ĐẠO ĐỨC HỌC MÁC - LÊ NIN - LÝ LUẬN VÀ VẬN DỤNG
Câu 1. Phân tích ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến
đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay và ý nghĩa của vấn đề?
2. Đánh giá hiện trạng đạo đức của xã hội ta hiện nay theo tinh thần Nghị quyết đại
hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và các yêu cầu phương pháp luận cơ bản trong xây
dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay?
3. Quan điểm mácxít về bản chất xã hội của đạo đức. Ý nghĩa phương pháp luận của
vấn đề?
4. Nội dung bước ngoặt cách mạng trong lĩnh vực đạo đức học do C.Mác, Ph.Ănghen
và V.I.Lênin thực hiện? Ý nghĩa của vấn đề đối với phát triển đạo đức học mácxít trong
tình hình hiện nay?
5. Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của đạo đức học mácxít?.
ĐẠO ĐỨC HỌC MÁC - LÊ NIN - LÝ LUẬN VÀ VẬN DỤNG
CÂU 1. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY VÀ Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ?
Trong quá trình nghiên cứu tổng kết thực tiễn, kế thừa và tiếp thu những thành quả lý
luận của các Đại hội Đảng qua sáu kỳ đại hội, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XII đã nêu
ra định nghĩa mới về khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng
bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ
nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện
đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất
tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là
một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình
đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động
và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản
người không có của. Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cá nhân không có địa vị
độc lập, tự chủ trong hoạt động kinh tế nên tự do cá nhân bị hạn chế, quan hệ giữa người
và người bị quan hệ đặc quyền, đang cấp chi phối. Trong kinh tế bao cấp, và cơ chế xin cho, tình trạng bất bình đang, mang tính chất ban ơn của người trên đối với kẻ dưới thể
hiện trong việc bổ nhiệm, đề bạt, phê duyệt chi tiêu, việc phân phối nhà cửa và các nhu
cầu nhu yếu phẩm...
Trong cơ chế thị trường, các chủ thể kinh tế thị trường được tạo môi trường dân chủ,
tự do và bình đang: quyền tự do của khách hàng trong việc lựa chọn các hàng hóa và dịch
vụ cạnh tranh; quyền tự do của nhà sản xuất bắt đầu hoặc mở rộng kinh doanh, phân chia
rủi ro và lợi nhuận; quyền tự do của người lao động trong việc lựa chọn công việc hoặc
nghề nghiệp, tham gia vào nghiệp đoàn lao động hoặc thay đoi chủ. Sự tự do và bình đang
trong hoạt động kinh tế là cở sở để phát triển quan niệm về sự bình đang giữa người và
người và dẫn đến sự tự do, bình đang trong quan niệm và quan hệ đạo đức. Cụ thể, khi
giúp đỡ người khác do chủ thể hành vi đạo đức ý thức về sự tự do, bình đang nên hành vi
không mang tính chất ban ơn mà nhằm thực hiện nhu cầu của mình; đối với người được
giúp đỡ, ý thức về sự bình đang tạo cho họ tâm thế thoải mái, thanh thản, không có những
mặc cảm về ơn huệ theo kiểu trước đây. Đời sống đạo đức xã hội và quan hệ đạo đức giữa
con người với con người có tính chất dân chủ và bình đang hơn, khắc phục được nhược
điểm của quan liêu, bao cấp, gia trưởng. Tự do, công bằng, dân chủ vừa là môi trường,
vừa là điều kiện để hoàn thiện nhân cách; nhân cách thật sự của cá nhân phân biệt với
những cá nhân khác, không phải “vay mượn”, che lấp như trước đây.
Cạnh tranh tự do, công bằng trên thương trường thúc đẩy tính trung thực trong kinh
doanh, giữ chữ tín, tôn trọng khách hàng, tôn trọng đối tác, tương trợ lẫn nhau. Sức ép
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường mang tính chuyên môn hóa ngày càng cao, doanh
nghiệp vừa phải luôn quan tâm khách hàng, nắm bắt nhu cầu của khách hàng và thỏa mãn
đến mức tối đa nhu cầu, thị hiếu của khách hàng vừa phải đáp ứng yêu cầu của đối tác
kinh doanh trong quá trình hợp tác sản xuất, kinh doanh nên tính trung thực trong kinh
doanh, tôn trọng đối tác, tôn trọng khách hàng là hết sức cần thiết để đảm bảo sự tồn tại
của doanh nghiệp. Mọi việc dối, làm ẩu, lừa lọc khách hàng và đối tác, lối kinh doanh
lầm của nhau, cao thượng, không cố chấp đối với kẻ thù, cho họ con đường sống nhưng
nay khoan dung còn có nghĩa là tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng cá tính của cá nhân, là
tôn trọng và tiếp thu ý kiến đối lập. Đoàn kết, hợp tác trước đây thường trên cơ sở cái
chung, chỉ có những cá nhân, tổ chức có cùng quan điểm, lý tưởng, cùng cách xử lý vấn
đề mới nói đến đoàn kết, hợp tác, còn trong nền kinh tế thị trường đoàn kết, hợp tác không
chỉ trên cơ sở cái chung mà còn trên cơ sở cái riêng, cái khác biệt của các cá nhân, các
doanh nghiệp, các quốc gia để cùng đạt mục tiêu lợi ích chung nào đó. Đối với phẩm chất
dũng cảm, trong thời kỳ chiến tranh chủ yếu có nghĩa là vượt lên khó khăn, đối mặt với
khó khăn, thiếu thốn về vật chất để chống kẻ thù xâm lược. Trong điều kiện nền kinh tế
thị trường, lòng dũng cảm thể hiện ở sự can đảm, kiên quyết chống lại sự cám dỗ của
đồng tiền bất chính, của tiền tài danh vọng, của đời sống vật chất quá đầy đủ, của vô số
những dịch vụ, hàng hóa bao vây, chống lại chính dục vọng của bản thân và của những
đồng nghiệp, đối tác của mình.
Kinh tế thị trường đòi hỏi một trình độ nhất định về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức
công vụ vừa tạo điều kiện cho sự phát triển đạo đức nghề nghiệp. Kinh tế thị trường phát
triển, chuyên môn hóa ngày càng cao sẽ làm hình thành nhiều hình thức hoạt động nghề
nghiệp. Hoạt động nghề nghiệp bị chi phối bởi các quy luật của kinh tế thị trường, đòi hỏi
tính hiệu quả, hiệu suất của hoạt động nhằm gia tăng thu nhập cho cá nhân và cơ quan,
doanh nghiệp, đòi hỏi con người phải giải quyết hài hòa mối quan hệ về quyền lợi và
nghĩa vụ, giữa thu nhập và phục vụ xã hội. Vì vậy, những pham chất như yêu nghề, phục
vụ tận tụy, trung thành, trung thực, kỷ luật, không hối lộ, tham nhũng,... trong đạo đức
công vụ, đạo đức kinh doanh, đạo đức luật sư, đạo đức nghề kế toán, kiểm toán, nghề
chứng khoán,.. .ngày càng được đề cao và trở thành những yêu cầu không thể thiếu của
người lao động.
Hơn nữa, kinh tế thị trường mang tính tất yếu kinh tế, tạo nền tảng vật chất cho đời
sống tinh thần nói chung và đạo đức nói riêng. Kinh tế thị trường giải phóng sức sản xuất
của xã hội, năng suất lao động tăng, đời sống được nâng lên. Đó là một trong những điều
kiện hiện thực hóa ý thức đạo đức thành hành vi đạo đức. Không phải không có điều kiện
hành động. Thậm chí, đó là môi trường màu mỡ cho thói đạo đức giả, sự giả dối, sự sáo
rỗng của đạo đức xã hội.
Nền kinh tế thị trường thừa nhận công khai lợi ích cá nhân, khuyến khích thực hiện
lợi ích cá nhân. Nói cách khác, trong kinh tế thị trường lợi ích được đặt vào đúng vị trí
của nó, tạo cơ sở để thực hiện lợi ích xã hội, phát huy vai trò của nó cho sự tiến bộ xã hội.
Bản thân lợi ích xã hội không phải là một cái gì trừu tượng, không phải nằm ngoài lợi ích
cá nhân, lợi ích xã hội đã bao gồm lợi ích cá nhân, vì lợi ích cá nhân. Lợi ích cá nhân, khi
phù hợp với lợi ích xã hội thì trở thành một bộ phận của lợi ích xã hội; và trong trường
hợp đó, hành vi thực hiện lợi ích cá nhân là chính đáng về mặt đạo đức. C.Mác cũng thừa
nhận mối quan hệ giữa lợi ích và đạo đức: “Nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của
toàn bộ đạo đức thì do đó cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp
với lợi ích của toàn thể loài người”. Đối với C.Mác, vấn đề không phải ở chỗ đối lập một
cách tách rời giữa lợi ích và đạo đức, mà là giải quyết như thế nào quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội để hành vi thực hiện lợi ích của con người trở thành hành vi đạo
đức. Đạo đức trong một thị trường phát triển luôn đòi hỏi tính chính đáng của lợi ích cá
nhân, tức là việc thực hiện lợi ích cá nhân không ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của
người khác và lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Nếu trước đây con người khẳng định
nhân cách đạo đức của mình bằng việc hi sinh lợi ích cá nhân, thì trong điều kiện nền kinh
tế thị trường, con người khẳng định nhân cách đạo đức của mình bằng việc theo đuổi lợi
ích cá nhân chính đáng. Như vậy, kinh tế thị trường tạo nên cơ sở mới cho đạo đức, khắc
phục sự sáo rỗng, tăng tính thực tế - coi trọng thể hiện nhân cách thông qua hành động cụ
thể, thông qua đáp ứng lợi ích của bản thân, của người khác và của xã hội hơn là giữ gìn
nhân cách, giữ gìn vẻ đẹp tinh thần thuần khiết tách rời thực tế, xa rời hiện thực.
*Thứ ba, kinh tế thị trường góp phần thúc đẩy sự rèn luyện đạo đức cá nhân, khẳng
định nhân cách.
Nền kinh tế thị trường với sự vận động, quy luật vận động của nó như quy luật giá
trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh làm thay đổi căn bản vai trò, vị thế con người
trong xã hội, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu rất cao đối với mỗi cá nhân, đòi hỏi mỗi cá
nhân phải hoàn thiện nhân cách để đáp ứng yêu cầu mới, góp phần phục vụ xã hội. Nó
thôi thúc và cổ vũ cho tinh thần phấn đấu, tính vượt trội, sự thăng tiến và sự khẳng định
bảo cho đạo đức, đạo đức phải tự chứng thực mình bằng năng lực, lấy hành động và hiệu
quả của hành động làm thước đo đạo đức và mục đích, động cơ đạo đức. Ngoài ra, họ
luôn năng động, sáng tạo để thích ứng với nhu cầu thị trường, với sự biến động của thị
trường, để tạo nên ưu thế trong cạnh tranh. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho năng lực
toàn diện của cá nhân được thử thách, được bộc lộ và có cơ hội để phát triển một cách tốt
nhất. Môi trường cạnh tranh luôn đòi hỏi con người phải nhanh nhạy nắm bắt thông tin,
chủ động cải tiến công nghệ trên cơ sở tư duy khoa học và sự say mê sáng tạo. Đồng thời,
họ có lòng dũng cảm, sự kiên định để vượt qua những khó khăn, thất bại, ngay cả khi bị
phá sản để vươn lên sau khi thất bại, khẳng định lại bản thân.
Sự phân tích trên cho thấy kinh tế thị trường với những đặc trưng thuộc về bản chất
của nó có tác động hết sức tích cực làm chuyển biến đạo đức cá nhân cũng như đời sống
đạo đức xã hội. Cơ chế kinh tế thị trường ngày càng hoàn hiện không chỉ mang lại đời
sống ngày càng sung túc về vật chất mà còn kích thích mọi tiềm năng, nguồn lực cho sự
phát triển đời sống tinh thần, làm phong phú và đa dạng đời sống tinh thần, hoàn thiện
đạo đức và phát triển con người. Mặc dù vậy, kinh tế thị trường có tính hai mặt của nó,
bản chất của kinh tế thị trường cũng chứa đựng khả năng tác động tiêu cực đến đạo đức.
Một vấn đề đáng lưu ý khi phân tích những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường
đối với đạo đức là cần xuất phát từ bản chất của kinh tế thị trường, tránh tình trạng lấy các
hiện tượng đạo đức xã hội trong thực tế để quy trách nhiệm cho kinh tế thị trường. Đạo
đức xã hội chịu sự tác động của rất nhiều các yếu tố như chính trị, pháp luật, các thiết chế
chính trị - xã hội, văn hóa, giáo dục, đạo đức truyền thống, tàn dư quan niệm đạo đức của
nền kinh tế cũ,... Những biểu hiện tiêu cực về đạo đức có thể do các yếu tố trên chưa thể
thay đổi kịp thời với sự biến đổi về nền tảng kinh tế, chưa thích ứng với kinh tế thị
trường. Nếu chúng ta quy tất cả biểu hiện hạn chế của đạo đức là do kinh tế thị trường là
chủ quan duy ý chí dẫn đến xác định không đúng nguyên nhân của thực trạng đạo đức xã
hội. Khi xác định không đúng nguyên nhân như vậy thì không thể khắc phục những hạn
chế về đạo đức và kìm hãm sự phát triển của kinh tế thị trường.
2. Về tác động tiêu cực của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến
*Ba là, kinh tế thị trường có khuynh hướng làm gia tăng tệ nạn xã hội, phá vỡ môi
trường phát triển tinh thần, đạo đức truyền thống.
Kinh tế thị trường đặt lợi nhuận lên hàng đầu, cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì
thôi nên chỉ chú trọng thỏa mãn những nhu cầu có khả năng thanh toán mà không chú ý
đến những nhu cầu cơ bản của xã hội; kinh tế thị trường không giải quyết được cái gọi là
“hàng hoá công cộng” như đường xá, các công trình văn hoá, y tế và giáo dục. Nếu không
có sự quản lý chặt chẽ, những chính sách định hướng đầu tư đúng đắn sẽ dẫn đến kinh tế xã hội phát triển không cân bằng, thậm chí gây phát triển vô độ những ngành, nghề thỏa
mãn, khơi dậy những nhu cầu, dục vọng thấp hèn của con người, ngược lại, các lĩnh vực
văn hóa, giáo dục đạo đức, những giá trị tinh thần bị xem nhẹ tạo mảnh đất màu mỡ cho tệ
nạn xã hội phát sinh, đồng thời làm cho sự phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội gia tăng.
*Sự phân hoá giàu nghèo một cách sâu sắc, từ đó làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn
xã hội. Kinh tế thị trường dễ nảy sinh những tệ nạn xã hội: tham nhũng, tội phạm, bạo lực.
Đó là sự kích thích lòng tham lợi, dẫn đến khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên
cũng như sức lực của người lao động. Kinh tế thị trường còn kích thích chủ nghĩa thực
dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý. Đặc biệt,
đối với những nước mới bước vào kinh tế thị trường, sự đụng độ giữa kinh tế thị trường và
các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cũng trở thành một vấn đề nan giải.
2. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐẠO ĐỨC CỦA XÃ HỘI TA HIỆN NAY THEO
TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ
CÁC YÊU CẦU PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY?
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục
tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng ta luôn đòi hỏi đội ngũ cán
bộ, đảng viên ở bất kỳ cương vị nào cũng phải nghiêm túc học tập, tự giác rèn luyện,
thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình
trong mọi hoạt động công tác, lao động, học tập, chiến đấu và cuộc sống sinh hoạt hàng
mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu” (tr.173). Thậm chí
“Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được
khắc phục” (tr.174). “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu
cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện
tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội” (tr.172). Trong phần
tổng kết những bài học kinh nghiệm lớn, Cương lĩnh 2011 nêu rõ: “Quan liêu, tham
nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất
nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng” ( tr.65).
Đến Hội nghị lần thứ Tư, Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Đảng ta tiếp tục
khẳng định “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ
vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá
nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham
nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc ...” (tr.22).
Để khắc phục những hạn chế, tiêu cực trên, Hội nghị lần thứ Tư, Ban chấp hành Trung
ương Khóa XI đã chỉ đạo: “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước
hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng” (tr.26).
Thực hiện vấn đề trên, có thể và cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, Phải coi trọng nhiệm vụ rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống
chủ nghĩa cá nhân.
Đạo đức cách mạng được hình thành và phát triển trong thực tiễn đời sống, công tác
của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, Đảng và toàn thể hệ thống chính trị, những người lãnh đạo
các tổ chức đó phải chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng
viên. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Việc học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài của cán bộ,
đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên
Thực hiện giải pháp này, cần tiến hành một số việc sau:
- Tổng kết làm rõ những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc để quảng bá trong
mọi tầng lớp xã hội, làm cho xã hội ngày càng trong sạ ch, lành mạnh.
- Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh.
- Nghiên cứu, biên tập, xuất bản những cuốn sách viết về gương “người tốt, việc tốt"
qua các thời kỳ cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới.
- Trong sinh hoạt đảng, đoàn thể, cơ quan, trường học, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội
cần nêu gương và học tập những tấm gương tiêu biểu về “người tốt, việc tốt”. Đồng thời
phê phán những thói hư, tật xấu, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.
- Các phương tiện thông tin đại chúng cần tăng cường hơn chuyên mục về những tấm
gương đạo đức cách mạng trong quá khứ và hiện tại cổ vũ cái tốt, cái đúng, cái cao thượng.
Đồng thời phê phán những hành vi, biểu hiện của cái xấu, cái sai, cái thấp hèn.
Đối với quân đội, yêu cầu cơ bản trong mọi thời kỳ cách mạng là xây dựng, bồi
dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo những nội dung, tiêu chuẩn
chung về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên đã được các Nghị quyết của
Đảng xác định. Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đó lại càng cấp thiết. Đồng thời, đó cũng
là con đường, cơ sở đảm bảo giáo dục nhân cách người cán bộ theo tinh thần nghị quyết
Đại hội X của Đảng: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng
lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác
được giao” (tr.133). Công tác giáo dục, đào tạo cán bộ quân đội hiện nay cần phải bám sát
yêu cầu đức và tài của từng chức danh, bảo đảm tính toàn diện. Trong đó giáo dục nâng
cao phẩm chất chính trị, đạo đức và phát triển trí tuệ phải được đặc biệt coi trọng. Phải
được giáo dục thường xuyên, liên tục và kiên trì, bởi vì “đạo đức cách mạng không phải
trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện, bền bỉ hàng mà phát triển củng cố, cũng
như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (tập 9, tr.29).. Thực hiện tốt
chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.
Là cán bộ, đảng viên của Đảng, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, một môi trường lao
động xã hội đặc thù, vì vậy ngoài việc tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức
cách mạng theo những tiêu chuẩn chung về đạo đức người cán bộ, đảng viên của Đảng,
+ Platôn: Ông xây dựng đạo đức trên cơ sở của “thuyết linh hồn”. “Con người là sự
kết hợp giữa phần xác và phần hồn, trước khi du nhập vào xác, hồn chu du đi tiếp nhận tri
thức khác nhau, sau đó du nhập vào xác thành các giai cấp, tầng lớp khác nhau”. Ông coi
đạo đức chỉ có ở quý tộc, quần chúng nhân dân không có đạo đức.
+ Hêghen: Ông coi đạo đức là một giai đoạn phát triển của một tinh thần khách quan ông là nhà triết học duy tâm khách quan, nhìn nhận đạo đức trên quan điểm tôn giáo.
- Tôn giáo: Tìm mọi cách chứng minh sự trùng lập giữa bản chất tôn giáo với bản
chất đạo đức.
Thiên chúa giáo: Chúa là đấng tối cao sinh ra, ban phước lành và cứu rỗi loài người;
do đó mỗi người phải có bổn phận thực hiện nghĩa vụ với chúa dẫn đến đạo đức xuất hiện.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác
+ Nho giáo: Thiện, ác; sướng, khổ đều do trời định đoạt “nhân chi sơ tính bản thiện”,
“Nhân chi sơ tính bản ác”.
+ Đêmôcrit: Ông coi đạo đức học là cuộc sống, lương tâm, trách nhiệm, số phận con
người, những người có lương tâm, trách nhiệm, lành mạnh về mặt tinh thầm mới có đạo
đức. Con người phải sống đúng mực, ôn hòa theo trật tự xã hội, không được gây lộn
+ Phoiơbắc: Coi đạo đức tồn tại ở nơi nào có con người, là quan hệ giữa người với
người. Tuy nhiên ông quy tất cả quan hệ giữa người với người vào quan hệ đạo đức, con
người muốn giải quyết các vấn đề thì hãy yêu thương nhau, ông tuyên truyền cho tình yêu.
- Quan điểm tự nhiên: Giải thích bản chất của đạo đức theo quan điểm tự nhiên, sinh
học: con người từ động vật mà ra, con người có bản chất động vật.
- Chủ nghĩa vị kỷ: Giải thích bản chất xã hội của đạo đức trong chủ nghĩa vị kỷ, trong
cái tôi của mỗi cá nhân.
Tóm lại: Tất cả các quan điểm phi mác xít đều giải thích sai lầm, phản khoa học về
nguồn gốc, bản chất của đạo đức, đều cản trở sự phát triển của đạo đức và đạo đức học.
*Phương pháp tiếp cận của Mác - Lênin
Cơ sở tiếp cận: các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, trực tiếp là chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Đi từ nguyên lý sản xuất vật chất, biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để
vấn đề lợi ích. Lợi ích là vấn đề cốt lõi, cơ bản của xã hội, con người. Tất cả các hoạt động
của xã hội, con người đều xoay quanh vấn đề lợi ích. Có lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội,
cộng đồng, tập thể và các lợi ích đó quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự xung đột về các giá trị,
chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức trong xã hội đều bắt nguồn và phản ánh mâu thuẫn về lợi
ích. Với nội dung lợi ích của đạo đức cho thấy, đạo đức luôn mang hơi thở của xã hội từ
tầng sâu bản chất đến biểu hiện bề ngoài.
- Trong lịch sử cũng đã có nhà tư tưởng bàn đến vấn đề lợi ích của đạo đức.
C.Henvêtiuýt nhà tư tưởng thời đại khai sáng cho rằng, lợi ích cá nhân được hiểu một cách
đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức. Tuy nhiên, lợi ích đó đã bị C.Henvêtiuýt giới
hạn ở quan hệ tư bản, xã hội tư bản và đối lập với lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao
động. Với cách giải thích vấn đề lợi ích trong đạo đức của C.Henvêtiuýt đã bị thiên kiến,
làm mất đi nội dung khách quan, khoa học của đạo đức.
- Bản chất xã hội của đạo đức biểu hiện ở trình độ nhận thức và trình độ thực tiễn của
con người. Trình độ nhận thức của con người đến đâu thì sự hoàn thiện các giá trị, chuẩn
mực nguyên tắc đạo đức đến đó. Đặc điểm này làm rõ hơn tính độc lập tương đối của đạo
đức đối với cơ sở kinh tế và làm cho đạo đức tồn tại như một lĩnh vực sản xuất ra các giá
trị tinh thần. Giữa nhận thức và thực tiễn hành vi đạo đức có một khoảng cách nhất định,
không đồng nhất, nhưng về cơ bản là thống nhất với nhau. Cả nhận thức và hành vi đạo
đức đều thuộc về con người và xã hội trong quan hệ ứng xử với nhau. Sự phát triển xuyên
suốt của đạo đức là quá trình con người, xã hội đấu tranh loại bỏ cái ác và làm cho cái
thiện chiến thắng. Quá trình này luôn thống nhất giữa vấn đề lợi ích với nhận thức và hành
vi đạo đức của con người, xã hội.
- Bản chất xã hội của đạo đức còn được biểu hiện ở tính thời đại, tính dân tộc và giai
cấp của nó. Khi phê phán Đuyrinh về những “chân lý vĩnh cửu” của đạo đức, Ph.Ăngghen
cho rằng, bản chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, chuẩn mực, quan điểm đạo đức là sản
phẩm của chế độ kinh tế, của thời đại kinh tế, mỗi thời đại kinh tế khác nhau thì có nguyên
tắc, chuẩn mực đạo đức khác nhau. Ph.Ăngghen lấy ví dụ về nguyên tắc không được ăn
cắp để minh họa cho tính chất thời đại của đạo đức. Nguyên tắc này không phải là một
“Con người dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của
mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là những
quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” (t.20, 1994, tr.135).
- Triết học Mác - Lênin chỉ ra bản chất xã hội của đạo đức ở các mặt cụ thể như, tính
thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp, đồng thời cũng chỉ rõ nó có tính nhân loại. Một số
quan điểm thổi phồng tính nhân loại, làm lù mờ tính giai cấp, dân tộc, thời đạo của đạo đức
là một sai lầm. Triết học Mác thừa nhận đạo đức có tính nhân loại và đánh giá đúng vai trò,
phạm vi ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội. Tính nhân loại của đạo đức biểu hiện ở
những giá trị, chuẩn mực có ý nghĩa xuyên suốt thời đại, giai cấp, dân tộc.
- Tính nhân loại của đạo đức biểu hiện ở trình độ thấp là những quy tắc đơn giản,
thông thường mà rất cần thiết cho trật tự bình thường của cuộc sống hàng ngày. Tính nhân
loại của đạo đức biểu hiện ở trình độ cao hơn là ở các lý luận, giá trị tiến bộ nhất ở từng
thời đại, của giai cấp tiến bộ, cách mạng như các lý thuyết có giá trị nhân đạo, nhân văn,
tình yêu thương con người. Giá trị có tính nhân loại của đạo đức có ý nghĩa như mẫu số
chung cho tính giai cấp, dân tộc, thời đại.
- Trong lịch sử chỉ có đạo đức của giai cấp công nhân mới hội tụ được toàn bộ các
tinh hoa, giá trị đạo đức của nhân loại, của các dân tộc trong truyền thống cũng như của
thời đại để có một nền đạo đức tiến bộ nhất lịch sử. Tiền đề để có một nền đa đức tiến bộ
nhất trong lịch sử không chỉ ở sự kế thừa giá trị trong lịch sử, mà quan trọng hơn là cơ sở
vật chất, nền tảng kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất với trình độ phát triển cao
của lực lượng sản xuất. Cùng với tiền đề đó là dân trí và ý thức, tự giác vì tiến bộ của cộng
đồng xã hội ở từng con người phát triển ở trình độ rất cao. V.I.Lênin viết: “Đạo đức là
những gì góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang
sáng tạo ra xã hội mới” (tập 41, 1977, tr.369)
3. Ý nghĩa phương pháp luận
- Là cơ sở để xây dựng đạo đức cách mạng và đạo đức quân nhân trong Quân đội ta.
- Trong xây dựng, phát triển đạo đức quân nhân, phải coi trọng những giá trị, chuẩn
mực đạo đức truyền thống của dân tộc, đồng thời tích cực giáo dục, phát triển những giá trị
mới cho phù hợp với xã hội hiện đại và môi trường hoạt động quân sự hiện nay.
- Đấu tranh chống các quan điểm sai trái về nguồn gốc và bản chất của đạo đức, phủ
đã đi sâu nghiên cứu, luận giải những vấn đề cơ bản của đạo đức cộng sản, đạo đức của
giai cấp công nhân.
Xuất phát từ lập trường triết học duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản khoa học,
C.Mác, Ph.Ăngghen đã đặt cơ sở khoa học cho đạo đức học mác xít. Thừa nhận sự tồn tại
và vai trò to lớn của quy luật khách quan, C.Mác, Ph.Ăngghen đã gắn việc thừa nhận lợi
ích hiện thực của con người với quyền con người, từ đó nâng truyền thống duy vật và tư
tưởng nhân đạo trong đạo đức học cũ lên một trình độ mới, làm cho đạo đức học mác xít
trở thành một khoa học.
2. Bản chất bước ngoặt cách mạng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện trong đạo
đức học
- Trên lập trường duy vật biện chứng C.Mác và Ph.Ăngghen đã đánh lại những tư
tưởng đạo đức trong lịch sử; qua đó, kế thừa và phát triển những giá trị tiến bộ, tích cực
của các di sản lý luận đạo đức ấy, đúc kết, khái quát, xây dựng nên đạo đức học mácxít với
tư cách là một bộ môn khoa học, cách mạng; trong đó, trình bày những nội dung cơ bản
của đạo đức cộng sản chủ nghĩa.
- Thông qua phê phán phê phán những quan niệm sai lầm và vạch trần bản chất giả
dối, bất lực của đạo đức tôn giáo, của đạo đức tôn giáo và chứng minh rằng, trong xã hội
có đối kháng giai cấp, đạo đức tôn giáo phản ánh sự thống trị của quan hệ sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất, bào chữa, bênh vực cho sự áp bức, bóc lột của các giai cấp thống trị.
Trên cơ sở đó, các ông nêu lên những nguyên tắc đạo đức mới của giai cấp công nhân,
khẳng định sứ mệnh và vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong
sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người, thực hiện tiến bộ xã hội.
Đồng thời, khẳng định phải đấu tranh xoá bỏ tất cả các lực lượng và các quan hệ xã hội đã
và đang làm tha hoá con người, biến họ thành phi nhân tính; tách rời các quan hệ xã hội,
trong đó con người bị làm nhục, bị nô dịch, bị bỏ rơi và bị khinh bỉ.
- Phê phán đạo đức học của các nhà triết học duy tâm, nhất là Cantơ và Hêghen vì họ
đã tìm nguồn gốc đạo đức từ lực lượng siêu nhiên, đã thoát ly thực tiễn đấu tranh giai cấp
và thực tiễn đời sống chính trị, xã hội; đã xây dựng các khái niệm, phạm trù đạo đức một
mặt, do tư tưởng đạo đức đã ăn sâu, bám chặt vào đời sống xã hội, trở thành tập quán và
truyền thống; mặt khác, các giai cấp thống trị do lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị chi
phối chỉ giữ lại những gì có lợi cho sự thống trị của nó. Quan niệm của C.Mác,
Ph.Ăngghen về tính độc lập tương đối của tư tưởng đạo đức có một ý nghĩa sâu sắc, là cơ
sở khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới, xây dựng và phát huy vai trò, sức mạnh của
đạo đức trong đời sống xã hội vì hạnh phúc của mọi người.
3. V.I.Lênin bảo vệ và phát triển đạo đức học mácxít
*Điều kiện
- Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển đến đỉnh cao và chuyển
sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, tiến hành chiến tranh thế giới lần I.
- Sau cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải bổ sung, phát triển những vấn đề lý luận và thực tiễn cách
mạng, trong đó có lý luận và thực tiễn giáo dục đạo đức cộng sản trong xây dựng chế độ xã
hội mới.
- Xuất hiện phổ biến và rộng rãi các quan điểm triết học, đạo đức học duy tâm, phản
động chống lại lý luận của chủ nghĩa Mác.
Yêu cầu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa đã đặt ra sự cần thiết phải bổ sung, cụ thể hoá những nguyên lý, quy tắc, lý luận
đạo đức cộng sản chủ nghĩa cho phù hợp với tình hình mới. V.I.Lênin đã đi sâu nghiên
cứu, làm rõ những vấn đề đạo đức người cộng sản, đạo đức cách mạng nhằm đào tạo, bồi
dưỡng các thế hệ công dân mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới.
*Nội dung
- Kế tục C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã lên án sự bóc lột về kinh tế, sự áp bức về
chính trị và sự nô dịch về tư tưởng, tinh thần của giai cấp bóc lột; qua đó, chỉ ra nguyên
nhân làm cho địa vị xã hội của quần chúng nhân dân bị thấp kém, làm cho tinh thần đạo
đức của quần chúng bị mê muội.
- Trên cơ sở phê phán đạo đức duy tâm, đấu tranh chống những thứ đạo đức phản
sở nhận thức đúng đắn quy luật phát triển của lịch sử.
Như vậy, trên cơ sở phê phán những quan niệm mơ hồ của thứ đạo đức phi giai cấp,
phi lịch sử, phi hiện thực mà chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, chủ nghĩa duy vật tầm thường
lấy làm chân lý, V.I.Lênin đã kế tục và phát triển sáng tạo những quan điểm khoa học,
cách mạng của C.Mác, Ph.Ăngghen, hoàn thành cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức,
đem lại cho giai cấp vô sản Đạo đức học với tư cách là một bộ môn khoa học, một trong
những công cụ nhận thức vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới.
4. Ý nghĩa
- Phát triển đạo đức Việt Nam phải theo định hướng chủ nghĩa Mác - Lênin mang bản
chất giai cấp công nhân.
- Đạo đức Mác - Lênin là cốt lõi, ngoài ra còn phải kế thừa đạo đức trong lịch sử, tinh
hoa đạo đức nhân loại.
- Đối với người giáo viên phát triển thêm đạo đức nhà giáo.
- Phê phán các quan điểm sai trái.
5. ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC MÁCXÍT?
Đạo đức học là môn khoa học nghiên cứu quy luật phát sinh, phát triển, tồn tại của
đời sống đạo đức con người; đồng thời, được xây dựng bởi hệ thống các khái niệm, phạm
trù, chuẩn mực đạo đức cơ bản làm cơ sở cho ý thức và hành vi đạo đức của con người.
1. Đối tượng nghiên cứu của đạo đức học
Đạo đức học Mác - Lênin nghiên cứu đạo đức trong tính chỉnh thể, hệ thống trọn vẹn,
có lôgíc vận động, phát triển riêng; đồng thời, nghiên cứu các giá trị đạo đức của lịch sử
xã hội, đặc biệt là đạo đức cộng sản và luận chứng tính qui luật phát triển, cùng vai trò
của nó đối với sự phát triển của xã hội mới.
Như vậy, trên cơ sở lý luận và phương pháp pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đạo đức học Mác - Lênin tiếp cận một cách toàn diện
vấn đề đạo đức và xem xét nó trên cả hai phương diện, vừa tồn tại với tính cách là một
hình thái cụ thể của ý thức xã hội, vừa tồn tại với tính cách là một hiện tượng tất yếu trong
đời sống xã hội.
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, hình thái ý thức đạo đức có quan hệ và tác
động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác; là một hiện tượng của đời sống xã hội, đạo
cưỡng chế. Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của mỗi cá nhân sống trong cộng đồng. Dưới
pháp quyền thì cá nhân muốn hay không muốn buộc phải tuân theo, nếu không sẽ bị lực
lượng như, cảnh sát cưỡng chế, tòa án trừng phạt.
Điều chỉnh hành vi của đạo đức cũng diễn ra trong quan hệ giữa cá nhân với cộng
đồng, xã hội nhưng bằng biện pháp, phương thức trái ngược với pháp quyền. Sự điều chỉnh
của đạo đức thông qua tính tự giác của cá nhân, từ sự thôi thúc, thức tỉnh của lương tâm và
bằng sức mạnh của dư luận xã hội. Ở điều chỉnh hành vi của đạo đức không có dấu hiệu
của sự cưỡng bức. Thông qua dư luận khuyến khích hay không khuyến khích mà cá nhân
con người tự tiếp nhận và chuyển hóa thành động cơ ý chí rồi đến hành vi ứng xử theo yêu
cầu xã hội. Cá nhân càng bị chi phối và hành động phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của xã hội
bao nhiêu thì hành vi càng đạt đến cái thiện bấy nhiêu.
Cơ sở sâu xa của chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức là vấn đề lợi ích, quan hệ lợi
ích giữa cá nhân và cộng đồng, xã hội. Nguyên tắc cơ bản, có ý nghĩa trường tồn bảo đảm
cho xã hội phát triển bền vững ổn định là sự hài hòa về lợi ích giữa cá nhân và xã hội, trong
đó lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích xã hội. Nếu nguyên tắc đó không được tôn trọng thì
xung đột lợi ích sẽ diễn ra và xã hội khó có thể có sự ổn định, phát triển bình thường, đạo
đức sẽ xuống cấp nghiêm trọng, vai trò điều chỉnh hành vi của đạo đức sẽ suy giảm.
Mặc dù điều chỉnh của đạo đức không có sức mạnh vật chất, thực lực quyền uy như
pháp quyền, nhưng sức mạnh của nó có khi rất lớn. Con người mang bản chất xã hội, cho
nên bị chi phối quy định của dư luận xã hội và có khi còn mạnh hơn cả xử phạt hành chính,
pháp luật. Trước dư luận và tòa án lương tâm, người ta có thể cống hiến cho xã hội, giúp
đỡ người khác một cách tự nguyện, tự giác, không có một chút lợi ích vật chất, chỉ cần có
sự thanh thản về mặt tinh thần, lương tâm. Xã hội, cộng đồng, tập thể tạo dư luận khen
ngợi, khuyến khích hành vi thiện, phê phán hành vi ác và cá nhân tiếp nhận, tự nguyện lựa
chọn giá trị, xác định phương thức hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội.
Từ điều chỉnh hành vi cá nhân đến điều chỉnh hành vi cộng đồng và xã hội. Trong xã
hội, vai trò điều chỉnh của đạo đức càng được phát huy thì càng thu hẹp vai trò của pháp
quyền. Xu hướng phát triển của nhân loại là tiến đến phát huy vai trò đạo đức trong điều
luôn tồn tại hai mặt thiện và ác và luôn đấu tranh với nhau, phản ánh sự giằng xé giữa lợi
ích chung và vì lợi ích chung trong tâm trí. Đạo đức thực hiện chức năng giáo dục để cá
nhân tự hiểu, tự nguyện hướng đến cái thiện, chiến thắng mặt ác trong bản thân mình.
Trong xã hội có giai cấp luôn tồn tại nhiều hệ thống giáo dục đạo đức khác nhau. Giai
cấp thống trị tuyên truyền, giáo dục đạo đức của họ. Giai cấp bị trị lại tuyên truyền giáo
dục đạo đức của giai cấp mình. Mỗi nền giáo dục đạo đức của mỗi giai cấp sẽ tạo nên chân
dung, diện mạo đạo đức cá nhân đặc trưng cho mỗi giai cấp ấy. Hiệu quả giáo dục đạo đức
phụ thuộc vào cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Điều kiện khách quan là tiền đề kinh tế - xã hội, với nội dung, cách thức tuyên truyền
giáo dục cụ thể. Nhân tố chủ quan là khả năng cá nhân tiếp nhận, chuyển hóa yêu cầu, đòi
hỏi khách quan thành phẩm chất, năng lực thực hành trong ứng xử, quan hệ xã hội. Trong
giáo dục đạo đức, vai trò nhân tố chủ quan rất lớn. Cùng một điều kiện, môi trường giáo cụ
thể, nhưng có thể tạo ra những chân dung, diện mạo đạo dức cá nhân khác nhau. Sự khác
nhau này do nỗ lực chủ quan cá nhân trong tiếp nhận, chuyển hóa nội dung, yêu cầu, đòi
hỏi của xã hội về đạo đức khác nhau.
*Chức năng nhận thức
Đạo đức có chức năng nhận thức. Nhận thức đạo đức là tiền đề quan trọng hang đầu
của hành vi đạo đức. Xét mặt bản thể luận thì nhận thức và phản ánh đạo đức thống nhất
với nhau, cùng là hệ thống tinh thần do tồn tại xã hội quyết định. Quá trình phản ánh tồn
tại xã hội ở mặt đạo đức cũng là quá trình nâng cao nhận thức đạo đức cho chủ thể là cá
nhân con người. Nội dung nhận thức là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc, yêu
cầu…của đạo đức xã hội. Nội dung này là cái khách quan đối với mỗi cá nhân con người.
Mỗi con người sinh ra đều phải tiếp nhận những nội dung đó vào hệ thống tri thức, nhận
thức của mình. Hệ thống tri thức càng đầy đủ, có chiều sâu thì chân dung đạo đức cá nhân
càng có khả năng hoàn thiện. Đạo đức thực hiện chức năng nhận thức thông qua quá trình
tác động để nâng cao chất lượng chủ quan hóa cái khách quan ở mặt đạo đức.
Nhận thức đạo đức biểu hiện qua hai trình độ khác nhau: trình độ thấp và trình độ cao,
trình độ thông thường và trình độ lý luận. Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là
quan hệ xã hội. Thực tế cho thấy, đạo đức không biểu hiện ra như những quan hệ thuần
tuý, mà nó ẩn chứa trong các quan hệ xã hội khác nhau, như quan hệ kinh tế; quan hệ chính
trị; quan hệ tập thể; quan hệ gia đình, v.v.. Đạo đức học Mác - Lênin có nhiệm vụ phải làm
sáng tỏ nội dung, yêu cầu về mặt đạo đức trong các quan hệ ấy; luận chứng các khía cạnh
bản chất của quan hệ đạo đức trong đời sống xã hội.
Hai là, luận chứng cơ sở khoa học về nguồn gốc, bản chất, chức năng của đạo đức.
Quá trình phát triển của đạo đức học trong lịch đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về
vấn đề này. Đạo đức học Mác - Lênin là khoa học chân chính. Với bản chất khoa học, cách
mạng và nhân văn, đạo đức học Mác - Lênin nghiên cứu, luận giải một cách khoa học cơ
sở nguồn gốc, bản chất, chức năng của đạo đức; qui luật vận động, phát triển của đạo đức
và con đường hình thành, phát triển của đạo đức trong xã hội, đặc biệt là đạo đức mới - đạo
đức cộng sản chủ nghĩa. Xét đến cùng, việc thực hiện nhiệm vụ trên của đạo đức học Mác Lênin là do nhu cầu thực tiễn sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân; của thực tiễn
xây dựng xã hội mới và nhu cầu của tiến bộ xã hội, tiến bộ đạo đức qui định.
Ba là, góp phần xây dựng hệ thống luân lý và phát triển đạo đức mới trong đời sống
xã hội. Thông qua việc khẳng định các nguyên tắc, giá trị của đạo đức cộng sản chủ nghĩa;
phê phán những quan điểm, tư tưởng đạo đức duy tâm, tư sản cùng các tàn dư đạo đức của
xã hội cũ, đạo đức học Mác - Lênin góp phần tích cực vào xây dựng, phát triển hệ thống lý
luận về đạo đức, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội mới và sự tiến bộ về đạo đức. Mặt
khác, định hướng nghiên cứu các lĩnh vực đạo đức đặc thù, gắn với các lĩnh vực hoạt động
và nghề nghiệp cụ thể trong đời sống xã hội, như đạo đức học quân sự; đạo đức học giáo
dục; đạo đức học nghề nghiệp,v.v.. Bởi vậy, những tri thức của đạo đức học Mác - Lênin
cung cấp cho mọi người là công cụ không thể thiếu để xem xét, đánh giá một cách khoa
học thực tiễn đời sống đạo đức xã hội và nâng cao hiệu quả tổ chức thực tiễn giáo dục, rèn
luyện đạo đức trong xã hội.