rời hệ tư tưởng
chính trị, cách mạng, không còn là quân đội xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho chủ
nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và có thể gây
chiến tranh xâm lược. Lênin khẳng định: mọi tiếng gào thét về sự trung lập hóa chính trị
quân đội trong nhà nước là điều “bịa đặt hèn hạ và dối trá”.


- Âm mưu, thủ đoạn chống phá quân đội ta của các thế lực thù địch là chống phá về
chính trị, là đánh vào cái “gốc” chính trị của quân đội - chính trị của Đảng của giai cấp
công nhân.Chúng tập trung công kích, phá hoại những vấn đề rất cơ bản của quân đội ta.
Đó là: thứ nhất, phá hoại nền tảng tư tưởng của quân đội; thứ hai,phủ định sự lãnh đạo
của Đảng đối với quân đội; thứ ba, xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng và bản chất,
truyền thống của quân đội ta; thứ tư, phá hoạimốiquan hệmật thiết giữaquân đội với nhân
dân; thứ năm,lôi kéo quân đội ta tham gia liên minh quân sự, phá hoại tình đoàn kết quốc
tế và khống chế các mối quan hệ hợp tác giữa quân đội ta với quân đội các nước.
- Nội dung: dùng mọi nỗ lực để tạo ra tâm lý “thờ ơ về chính trị”, không quan tâm
đến chính trị, tạo ra “khoảng trống về ý thức hệ”, “chân không ý thức hệ”, pha loãng làm
“nhạt” dần chính trị cách mạng, làm cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu hơn
vào đời sống chính trị, tinh thần của bộ đội. Tạo ra sự mơ hồ, mất cảnh giác, mất phương
hướng về chính trị để cuối cùng đi đến làm cho quân đội biến mất về chính trị.
- Để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch sử dụng
mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động thực tiễn.
Trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, họ thường lập luận rằng: quân đội là của nhà nước,
nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính
đảng nào; hoặc hoạt động của quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và
phục vụ nhân dân, nên chỉ phải trung thành với Tổ quốc, nhân dân chứ không phải trung
thành với bất kỳ tổ chức nào…

dựng về mọi mặt, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu là một nguyên tắc cơ
bản, quan trọng hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình xây dựng quân đội
cách mạng của Đảng, nhằm làm cho quân đội luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng
chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; giữ vững và
phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; luôn hoàn thành
xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
*Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu
mới, quân đội của giai cấp vô sản
V.I.Lênin “Chiến tranh chẳng qua chỉ là chính trị từ đầu đến cuối, chỉ là sự tiếp tục
thực hiện cùng những mục đích... của các giai cấp... với những phương pháp khác mà
thôi” (t.32, tr.356).
Theo lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về chiến tranh
và quân đội, các ông đều cho rằng, muốn đánh giá đúng đắn khả năng chiến đấu của
quân đội, không chỉ xem xét yếu tố vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, mà còn phải xem
xét đến tinh thần quyết chiến, khả năng chịu đựng gian khổ của nó trong chiến tranh.
V.I.Lênin viết: “Trong mọi cuộc chiến tranh rút cuộc thắng lợi hay thất bại đều tuỳ
thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường” (t.41, tr.147).
Yếu tố chính trị giữ vai trò quyết định trong chiến tranh. Bởi vì, yếu tố chính trị
tinh thần khi được thấm nhuần, nó trở thành sức mạnh vật chất, làm cho sức mạnh chiến
đấu của quân đội được tăng lên gấp bội. Chỉ có tinh thần chính trị cao thì quân đội mới
có thể chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh ác liệt của cuộc chiến tranh hiện đại,
nâng cao hiệu quả của các loại vũ khí hiện đại ở mức cao nhất. Ngược lại tinh thần
chính trị thấp sẽ làm cho quân đội không những không có sức chiến đấu mà còn mất
phương hướng mục tiêu chính trị, không sử dụng và phát huy hiệu quả vũ khí trang bị
cho dù vũ khí tối tân hiện đại. Do vậy, việc xây dựng quân đội về chính trị là một vấn
đề tất yếu, cơ bản hàng đầu quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội.
*Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới, quân đội
của giai cấp vô sản
Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Chỉ thị nêu
rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân

- Nhiều quan điểm chống phá, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ rất phức tạp,
nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, tình hình biển Đông, và tình hình đất nước trước
thềm đại hội XII của Đảng.
*Xuất phát từ cuộc khủng hoảng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên
Xô hiện nay
- Sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và Đông Âu, đây là bài học đau
xót và là lời cảnh tỉnh cho những ai xa rời những nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa
Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, nhất là vấn đề xây dựng quân đội về chính
trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của quân đội kiểu mới.
- Tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng thay đổi bất
lợi cho chủ nghĩa xã hội, nó tác động mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị của cán bộ chiến
sỹ Quân đội ta trên nhiều phương diện.
- Sự sụp đổ đó có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân về sự sụp đổ về xây
dựng chính trị. Cuộc đấu tranh giai cấp dân tộc tiếp tục diễn ra trong điều kiện mới, nội
dung mới, hình thức phức tạp, dưới những sứac thái mới, mà tính chất của chúng không
kém phần gay go, quyết liệt. Vì vậy phải xây dựng Quân đội về chính trị để quân đội
đứng vững trước các vấn đề phức tạp đó.
*Xuất phát từ yêu cẩu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta
trong giai đoạn mới
Yêu cầu, nhiệm vụ của bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay có sự phát triển mới:
“Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo
vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định
chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại
mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lưc thù địch đối với sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta” (ĐH 11, tr.81-82)


*Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với đất
nước và quân đội
- Lợi dụng những thành tựu khoa học vào lĩnh vực quân sự, sử dụng vũ khí công

cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta hiện nay?
Học thuyết Mác - Lênin về quân đội không chỉ đề cập đến vấn đề nguồn gốc ra
đời, bản chất của quân đội, mà còn đi sâu làm rõ những vấn đề lý luận về sức mạnh
chiến đấu của quân đội. Đây là một trong những vấn đề lý luận có vị trí, vai trò rất quan
trọng. Nó là cơ sở lý luận, phương pháp luận trong xem xét, đánh giá sức mạnh chiến
đấu của các kiểu quân đội trong lịch sử, nhất là các kiểu quân đội trong thời đại hiện
nay. Đây cũng là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xác định những quan
điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp xây dựng sức mạnh chiến đấu của Quân
đội nhân dân Việt Nam.


Theo quan điểm Mác - Lênin, sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng thể các
yếu tố vật chất, tinh thần và sự tương tác giữa các yếu tố đó quy định trạng thái, khả
năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của quân đội nhằm thực hiện mục đích chính trị của
nhà nước, giai cấp nhất định.
Trong giai đoạn hiện nay, tất yếu phải tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân
đội, bởi vì:
*Cơ sở khoa học của việc tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội
- Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sức mạnh chiến đấu của quân
đội: Sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng thể các nhân tố vật chất và tinh thần và sự
tương tác giữa các yếu tố đó quy định trạng thái, khả năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu
của quân đội nhằm thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước nhất định.
Chủ nghĩa Mác - Lênin không tuyệt đối hóa yếu tố vật chất hay tinh thần mà khẳng
định sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng hợp của nhiều yếu tố, là sự thống nhất
biện chứng giữa các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu.
Sức mạnh chiến đẩu của quân đội chịu sự quy định của chế độ chính trị - xã hội và
điều kiện kinh tế của đất nước. Theo Lênin “Một nước có trình độ văn minh cao hơn thì
có ưu thế… về mặt quân sự” (t.34, tr.261).
- Xuất phát từ tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh: phát triển sáng tạo học thuyết Mác lênin vào điều kiện chiến tranh ở Việt Nam
Hồ Chí Minh quan tâm đến nguyên tắc chính trị - giai cấp, khẳng định chế độ

Chống phá toàn diện trên tất cả các mặt:
Chính trị: Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng
Kinh tế: Phủ nhận đường lối đổi mới, nền kinh tế thị trường…
Văn hóa: Truyền bá lối sống phương Tây.
- Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện và hội nhập quốc
tế và đặc điểm cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay
- Xuất phát từ khủng hoảng hiện thực của chủ nghĩa xã hội - bài học kinh nghiệm
Yêu cầu, nhiệm vụ của bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay có sự phát triển mới: “Bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng,
Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định chính trị và
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và
hành động chống phá của các thế lưc thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân
dân ta” (ĐH 11, tr.81-82).
- Từ thực trạng sức mạnh chiến đấu của quân đội ta hiện nay:
+ Quân số, tổ chức biên chế chưa hợp lý, chưa thích hợp với sự phát triển của
những điều kiện tác chiến mới. Khả năng chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, sức cơ động
của quân đội chưa cao.
+ Còn để bị bất ngờ về chiến thuật trong xử lý một số tình huống cụ thể, để kẻ địch
lợi dụng sơ hở xâm phạm vùng trời, thực hiện âm mưu phá hoại về chính trị.
+ Trình độ lý luận, tính nhạy bén và bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống của không
ít cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì trung, cao cấp chưa tương xứng với vị
trí, yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội trong cuộc đấu tranh mới.
+ Trình độ chính quy của quân đội chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
+ Điều kiện vũ khí trang bị kỹ thuật còn lạc hậu, ngày càng xuống cấp, song chưa
xác định được chiến lược tổng thể về trang bị cho quân đội, về công nghiệp quốc phòng.
*Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với việc xác định phương hướng
tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta hiện nay
- Tăng cường sức mạnh chiến đấu cho quân đội là tất yếu, phải tang cường tất cả
các yếu tố, không được coi nhẹ yếu tố nào bởi vì các yếu tố có quan hệ biện chứng,
không tách rời.

lượng, phương tiện đã có, hoặc có thể động viên để sử dụng trong chiến tranh.
Trạng thái nhân tố: là những tiềm lực đã được huy động trở thành sức mạnh hiện
thực tác động vào quá trình chiến tranh.
- Sức mạnh quân sự quốc gia mang tính lịch sử - cụ thể sâu sắc. Bởi vì: Ở các thời
điểm lịch sử, sức mạnh quân sự quốc gia (được đánh giá là mạnh hay yếu) không chỉ
phụ thuộc vào số lượng, chất lượng các tiềm lực tạo nên nó, mà còn phụ thuộc vào so
sánh lực lượng với sức mạnh quân sự quốc gia của nhà nước đối địch; phụ thuộc vào
yêu cầu nhiệm vụ mà sức mạnh quân sự quốc gia cần giải quyết.
*Cơ sở khoa học của việc tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia
- Xuất phát từ vai trò của sức mạnh quân sự quốc gia đối với nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
+ Yêu cầu phải thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, hướng tới mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Để thực hiện mục tiêu đó Đảng, Nhà nước ta phải lãnh đạo, tổ chức phát huy sức
sáng tạo của toàn dân, trong đó tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia có vai trò quan
trọng đăc biệt.
+ Sức mạnh quân sự quốc gia còn có giá trị như một nhân tố kích thích sự phát
triển của kinh tế - xã hội, trực tiếp tạo ra lợi thế trong quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự thắng
lợi của con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Xuất phát từ tình hình quốc tế và khu vực đã và đang có những diễn biến phức
tạp, khó lường: (Theo đánh giá của đại hội XI)
Trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng
xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành tài nguyên, lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm
xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo,


dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên... buộc các quốc gia phải có chính
sách đối phó và phối hợp hành động.
Các nước ASEAN bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây

chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân, cho phép huy động tối đa cho nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc.
+ Hạn chế:
Vũ khí trang bị của quân đội chưa được hiện đại hoá, khả năng mua sắm, sản xuất
vũ khí trang bị phục vụ cho quốc phòng còn rất hạn chế.
Công nghiệp quốc phòng chưa phát triển, ngân sách quốc phòng tuy đã tăng nhưng
nhìn chung còn thấp, chưa thoả mãn được yêu cầu nhiệm vụ.
Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ
nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công
chức diễn ra nghiêm trọng”


Tình hình khiếu kiện phức tạp kéo dài, dân chủ ở nhiều nơi còn manh tính hình
thức, những vấn đề dân tộc, tôn giáo… chưa được giải quyết triệt để đang ảnh hưởng
không tốt đến khối đại đoàn kết toàn dân, đến tiềm lực xã hội và tiềm lực tinh thần trong
sức mạnh quân sự quốc gia.
Như vậy, từ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, từ âm mưu thủ đoạn và khả
năng quân sự của chủ nghĩa đế quốc, từ thực trạng sức mạnh quân sự nước ta hiện nay,
vấn đề tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia là yêu cầu khách quan, cấp bách đối với
nước ta.
- Xuất phát từ quy luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước cũng là quy luật tồn tại
và phát triển của dân tộc ta.
*Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với việc xác định phương hướng
tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia ở Việt Nam hiện nay
- Là cơ sở khoa học để xây dựng SMQSQG của các giai cấp, nhà nước.
- Là cơ sở quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng ta về xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân hiện nay.
- Vận dụng vào giáo dục bộ đội, xây dựng và chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chiến
đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN.
- Phê phán các tư tưởng sai trái (Xây dựng SMQSQG là do ý muốn chủ quan của

chiến tranh xâm lược. Ngược lại cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp
xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và thống nhất đất nước.
- Xác định tính chất xã hội của chiến tranh, phân tích tính chất chính trị - xã hội
của chiến tranh xâm lược thuộc địa, chiến tranh ăn cướp của chủ nghĩa đế quốc, chỉ ra
tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc.
+ Hồ Chí Minh đã xác định tính chất xã hội của chiến tranh: chiến tranh xâm lược
là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm lược là chính nghĩa, từ đó xác định thái độ của
chúng ta là ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa
+ Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng,
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến tranh cách mạng Việt Nam.
Người khẳng định: “chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành đọng bạo lực, độc
lập, tự do không thể cầu xin mà có được phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực
phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”
+ Bạo lực cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh được tạo bởi sức mạnh của toàn
dân, bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh
chính trị và đấu tranh vũ trang.
- Hồ Chí Minh khẳng định: Ngày nay chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân
dân ta là chiến tranh nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
+ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Hồ Chí Minh luôn coi con người là
nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Người chủ trương phải dựa vào dân, coi
dân là gốc, là cội nguồn của sức mạnh để “xây dựng lầu thắng lợi”.
+ Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là cuộc chiến tranh toàn dân,
phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
+ Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân, trong
đó phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân phải đi đôi
với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh địch trên tất
cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá…
Sự khái quát trên đã phản ánh nét đặc sắc của chiến tranh nhân dânViệt Nam
trong thời đại mới và là một sự phát triển cao tư tưởng vũ trang toàn dân của chủ nghĩa
Mác - Lênin. Sự phát triển sâu sắc làm phong phú thêm lí luận mác xít về chiến tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status