MÔN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
CÂU 1.8 (9): THỰC CHẤT NỘI DUNG BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG DO
C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN THỰC HIỆN TRONG TRIẾT HỌC. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
CỦA VẤN ĐỀ?
Sự xuất hiện triết học Mác là 1 cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết học. Đó là kết
quả tất yếu của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và khoa học của nhân loại; trong sự
phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội; trực tiếp là thực tiễn đấu tranh giai cấp của
giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Đó cũng là kết quả tất yếu của sự thống nhất giữa điều
kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
1. Điều kiện lịch sử xuất hiện triết học Mác
*Điều kiện khách quan
- Về kinh tế: Vào những năm 40 của thế kỷ 19, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
phát triển, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa.
- Về xã hội: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, dẫn đến đấu tranh…
Đây chính là cơ sở vật chất xã hội và là nhu cầu thực tiễn cho sự ra đời triết học Mác.
+ Ba phong trào đấu tranh lớn của giai cấp công nhân: Phong trào Hiến chương ở Anh
(1830-1840), cuộc khởi nghĩa của công nhân nhà máy dệt Xilêdi ở Đức (1844), khởi nghĩa
của công nhân Liôn ở Pháp (1831-1834).
+ Ba phong trào này không có sự thống nhất, liên kết với nhau, tự phát, đấu tranh kinh
tế là chủ yếu (đòi tăng lương, giảm giờ làm).
- Những tiền đề về khoa học tự nhiên: Cuối thế kỷ19, khoa học đạt được nhiều thành
tựu mới (Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, Học thuyết tế bào, Thuyết tiến hóa),
vừa là cơ sở, vừa là đòi hỏi có sự khái quát mới về mặt triết học.
- Về lý luận: Triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không
tưởng Pháp. Trong đó, hạt nhân hợp lý trong triết học duy tâm của Hêghen và những thành tựu
to lớn trong chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc (tiền đề lý luận trực tiếp).
*Nhân tố chủ quan
- Thiên tài của C.Mác (181-1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895): là những con người có
tư chất thông minh đặc biệt.
- Yếu tố gia đình: sinh ra trong những gia đình có trình độ văn hóa, khoa học cao, đạo
chỉ là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng ngây thơ, tự phát; Thời cận đại là chủ nghĩa duy
vật siêu hình, máy móc. Nó không thể khắc phục triệt để chủ nghĩa duy tâm, không vạch ra
được những nguyên nhân phát triển của tự nhiên, xã hội, không chỉ ra được biện chứng của
quá trình nhận thức và con đường cải tạo thế giới. Vì vậy, đã bị chủ nghĩa duy tâm lợi dụng
và đấu tranh quyết liệt, chống lại nó.
- C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu thấu đáo tất cả những tư tưởng tiến bộ, tinh hoa
của triết học nhân loại, đặc biệt là tiếp thu có phê phán những mặt tiến bộ trong triết hoc
duy vật Phoiơbắc; chỉ ra những thiếu sót, nhược điểm của triết học Phoiơbắc. Qua đó,
C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Trong triết học duy tâm Hêghen, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khắc phục triệt để tính chất
thần bí của phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Hai ông đã chọn lọc những “hạt nhân
hợp lý” và giải phóng nó khỏi cái vỏ duy tâm, tôn giáo, trên cơ sở đó, xây dựng phép biện
chứng duy vật - hạt nhân phương pháp luận của toàn bộ chủ nghĩa Mác.
Tuy nhiên chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là sự “lắp ghép, cộng lại” giản
đơn giữa phép biện chứng duy tâm Hêghen và chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc. C.Mác và
Ph.Ăngghen đã cải tạo cả chủ nghĩa duy vật siêu hình và phép biện chứng duy tâm - xây
dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng khoa học.
V.I.Lênin: Hai ông đã làm phong phú chủ nghĩa duy vật bằng phép biện chứng, còn
phép biện chứng thì được 2 ông đặt trên cơ sở hiện thực và biến thành khoa học. Cả chủ
nghĩa duy vật và phép biện chứng đều được nâng lên một trình độ mới.
C.Mác viết: “Phương pháp biện chứng của tôi, không những khác phương pháp của
Hêghen về căn bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa” (t.23, tr.35)
*Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là một cuộc cách mạng thực sự trong triết học
về xã hội
Việc sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật lịch sử - Học thuyết khoa học chân chính về
những quy luật vận động, phát triển của xã hội. Đó là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng
nhân loại, cuộc cách mạng thực sự trong học thuyết về xã hội, 1 trong những yếu tố chủ yêu
của bước ngoặt cách mạng do C.Mác vàPh.Ăngghen thực hiện trong triết học.
- Thứ nhất, với việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, lần đầu tiên C.Mác và
Ph.Ăngghen đã vạch ra phương thức tồn tại của con người, qua đó vạch ra đúng đắn tiền đề
quá trình trực quan sinh động - tư duy trừu tượng - tư tưởng, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm
tra chân lý; giữ vai trò quyết định đối với nhận thức, với sự phát triển của tất cả các khoa học
và tiến trình lịch sử nói chung. Cho nên, sự khác nhau căn bản giữa triết học Mác với triết
học trước kia là ở chỗ: Không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới.
Điều này, đã khái quát 1 cách cô đọng, sâu sắc thực chất cuộc cách mạng trong triết
học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện.
- C.Mác và Ph.Ăngghen đưa vào triết học đặc tính sáng tạo.
- Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học.
Lẩn đầu tiên trong lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã công khai tính đảng của triết học,
biến triết học của mình thành vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản. Do gắn bó mật thiết với
cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản - giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, một giai
cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và sự phát triển xã hội - mà
triết học Mác, đến lượt nó lại trở thành hạt nhân lý luận khoa học cho thế giới quan cộng
sản của giai cấp công nhân. Ở triết học, tính đảng và tính khoa học thống nhất hữu cơ với
nhau. Sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa lí luận của chủ nghĩa Mác với phong trào
công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự
giác - một điều kiện tiên quyết để giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử vĩ đại
của mình.
- Thực hiện sự liên minh chặt chẽ giữa triết học và các khoa học cụ thể.
3
*Sự ra đời của triết học Mác cũng đã tạo nên bước ngoặt cách mạng trong sự phát
triển lý luận khoa học về chiến tranh và quân đội, đặt nền móng cho sự ra đời của học
thuyết quân sự vô sản
Với lập trường nhất nguyên duy vật và phương pháp biện chứng cách mạng, lần đầu
tiên khoa học quân sự đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học các vấn đề về tính chất xã
hội của chiến tranh; về nguồn gốc, bản chất của chiến tranh, của quân đội; chỉ ra mối liên hệ
nội tại và sự phụ thuộc tất yếu của chiến tranh, của quân đội vào chính trị, vào cơ sở kinh
tế..., do đó, cũng tạo ra những nhận thức có tính bước ngoặt trong quá trình xây dựng quân
CÂU 2.5: ĐẶC ĐIỂM CUỘC CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO C.MÁC
VÀ PH.ĂNGGHEN THỰC HIỆN. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ?
Sự xuất hiện triết học Mác là 1 cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết học. Đó là kết
quả tất yếu của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và khoa học của nhân loại; trong sự
phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội; trực tiếp là thực tiễn đấu tranh giai cấp của
giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Đó cũng là kết quả tất yếu của sự thống nhất giữa điều
kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
1. Điều kiện lịch sử xuất hiện triết học Mác
*Điều kiện khách quan
- Về kinh tế: Vào những năm 40 của thế kỷ 19, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
phát triển, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa.
- Về xã hội: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, dẫn đến đấu tranh…
Đây chính là cơ sở vật chất xã hội và là nhu cầu thực tiễn cho sự ra đời triết học Mác.
+ Ba phong trào đấu tranh lớn của giai cấp công nhân: Phong trào Hiến chương ở Anh
(1830-1840), cuộc khởi nghĩa của công nhân nhà máy dệt Xilêdi ở Đức (1844), khởi nghĩa
của công nhân Liôn ở Pháp (1831-1834).
+ Ba phong trào này không có sự thống nhất, liên kết với nhau, tự phát, đấu tranh kinh
tế là chủ yếu (đòi tăng lương, giảm giờ làm).
- Những tiền đề về khoa học tự nhiên: Cuối thế kỷ19, khoa học đạt được nhiều thành
tựu mới (Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, Học thuyết tế bào, Thuyết tiến hóa),
vừa là cơ sở, vừa là đòi hỏi có sự khái quát mới về mặt triết học.
- Về lý luận: Triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không
tưởng Pháp. Trong đó, hạt nhân hợp lý trong triết học duy tâm của Hêghen và những thành tựu
to lớn trong chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc (tiền đề lý luận trực tiếp).
*Nhân tố chủ quan
- Thiên tài của C.Mác (181-1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895): là những con người có
tư chất thông minh đặc biệt.
- Yếu tố gia đình: sinh ra trong những gia đình có trình độ văn hóa, khoa học cao, đạo
đức tiến bộ (những trạng sư, thương gia giỏi, tiến bộ).
nghĩa cộng sản.
+ Đầu năm 1844, Mác phối hợp cùng Rugơ xuất bản tạp chí “Niên giám Pháp Đức”, ông
viết “Bản thảo kinh tế - triết học”, đánh dấu bước hoàn thành chuyển biến về lập trường.
- Đối với Ph.Ăngghen:
+ Năm 1839, Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu triết học, đặc biệt là triết học Hêghen.
+ Năm 1841, ông đã tham dự những giờ giảng của Hêghen ở Béclin, tiếp thu tư tưởng
triết học và từng bước rút ra những kết luận vô thần.
+ Năm 1842, gặp C.Mác, cộng tác viết nhiều bài trên báo sông Ranh, thể hiện sự
chuyển lập trường.
+ Năm 1844, Ph.Ăngghen viết “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, chuyển biến hoàn
toàn lập trường.
*Giai đoạn 2: 1844-1848: đây là thời kỳ xây dựng những nguyên lý cơ bản về chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với sự ra đời của “Tuyên ngôn Động
Cộng sản” năm 1848 đã đánh dấu hoàn thành giai đoạn khởi thảo những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, một thế giới quan triết học
mới ra đời.
*Giai đoạn 3: 1848-1895: đây là giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục bổ sung,
phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình và đưa học thuyết Mác vào phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân cho đến khi Ph.Ăngghen qua đời (1895).
- Từ 1848-1871, C.Mác và Ph.Ăngghen lấy triết học làm thế giới quan, phương pháp
luận nghiên cứu kinh tế chính trị và chủ nghĩa cộng sản và làm phong phú cho triết học
trước đó. Chủ nghĩa Mác trở thành hệ tư tưởng khoa học trong phong trào công nhân ở
nhiều nước lớn trên thế giới.
- Từ năm 1871-1895, C.Mác và Ph.Ăngghen lần lượt phát triển cả 3 bộ phận cấu thành
chủ nghĩa Mác.
Tóm lại: Quá trình hình thành, phát triển triết học Mác là một quá trình trải qua các
giai đoạn. Hay nói cách khác triết học Mác phát triển là tất yếu khách quan, là một quá trình
kế thừa, lọc bỏ và phát triển, gắn liền với thực tiễn.
2.2. Cuộc cách mạng dựa trên liên minh chặt chẽ với khoa học
6
2.3. Cuộc cách mạng là bước ngoặt diễn ra trên tất cả các phương diện của thế giới quan
- Lần đầu tiên trong lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm cho triết học trở thành khoa
học (là khoa học vì có đối tượng riêng, trước đây chưa hề có).
- Lần đầu tiên triết học Mác trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho
giai cấp vô sản trong nhận thức, cải tạo thế giới và trong đấu tranh cách mạng. Triết học
Mác là hoàn bị nhất, triệt để nhất.
+ C.Mác và Ph.Ăngghen đã thống nhất chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng hình
thành chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, giải phóng phép biện
chứng ra khỏi chủ nghĩa duy tâm, cải tạo chủ nghĩa duy vật mang tính siêu hình.
+ Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử - thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng nhân loại
(đuổi chủ nghĩa duy tâm ra khỏi căn hầm trú ẩn cuối cùng của nó).
+ C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa khái niệm thực tiễn vào lý luận nhận thức, xây dựng
thành lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
+ C.Mác và Ph.Ăngghen đã khởi thảo học thuyết triết học xã hội. Lấy chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở cho sự phát triển của môn khoa học xã hội: kinh
tế chính trị học, CNXHKH, đạo đức, mỹ học, chiến tranh - quân đội,...
7
+ C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định đúng đắn đối tượng, nhiệm vụ, chức năng của
triết học, xác lập và giải quyết quan hệ triết học với khoa học khác.
Tóm lại, Triết học Mác là triết học của giai câp vô sản, là vũ khí lý luận để soi đường
cho giai câp vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân loại,
chuyển cuộc đấu tranh từ tự phát sang tự giác.
3. Giá trị lịch sử của vấn đề
- Với lịch sử triết học: Đây là lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại chủ nghĩa
duy vật đã được giải phóng ra khỏi sự ràng buộc của phương pháp tư duy siêu hình, đồng
thời giải phóng phép biện chứng khỏi chủ nghĩa duy tâm thần bí, đưa quan niệm duy vật
biện chứng về tự nhiên sang xem xét lịch sử.
- Với phong trào công nhân và các chính đảng cộng sản: Triết học Mác ra đời là vũ khí
8
- Những tiền đề về khoa học tự nhiên: Cuối thế kỷ19, khoa học đạt được nhiều thành
tựu mới (Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, Học thuyết tế bào, Thuyết tiến hóa),
vừa là cơ sở, vừa là đòi hỏi có sự khái quát mới về mặt triết học.
- Về lý luận: Triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không
tưởng Pháp. Trong đó, hạt nhân hợp lý trong triết học duy tâm của Hêghen và những thành tựu
to lớn trong chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc (tiền đề lý luận trực tiếp).
*Nhân tố chủ quan
- Thiên tài của C.Mác (181-1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895): là những con người có
tư chất thông minh đặc biệt.
- Yếu tố gia đình: sinh ra trong những gia đình có trình độ văn hóa, khoa học cao, đạo
đức tiến bộ (những trạng sư, thương gia giỏi, tiến bộ).
- Lập trường giai cấp và quá trình hoạt động thực tiễn: Quá trình hoạt động thực tiễn
rèn luyện trong phong trào công nhân làm các ông chuyển từ lập trường duy tâm, dân chủ
cách mạng sang lập trường duy vật và cọng sản chủ nghĩa (1844).
- Tình bạn đặc biệt của C.Mác và Ph.Ăngghen: bắt đầu từ 10/1842 khi 2 người gặp
nhau ở tòa soạn và trở thành chủ bút của báo Sông Ranh.
V.I.Lênin: “C.Mác và Ph.Ăngghen là hai nhà bác học mà tình bạn của họ đã vượt qua
những truyền thuyết viết về tình bạn cảm động nhất của con người”.
*Quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác trải qua các giai đoạn sau
- Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và
dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và cộng sản chủ nghĩa (1841-1844).
- Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử (1844-1848).
- Giai đoạn bổ sung và phát triển lý luận triết học (1848-1895).
2. Quan niệm về bước ngoặt cách mạng trong triết học về xã hội
- Phải đem đến những thay đổi căn bản trong quan niệm triết học nhân loại về xã hội.
- Xuất hiện 1 triết học mới khác về chất so với tất cả các triết học trước đó.
không ngừng, đến một giai đoạn nhất định sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất cũ đã
lỗi thời và đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ sản xuất ấy bằng những quan hệ sản xuất mới,
tiến bộ hơn.
+ Trong các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hiện thực của mỗi
xã hội đó là cơ sở hạ tầng, trên đó xây dựng lên cấu trúc thượng tầng: chính trị, pháp luật và
các hình thái ý thức xã hội khác, với những thiết chế của chúng.
Một khi cấu trúc hạ tầng đã thay đổi, thì toàn bộ cấu trúc thượng tầng sớm muộn cũng
thay đổi theo. Hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng một hình thái kinh tế - xã hội
mới tiến bộ hơn.
+ Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi ấy được thực hiện bằng đấu tranh giai cấp, đỉnh
cao của nó là cách mạng xã hội. Từ đó, thiết lập nên Nhà nước. Các quan hệ giai cấp, dân
tộc, nhân loại bị chi phối bởi các quy luật trong xã hội, điển hình là lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng.
+ Sản xuất của cải vật chất là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, còn việc
giải quyết mâu thuẫn trong các phương thức sản xuất là động lực chủ yếu của toàn bộ lịch sử.
*Lần đầu tiên trong lịch sử, triết học Mác đã đem đến một quan niệm hoàn toàn đúng
đắn và khoa học về vai trò của con người trong tiến trình lịch sử
- Khác với các nhà triết học khác, tiền đề nghiên cứu của Mác là con người hiện thực, nghĩa
là con người muốn tồn tại trước hết phải ăn, ở, mặc, đi lại. Nhờ đó Mác đã thấy rằng: Lịch sử
chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của bản thân mình.
- Chỉ ra và khắc phục triệt để những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và quan niệm định
mệnh về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đặt ra và giải quyết mối quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, giữa
quy luật khách quan của lịch sử với hoạt động có ý thức của con người theo lập trường của
chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Theo đó và bằng cách đó, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra con đường và phương
pháp đúng đắn để con người trở thành chủ thể thực sự của lịch sử.
4. Giá trị lịch sử của vấn đề
- Với lịch sử triết học: Đây là lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại chủ nghĩa
duy vật đã trở nên hoàn bị và triệt để: chủ nghĩa duy vật lịch sử - sự mở rộng chủ nghĩa duy
vật biện chứng vào xem xét xã hội. Nó khẳng định bản chất cách mạng và khoa học của
sống xã hội, giữa việc giải thích hiện thực về mặt triêt học với cuộc đấu tranh cải tạo hiện
thực bởi thực tiễn cách mạng, trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của
giai cấp công nhân và chính đảng cuả nó để nhận thức và cải tạo thế giới. Sự thống nhất
giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là thực chất cuộc cách mạng trong triết học do
C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện.
1. Điều kiện lịch sử xuất hiện triết học Mác
*Điều kiện khách quan
- Về kinh tế: Vào những năm 40 của thế kỷ 19, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
phát triển, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa.
- Về xã hội: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, dẫn đến đấu tranh…
Đây chính là cơ sở vật chất xã hội và là nhu cầu thực tiễn cho sự ra đời triết học Mác.
+ Ba phong trào đấu tranh lớn của giai cấp công nhân: Phong trào Hiến chương ở Anh
(1830-1840), cuộc khởi nghĩa của công nhân nhà máy dệt Xilêdi ở Đức (1844), khởi nghĩa
của công nhân Liôn ở Pháp (1831-1834).
+ Ba phong trào này không có sự thống nhất, liên kết với nhau, tự phát, đấu tranh kinh
tế là chủ yếu (đòi tăng lương, giảm giờ làm).
- Những tiền đề về khoa học tự nhiên: Cuối thế kỷ19, khoa học đạt được nhiều thành
tựu mới (Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, Học thuyết tế bào, Thuyết tiến hóa),
vừa là cơ sở, vừa là đòi hỏi có sự khái quát mới về mặt triết học.
11
- Về lý luận: Triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không
tưởng Pháp. Trong đó, hạt nhân hợp lý trong triết học duy tâm của Hêghen và những thành tựu
to lớn trong chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc (tiền đề lý luận trực tiếp).
*Nhân tố chủ quan
- Thiên tài của C.Mác (181-1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895): là những con người có
tư chất thông minh đặc biệt.
- Yếu tố gia đình: sinh ra trong những gia đình có trình độ văn hóa, khoa học cao, đạo
triển của khoa học, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, đã chứa
đựng không ít những luận điểm riêng biệt thể hiện tinh thần biện chứng. Song, do hạn chế
của điều kiện xã hội và của trình độ phát triển khoa học, nên, chủ nghĩa duy vật và phép
biện chứng tách rời nhau. Theo Mác: “khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật
từ trước tới nay- kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc - là sự vật, hiện thực, cải cảm giác
được, chi được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không
được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, của thực tiễn” (t.3, tr.9).
12
=>Vì vậy, nó không thể khắc phục triệt để chủ nghĩa duy tâm, không vạch ra được
những nguyên nhân phát triển của tự nhiên, xã hội, không chỉ ra được biện chứng của quá
trình nhận thức và con đường cải tạo thế giới. Vì vậy, đã bị chủ nghĩa duy tâm lợi dụng và
đấu tranh quyết liệt, chống lại nó.
Trước khi triết học Mác ra đời, trong suốt chiều dài lịch sử triết học, mặc dù chủ nghĩa
duy vật thường tách khỏi phương pháp biện chứng, song Trong triết học Hy Lạp cô đại, có
thể nói, đã có sự thống nhất nhất định giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng ở
một số nhà triết học duy vật. Sự thống nhất này được thể hiện rõ nhất trong triết học của
Hêraclít. Tuy nhiên, sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng trong
triết học của Hêraclít còn ở trình độ thấp. Hơn nữa, cả chủ nghĩa duy vật lẫn phương pháp
biện chứng của Hêraclít đều còn ở trình độ thô sơ, chất phác, đúng như Ph.Ăngghen đã
đánh giá: “Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đỏ là thế
giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclit trình bày một
cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi
vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”.
+ Ở thời kỳ Phục hưng và Cận đại, chủ nghĩa duy vật đã có bước phát triển về chất so
với chủ nghĩa duy vật thời Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này, về cơ
bản, vẫn là chủ nghĩa duy vật siêu hình. Nghĩa là chủ nghĩa duy vật vẫn tách rời phương
pháp biện chứng.
+ Các nhà triết học cổ điển Đức, nhất là Hêghen, đã đối lập phương pháp biện chứng
+ Với lịch sử triết học: Đây là lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại chủ nghĩa
duy vật đã trở nên hoàn bị và triệt để: chủ nghĩa duy vật lịch sử - sự mở rộng chủ nghĩa duy
vật biện chứng vào xem xét xã hội. Nó khẳng định bản chất cách mạng và khoa học của
Triết học Mác.
+ Với phong trào công nhân và các chính đảng cộng sản: Triết học Mác ra đời là vũ
khí lý luận thật sự khoa học và cách mạng, thực sự là công cụ nhận thức vĩ đại để cải tạo thế
giới, là kim chỉ nam trong hoạt động thực tiễn.
- Ý nghĩa trong bảo vệ và phát triển triết học Mác hiện nay (Cả chủ nghĩa duy vật biện
chứng và phép biện chứng duy vật).
- Kiên quyết đấu tranh phê phán tư tưởng đánh đồng bản chất, đặc trưng, vai trò của
chủ nghĩa duy vật biện chứng với nguồn gốc lý luận trực tiếp của nó (phép biện chứng duy
tâm Hêghen, chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc), làm sai lệch thực chất và hạ thấp vai trò của
cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học do C.Mác và Ph.Ănghen thực hiện.
CÂU 5.9: ĐẶC ĐIỂM GIAI ĐOẠN V.I.LÊNIN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
ĐỐI VỚI BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN HIỆN NAY.
1. Điều kiện lịch sử giai đoạn Lênin
*Tình hình quốc tế
- Về kinh tế, chính trị, xã hội:
+ Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển đến đỉnh cao và chuyển
sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, tiến hành chiến tranh thế giới lần I.
+ Chủ nghĩa Mác bị tấn công từ nhiều phía: 1895, Ph.Ăngghen mất, Quốc tế II bị lũng
đoạn bởi Cauxki; chủ nghĩa cơ hội xét lại mang tính quốc tế.
+ Trung tâm cách mạng thế giới đã chuyển vào nước Nga, giai cấp vô sản Nga bị tư
sản nước ngoài thống trị, nông dân Nga bị bóc lột nặng nề nên có nhu cầu được giải phóng,
giai cấp vô sản Nga đã trưởng thành và bước lên vũ đài chính trị, đòi hỏi phải có lý luận dẫn
đường để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.
- Về khoa học tự nhiên: đã đi sâu nghiên cứu thế giới vi mô và đạt được nhiều thành
tựu mới.
+ Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X, một loại sóng điện từ.
quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới.
Chính trong những thời điểm ngặt nghèo và khắc nghiệt của cách mạng, Lênin đã có
những phát kiến thiên tài, làm cho chủ nghĩa Mác với ba bộ phận cấu thành là triết học,
kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học hoàn thiện hơn. Vì lẽ đó, tên tuổi và sự
nghiệp của ông gắn chặt với tên tuổi và sự nghiệp của C.Mác, tạo thành nền tảng tư tưởng
cho giai cấp công nhân: chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có triết học Mác - Lênin với tư cách
là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học và cách mạng.
*Các giai đoạn Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác
- Giai đoạn1: 1893-1907, thời kỳ tiếp nhận triết học Mác; bảo vệ, phát triển triết học
Mác chống chủ nghĩa “dân tuý” ; chuẩn bị thành lập Đảng mácxít và thực hiện cách mạng
dân chủ tư sản lần thứ nhất với các tác phấm: Những người bạn dân (1894); Nội dung kinh
tế của chủ nghĩa dân túy (1894); Làm gì? (1902).
- Giai đoạn 2: 1908-1917, là thời kỳ Lênin bảo vệ, phát triển toàn diện triết học Mác
đấu tranh chống lại chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và lãnh đạo
phong trào công nhân Nga với các tác phấm: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm
phê phán (1909); Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng cùa chù nghĩa tư bản (1915); Bút
ký triết học (1895 -1916); Nhà nước và cách mạng (1917)...
- Giai đoạn 3: 1917-1924, là thời kỳ Lênin bảo vệ phát triển triết học Mác chống lại
chủ nghĩa cơ hội xét lại; là giai đoạn hiện thực hóa chủ nghĩa Mác với các tác phấm: Bệnh
âu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920); Lại bàn vê công đoàn (1921); về tác
dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922).
2. Đặc điểm giai đoạn V.I.Lênin trong quá trình phát triển của triết học Mác
*Thứ nhất: Đây là giai đoạn đấu tranh vô cùng khó khăn để bảo vệ những nguyên lý
cơ bản của triết học Mác: Đấu tranh quyết liệt trên mọi lĩnh vực
- Chống chủ nghĩa duy tâm Vật lý học (tiêu biểu là Makhơ): phủ nhận sự tồn tại khách
quan của thế giới bên ngoài và độc lập với ý thức (khi coi sự vật là những “phức hợp cảm
giác”); bác bỏ nội dung khách quan của các khái niệm khoa học, các quy luật và tính nhân
quả, cho rằng chúng là sản phẩm của trí tuệ, của tâm lí con người.
15
+ Khẳng định vai trò nhân tố chủ quan trong xem xét xã hội.
+ Cảnh báo những người cộng sản nếu phóng đại tinh thần cách mạng sẽ dẫn đến duy
tâm, duy ý chí. Tuyệt đối hóa phương pháp ccách mạng sẽ rơi vào siêu hình, phiến diện.
- Bổ sung, phát triển những vấn đề mà C.Mác và Ph.Ăngghen chưa có điều kiện và
thời gian giải quyết.
+ Đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất.
+ Đưa ra con đường biện chứng của sự nhân thức chân lý.
+ Tư tưởng kết hợp các mặt đối lập: Thành điệu nhạc chối tai hoặc êm tai.
+ Đề cập những vấn đề cơ bản của Lôgic biện chứng: ở “Bút ký triết học” với 16 yếu
tố => Khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, phát triển; nhưng đến “Lại bàn về Công đoàn”,
Lênin bổ sung thêm là phải gắn với thực tiễn.
+ Khẳng định tính tất yếu, tính chất, nội dung thời kỳ quá độ lên hình thái kinh tế - xã
hội cộng sản chủ nghĩa.
+ Đưa ra định nghĩa kinh điển về giai cấp và đấu tranh giai cấp.
+ Đưa ra nội dung, hình thức, điều kiện mới của đấu tranh giai cấp.
+ Chỉ ra tính tất yếu và quá trình tiêu vong của nhà nước tư sản (N.nước và CM).
16
- Bổ sung, phát triển những vấn đề C.Mác và Ph.Ăngghen chưa giải quyết trọn vẹn.
+ Qui luật và những đặc điểm cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
+ Phân tích toàn diện, sâu sắc những đóng góp, hạn chế của Hêghen trong Lôgic học
và những bài giảng lịch sử triết học của Hêghen. (tập 29).
- Bổ sung và phát triển những vấn đề C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải quyết nhưng
không còn phù hợp điều kiện lịch sử mới.
+ Tình thế và thời cơ cách mạng vô sản
+ Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ: một đột phá của Lênin.
*Thứ ba: Đây là giai đoạn hiện thực hóa chủ nghĩa Mác
- Lênin chỉ ra phải nhạy bén, tỉnh táo, dũng cảm, kiên nhẫn hơn, bớt nóng vội chủ
quan, duy tâm, duy ý chí để tiến xa hơn.
+ Chủ nghĩa Mác bị tấn công từ nhiều phía: 1895, Ph.Ăngghen mất, Quốc tế II bị lũng
đoạn bởi Cauxki; chủ nghĩa cơ hội xét lại mang tính quốc tế.
17
+ Trung tâm cách mạng thế giới đã chuyển vào nước Nga, giai cấp vô sản Nga bị tư
sản nước ngoài thống trị, nông dân Nga bị bóc lột nặng nề nên có nhu cầu được giải phóng,
giai cấp vô sản Nga đã trưởng thành và bước lên vũ đài chính trị, đòi hỏi phải có lý luận dẫn
đường để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.
- Về khoa học tự nhiên: đã đi sâu nghiên cứu thế giới vi mô và đạt được nhiều thành
tựu mới.
+ Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X, một loại sóng điện từ.
+ Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ, đã bác bỏ quan niệm về sự
bất biến của nguyên tử.
+ Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử (electron) và chứng minh được nó là một
trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử.
+ Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là bất
biến, mà thay đổi phụ thuộc vào tốc độ vận động của nó.
+ Năm 1905, Anhxtanh phát minh ra thuyết tương đối hẹp và năm 1916, ông đưa ra
thuyết tương đối tổng quát, chứng minh được không gian, thời gian, khối lượng không phải
là bất biến, đặc trưng chung cho vật chất.
+ Thế nhưng, nhiều nhà khoa học “giỏi về khoa học nhưng kém cỏi về triết học” rơi
vào khủng hoảng thật sự về thế giới quan.
→ Phải có sự khái quát về mặt triết học,…
*Tình hình trong nước
- Sự thất bại của cuộc cách mạng dân chủ tư sản (1905-1907): Đã để lại nhiều bài học
và đặt ra rất nhiều câu hỏi về tình thế, thời cơ, phương pháp cách mạng.
- Sự phân liệt trong phong trào công nhân, trong Đảng Cộng sản Nga: Phái Bônsêvíc,
phái Mensêvíc.
- Sự thành công của Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917.
chủ nghĩa cơ hội xét lại; là giai đoạn hiện thực hóa chủ nghĩa Mác với các tác phấm: Bệnh
âu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920); Lại bàn vê công đoàn (1921); về tác
dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922).
2. Cống hiến của Lênin trong bảo vệ và phát triển triết học Mác
2.1. Những cống hiến câa Lênin trong bảo vệ và phát triển lịch sử triết học
- Đối với Lênin, lịch sử triết học là một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời của triết
học. Ông cho rằng, đối tượng nghiên cứu của triết học, về thực chất, chính là đối tượng
nghiên cứu của lịch sử triết học.
+ Lênin đã có công xây dựng những nguyên lý đầu tiên, rất cơ bản của một môn khoa
học - lịch sử triết học. Đồng thời, đặt ra vấn đề về phân kỳ, phân loại lịch sử triết học và
giải quyết mối quan hệ giữa môn khoa học lịch sử và môn lịch sử triết học.
+ Lênin đã đặt ra các yêu cầu khách quan trong nghiên cứu lịch sử triết học: không
được thoát ly thực tiễn, phải đảm bảo tính chân thực, tính khách quan trong nghiên cứu,
xem xét, đánh giá các trào lưu và các nhà triết học trong lịch sử. Đồng thời, khẳng định cho
được tính tất yếu khách quan sự thắng thế của chủ nghĩa duy vật, thế giới quan vô thần và
tư tưởng khoa học.
+ Nhận xét đánh giá xác đáng về giá trị, ý nghĩa và chỉ ra hạn chế của các nhà triết học
cổ đại như Pitago, Hêraclít, Đêmôcrít… và các tác phẩm, các trường phái triết học.
+ Ông đã nghiên cứu kỹ lịch sử triết học Mác; qua đó khẳng định bản chất khoa học,
cách mạng của học thuyết Mác; đồng thời, phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phản
động, chống đối học thuyêt Mác. (Sứ mệnh lịch sử của học thuyết Mác và Ba bộ phận và ba
nguồn gốc cấu thành chủ nghĩa Mác đã chứng minh).
2.2. Những cống hiến trong bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Làm rõ nguyên lý quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng: Mối quan hệ khách
quan - chủ quan; quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể trong nhận thức và thực
tiễn.
- Đưa ra học thuyết phản ánh; định nghĩa kinh điển về vật chất; tiếp tục khẳng định
con người có khả năng nhận thức được thế giới...
- Làm rõ sự khác biệt về chất giữa phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy
tâm (Hêghen). Khẳng định phép biện chứng duy vật phản ánh đúng đắn bản chất quy luật
giải hình thức đấu tranh giai cấp trước khi có chính quyền, nhấn mạnh vai trò của đấu tranh
chính trị, vai trò hệ tư tưởng vô sản.
- Lênin đã hệ thống, phát triển toàn diện học thuyết về nhà nước của C.Mác: nguồn
gốc, bản chất, đặc trưng; làm rõ lý luận về chuyên chính vô sản, nhà nước chuyên chính vô
sản; khẳng định sự tồn tại tất yếu của nhà nước chuyên chính vô sản, chỉ rõ sự khác biệt căn
bản giữa dân chủ tư sản và dân chủ vô sản, sự tiêu vong của nhà nước.
- Phát triển học thuyết Mác về cách mạng xã hội chủ nghĩa, xác định lực lượng cách mạng
là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vai trò lãnh đạo thuộc về giai cấp công nhân; làm
rõ đặc điểm và triển vọng cách mạng dân chủ tư sản trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa; chỉ ra
khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một số nước thậm chí ở một nước riêng lẻ.
- Làm sâu sắc thêm mối quan hệ cá nhân - xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và
cá nhân lãnh tự trong lịch sử
- Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và làm rõ mối quan hệ giữa chúng; làm rõ vai
trò của ý thức xã hội với sự phát triển xã hội, tính đảng của hệ tư tưởng.
- Đề ra lý luận về chính sách kinh tế mới (NEP), đặt ra vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã
hội trong thời kỳ quá độ cùng các mâu thuẫn và cách giải quyết.
Những cống hiến của V.I.Lênin về chủ nghĩa duy vật lịch sử là tiền đề trực tiếp cho việc
phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử trong điều kiện lịch sử mới; cơ sở lý luận cho các đảng cộng
sản và công nhân quốc tế đề ra đường lối, chiến lược, sách lược tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa của mình, giúp chúng ta củng cố lòng tin tất thắng của chủ nghĩa xã hội, có phương pháp
khoa học trong đấu tranh chống quan điểm duy tâm, phản động về lịch sử hiện nay.
2.4. Phát triển trên các lĩnh vực khác
- Chiến tranh và quân đội: Vai trò nhân tố chính trị tinh thần, bảo vệ tổ quốc XHCN…
- Với Đạo đức học: đạo đức cách mạng; vai trò của đạo đức trong xã hội…
20
3. Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay
- Phải quán triệt, tiếp thu tư tưởng và phương pháp của Lênin trong bảo vệ, phát triển
triết học Mác:
- Tính cách mạng: Triết học Mác đã ra đời trên cơ sở kế thừa một cách có phê phán
những thành tựu của tư duy nhân loại, tạo nên cuộc cách mạng trong triết học:
+ Lần đầu tiên sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng (kết hợp chủ nghĩa duy vật
và phép biện chứng).
+ Lần đầu tiên sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật lịch sử, đem lại cuộc cách mạng trong
nhận thức duy vật về xã hội (giống Đácuyn tạo cuộc cách mạng trong sinh học).
+ Lần đầu tiên bổ sung cho triết học các đặc tính mới (thực tiễn, thống nhất tính đảng
với tính khoa học, liên minh với khoa học)
- Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng:
+ Triết học Mác đã đem lại cơ sở khoa học đúng đắn cho việc luận chứng và giải thích
những hiện tượng của đời sống xã hội và quá trình lịch sử, nhất là cho việc cải tạo thế giới
21
hiện thực (tính cách mạng). C.Mác: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều
cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”.
+ Là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân - triết học Mác đã trở thành vũ khí
lý luận của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng mình,
đồng thời giải phóng toàn thể nhân loại.
C.Mác: Vũ khí vật chất của triết học là giai cấp vô sản, cũng giống như vũ khí tinh thần
của giai cấp vô sản là triết học. Với bản chất khoa học và cách mạng, triết học Mác đã “đem
lại sự giận dữ và kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giáo điều của chúng...”.
Khái quát, triết học Mác đã trang bị cho chúng ta hệ thống quan điểm khách quan, toàn
diện, lịch sử - cụ thể, phát triển và thực tiễn trong mọi hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn nhằm cải biến cách mạng thế giới hiện tồn.
*Mối quan hệ giữa tính khoa học và tính cách mạng
Bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác luôn thống nhất với nhau trong nội
tại của nó. Cụ thể:
- Thứ nhất, về phương diện lý luận
+ Trong mối quan hệ biện chứng giữa tính khoa học và tính cách mạng của triết học
tạo toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội, hình thành các cá nhân tự do; phát triển sáng tạo trên
cơ sở chủ nghĩa tập thể. Quá trình thật sự nhân văn này, theo C.Mác, chỉ được thực hiện
trong lịch sử khi giai cấp vô sản giải phóng mình và qua đó, giải phóng toàn thể xã hội.
- Chủ nghĩa nhân văn tích cực, trong quan niệm của C.Mác, là chủ nghĩa nhân văn
được trung gian hoá bởi việc xoá bỏ chế độ tư hữu, trở thành cơ sở lý luận cho công cuộc
xây dựng chế độ xã hội mới mà ở đó, đời sống vật chất và tinh thần của con người được cải
thiện và không ngừng nâng cao.
- C.Mác là người đầu tiên đã luận chứng một cách khoa học cho con đường hiện thực
hoá lý tưởng nhân đạo chủ nghĩa mà tư tưởng tiến bộ của nhân loại đã đề ra cho loài người
(Chủ nghĩa xã hội không tưởng). Tư tưởng xoá bỏ tha hoá, tạo điều kiện cho sự phát triển tự
do của mỗi người và của tất cả mọi người nhờ quá trình nhân văn hoá, văn hoá hoá quan hệ
xã hội của C.Mác vẫn giữ nguyên giá trị trong thế giới hiện đại.
3. Ý nghĩa của vấn đề đối với nghiên cứu và giảng dạy triết học Mác - Lênin ở
Việt Nam hiện nay
V.I.Lênin đã khẳng định: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã
xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng
của môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi
mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Tiếp nối tinh thần của
V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Mác đã xây dựng học thuyết của minh trên một triêt lý
nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải
là toàn thể nhân loại”. Từ đó, Người yêu cầu “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử
của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”.
Trong nghiên cứu và giảng dạy triết học Mác - Lênin ở Việt Nam hiện nay cần:
- Cần quán triệt quan điểm bản chất khoa học và cách mạng là cội nguồn sức mạnh của
chủ nghĩa Mác, triết học Mác, sự thống nhất biện chứng giữa tính khoa học với tính cách
mạng là cội nguồn thắng lợi của cách mạng, của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do
vậy, trong hoạt động lý luận và thực tiễn, phải luôn đề phòng và kiên quyết chống lại sự
tách rời giữa tính cách mạng với tính khoa học, luôn lấy việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Cần thấy rõ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là lôgíc nội
tại, xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học. Đòi hỏi khi nghiên cứu mỗi triết gia, mỗi học
thuyết triết học phải căn cứ vào nguyên tắc tính đảng để phân biệt được duy vật hoặc duy
tâm. Đồng thời đấu tranh giữa duy vật và duy tâm là một hình thức giao lưu tư tưởng triết
học. Do vậy, không được đem đối lập một cách giản đơn các học thuyết triết học mà phải
thấy rõ phương diện giao nhau, tiếp cận nhau, chuyển hoá lẫn nhau giữa các tư tưởng triết
học trong những điều kiện nhất định.
1. Thực chất tính đảng của triết học
Tính đảng trong triết học, trước hết là nói đến tính phe phái giữa chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm. Triết học ra đời từ nhu cầu cuộc sống và nhằm phục vụ lợi ích của các
cộng đồng người khác nhau trong lịch sử. Chính vì vậy, trong xã hội có phân chia giai cấp,
tính đảng của triết học thể hiện tập trung trước hết ở tính giai cấp của nó.
2. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về tính đảng của triết học
- Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học đòi hỏi phải dựa trên cơ sở nguyên tắc tính đảng.
+ Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là lôgíc nội tại, xuyên
suốt toàn bộ lịch sử triết học. Đòi hỏi khi nghiên cứu mỗi triết gia, mỗi học thuyết triết học
phải căn cứ vào nguyên tắc tính đảng để phân biệt được DV hoặc DT.
+ Đấu tranh giữa duy vật và duy tâm là một hình thức giao lưu tư tưởng triết học. Do
vậy, không được đem đối lập một cách giản đơn các học thuyết triết học mà phải thấy rõ
phương diện giao nhau, tiếp cận nhau, chuyển hoá lẫn nhau giữa các tư tưởng triết học
trong những điều kiện nhất định.
- Tính đảng trong nghiên cứu lịch sử triết học gắn liền với tính chính trị, tính giai cấp.
Đằng sau cuộc đấu tranh giữa các đảng phái trong triết học là cuộc đấu tranh giữa các hệ tư
tưởng đối địch của các giai cấp trong xã hội.
- Mọi triết học dù là dưới hình thức nào đi nữa, đều hoặc thuộc chủ nghĩa duy tâm hay chủ
nghĩa duy vật, không có triết học nào đứng giữa hoặc đứng trên 2 t/phái triết học cơ bản đó.
+ Triết học duy vật phản ánh lợi ích và gắn liền với các giai cấp, các lực lượng xã hội
tiến bộ và cách mạng.
+ Triết học duy tâm thi phản ánh lợi ích và gắn chặt với g/cấp thống trị, bóc lột. Lênin
viết: “cuộc đấu tranh đảng phái triết học… xét đến cùng, biểu hiện những khuynh hướng và
+ Triết học mác xít là sự kế thừa tinh hoa, tư tưởng của loài người, dựa chắc vào các
thành tựu khoa học hiện đại, gắn liền với thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân, nó là
khẳ năng nhận thức và phản ánh đúng chân lý khách quan.
- Không thể nói triết học tư sản bao giờ cũng là một thứ triết học sai lầm phản khoa học:
+ Triết học tư sản thể kỷ17-18 phần lớn là hệ thống triết học duy vật, đó là triết học tư
sản nhưng có nhiều giá trị khoa học tiến bộ, đại diện giai cấp tư sản đứng ở trung tâm thời
đại, làm nhiệm vụ lãnh đạo chống chế độ phong kiến phản động.
+ Khi giai câp tư sản trở nên phản động, giai câp công nhân đứng lên vũ đài chính trị,
cuộc đấu tranh GC diễn ra quyết liệt thì triết học tư sản là thứ triết học phản khoa học, phản
động chống cộng sản quyết liệt.
- Đấu tranh chống ý kiến cho rằng vấn đề cơ bản triết học là vấn đề thuần tuý lý luận,
không có ý nghĩa xã hội, thực tiễn.
+ Vì ẩn giấu sau nó là mưu đồ của giai cấp thống trị nuôi dưỡng tư tưởng duy tâm, tôn
giáo, phản khoa học và lạc hậu.
+ Có lập trường duy vật khoa học sẽ có thế giới quan, PPL khoa học để nhận thức
đúng đắn và cải tạo thực tiễn hiệu quả.
3. Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận
hiện nay
- Khẳng định tính tất yếu của cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận ở Việt Nam hiện nay
xuất phát từ nguyên tắc tính Đảng trong triết học.
25