TIỂU LUẬN bài học sụp đổ mô HÌNH CHỦ NGHĨA xã hội ở LIÊN xô, ĐÔNG âu với VIỆC xây DỰNG mô HÌNH CNXH ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 38

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
2
1. Sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu
4
a. Nguyên nhân của sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu 4
b. Bài học rút ra từ sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và
14
Đông Âu
2. Sự nhận thức và vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam vào
16
việc xác định mô hình xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay
a. Quá trình nhận thức và vận dụng của Đảng ta về mô hình xây
16
dựng CNXH
23
b. Một số vấn đề rút ra trong nhận thức và hành động của chúng ta
KẾT LUẬN
25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
26


2

MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề khó khăn và phức tạp nhất của công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) chính là việc xác định được mô hình của một
chế độ xã hội mới. Đây là một trong những định hướng hết sức quan trọng,
giúp cho các Đảng Cộng sản đề ra con đường đúng, bước đi phù hợp, tránh

3

giàu có và tự do, “Liên Xô hùng mạnh thế mà còn thất bại, Việt Nam liệu có
xây dựng được CNXH không?”, rằng Việt Nam ta “miệng nói CNXH nhưng
thực ra đang phát triển CNTB”, “đỏ vỏ xanh lòng” 2, … Vì vậy, nghiên cứu
làm rõ những nguyên nhân, những bài học kinh nghiệm rút ra từ sự sụp đổ mô
hình CNXH hiện thực ơ Liên Xô và Đông Âu cũng như làm sáng tỏ sự vận
dụng sáng tạo của Đảng ta về xác định mô hình xây dựng CNXH là vấn đề có
ý nghĩa to lớn cả lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta
hiện nay.

Nguyễn Phú Trọng (cb): Về định hướng XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 11.
2


4

NỘI DUNG
1. Sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu
a. Nguyên nhân của sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu
Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên trên thế giới với
hơn 70 năm xây dựng và lớn mạnh. Trong thời điểm khó khăn nhất của lịch
sử, dù là can thiệp vũ trang của chủ nghĩa đế quốc, sự bao vây kinh tế, sự tấn
công trực tiếp của chủ nghĩa phát xít, hay chiến tranh thế giới... không những
không làm cho Liên Xô tan rã mà còn lớn mạnh hơn. Liên Xô từ một nước
kinh tế, văn hoá lạc hậu, sức mạnh quân sự chưa phát triển, đã trơ thành
cường quốc về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự, đồng thời là trụ cột của hệ
thống xã hội chủ nghĩa, đối trọng với Mỹ và chủ nghĩa đế quốc. Những thành
tựu đó của Liên Xô là không thể phủ nhận được.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo hệ thống
chính trị của CNXH và là một bộ phận của hệ thống đó. Từ chỗ chưa có chính
quyền đến có chính quyền là một bước ngoặt căn bản của cách mạng, là một
bước phát triển về chất trong sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Đảng là
đội tiên phong giác ngộ có tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp, được trang bị lý
luận chủ nghĩa xã hội khoa học, do đó trong hệ thống chính trị chỉ có Đảng mới
đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo. Lênin viết:
“Chủ nghĩa Mác giáo dục đảng công nhân, là giáo dục đội tiên phong của giai
cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến
lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một chế độ mới, đủ sức làm
thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động và
những người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của họ, mà không cần
đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản”3; “Về nguyên tắc, Đảng cộng
sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa”4. Đảng
phải lãnh đạo xây dựng và phát huy vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản
trong xây dựng xã hội mới; Đảng phải phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ
cán bộ, đảng viên. Đảng là hạt nhân lãnh đạo, song chuyên chính vô sản không
thể được thực hiện chỉ bằng lực lượng của Đảng mà còn phải nhờ ơ những tổ
chức chính trị xã hội, đặc biệt là Đảng phải chăm lo đến lợi ích và phát huy
quyền làm chủ của quần chúng nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực. Trong hệ
thống chính trị của CNXH, Nhà nước là một bộ phận hợp thành rất quan trọng.
Nhà nước gắn liền với Đảng, với quần chúng nhân dân trên lĩnh vực quản lý xã
hội, quản lý kinh tế, là vũ khí mạnh mẽ thực hiện nhiệm vụ của hệ thống chính
trị. Như vậy, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm xây
3
4

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb tiến bộ, Mát-cơ-va, 1976, tập 33, tr.33.
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb tiến bộ, Mát-cơ-va, 1976, tập 33, tr.453.


pháp tích cực nhất để tước bỏ vũ khí lý luận của Đảng cộng sản Liên Xô”5.
Về thể chế kinh tế, không căn cứ vào tình hình mới để phát triển sáng
tạo lý luận Mác, chủ quan duy ý chí, muốn nhanh chóng có CNXH, nên đã
5

Sự phản bội của Goócbatrốp, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 21.


7

xoá bỏ các hình thức sơ hữu trung gian, ồ ạt công hữu hoá trong khi trình độ
của lực lượng sản xuất còn thấp chưa phát triển, đây là sai lầm đi trái quy luật:
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất, kiến trúc
thượng tầng phải phù hợp với cơ sơ hạ tầng. Trong quản lý kinh tế duy trì chế độ
tập trung bao cấp quá lâu, phân phối bình quân... Bước vào thời kỳ cải tổ lại ồ ạt
tư nhân hoá tràn lan, chủ yếu thực hiện chính sách “500 ngày” tăng tốc phát triển
kinh tế nhưng lại không có cơ chế quản lý phù hợp dẫn đến thất bại sau đó lại
chuyển sang cải tổ chính trị.
Về chính trị- xã hội, đã xử lý các mối quan hệ giữa các thành tố trong
hệ thống chính trị chưa đúng đắn, Đảng lãnh đạo nhưng lại bao biện làm thay,
“Đảng trị”, quan chức nhà nước thì quan liêu tham nhũng... Quyền làm chủ
của nhân dân lao động bị vi phạm, tạo ra rối ren trong xã hội thông qua việc
cấm rượu... Chính sách dân tộc, tôn giáo xử lý không đúng theo nguyên tắc
của chủ nghĩa Mác- Lênin. Công tác tổ chức cán bộ, việc đào tạo, sử dụng tuỳ
tiện, giáo dục, bồi dưỡng cán bộ lúc tả khuynh lúc hữu khuynh.
Đó chính là giải quyết không đúng đắn mối quan hệ giữa cải cách kinh tế
và cải cách chính trị. Khi cải cách kinh tế thì phiêu lưu mạo hiểm trong chính
sách, bước đi và biện pháp cải tổ. Chuyển sang cải tổ chính trị không dựa trên
thực trạng kinh tế, tiến hành “dân chủ công khai” một cách mơ hồ, mơ đường
cho các thế lực phản động tấn công vào Đảng, vào chủ nghĩa xã hội, kích động,

nâng cao chất lượng đảng viên, đó là việc làm cần thiết để nâng cao sức chiến
đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Đồng thời “Phải đuổi ra khỏi Đảng
những kẻ gian xảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hoá, không trung
thực, nhu nhược...”7. Như vậy, muốn làm cho đội ngũ của Đảng luôn luôn
trong sạch, có đủ năng lực lãnh đạo, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân, một mặt kết nạp những chiến sĩ ưu tú, đồng thời phải kiên quyết
đưa ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội, thoái hoá biến chất.
Nhưng Đảng cộng sản Liên Xô trong thời gian dài đã không thực hiện
nguyên tắc này, biểu hiện: nạn cửa quyền hách dịch với quần chúng nhân dân
không nắm được nguyện vọng của dân, không tôn trọng ý kiến nhân dân,
chuyên quyền, độc đoán cá nhân, xa rời quần chúng nhân dân. Cán bộ lãnh
đạo tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi ơ mức độ khác nhau. Đảng cộng sản Liên
Xô đã mất đi hình ảnh của những người cộng sản chí công vô tư suốt đời phục
vụ nhân dân, vào giờ phút lâm nguy quần chúng nhân dân cũng không chia sẻ
với khó khăn của Đảng. Trái lại, với khẩu hiệu “cải tổ để đem lại cuộc sống
cho nhân dân” thì uy tín của Yeltsin trong quần chúng nhân dân lên cao với
chiêu bài: kiên quyết chống đặc quyền, đặc lợi... Phái đối địch nắm lấy điểm
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb tiến bộ, Mát-cơ-va, 1979, tập 8, Tr.288 - tr. 289.
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb tiến bộ, Mát-cơ-va, 1978, tập 44, Tr.154.

6
7


9

này để kích động, cổ vũ quần chúng chống đối Đảng cộng sản và chính quyền
các cấp ơ Liên Xô, đẩy quần chúng đối trọng với chính quyền.
Thứ tư, nguyên tắc tập trung dân chủ trong đảng bị phá hoại
Theo Mác và Ăngghen tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb tiến bộ, Mát-cơ-va, 1979, tập 8, tr.424.


10

Nhưng Đảng cộng sản Liên Xô trong thời gian dài đã không thực hiện
nguyên tắc này, biểu hiện: vấn đề nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng
Cộng sản Liên Xô bị phá hoại làm cho đảng mất khả năng lãnh đạo, mà ngay
cả mâu thuẫn trong đảng cũng không giải quyết nổi. Tệ sùng bái cá nhân, độc
đoán chuyên quyền, từ những năm 1930 đã phá hoại pháp chế dân chủ làm
tổn thương nghiêm trọng hình ảnh của CNXH. Từ Đại hội lần thứ XX của
Đảng Cộng sản Liên Xô trơ đi, không ngừng phê phán Stalin, mặc dù vậy
đảng vẫn không thực sự rút ra bài học đó. Goócbatrốp nói dân chủ, nhưng
thực tế là trong Đảng lại thiếu dân chủ, nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến
vận mệnh đất nước đều không thông qua tập thể bàn bạc và quyết định:
“Goócbatrốp thanh trừng hàng loạt trong Đảng... trong 4 năm (1986- 1989)
thay thế 80- 90% các bí thư huyện uỷ, thành uỷ, tỉnh uỷ, khu uỷ...trong khi đó
một nửa các bí thư mới thậm chí không được bầu mà chỉ định bổ sung” 10, “Từ
bỏ điều 6 của hiến pháp, chuyển từ nguyên tắc xây dựng Đảng thống nhất
sang liên minh tự nguyện của các Đảng của các nước cộng hoà... tước bỏ đi
nguyên tắc lãnh đạo và xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng”11.
Thời kỳ xảy ra khủng hoảng ơ Liên Xô và Đông Âu, người ta đã tiến
hành điều tra xã hội học về đảng: “Đảng Cộng sản Liên Xô đại biểu cho ai”.
Kết quả cho thấy: Đảng Cộng sản Liên Xô đại biểu cho toàn thể nhân dân lao
động chỉ chiếm 7%, đại biểu cho công nhân chỉ chiếm 4%, đại biểu cho toàn
thể đảng viên cũng chỉ chiếm 11%, còn cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô đại
biểu cho giới quan chức của đảng, đại biểu cho cán bộ, đại biểu cho nhân viên
công tác ơ các cơ quan chiếm 85%. Xem xét thực tế sau khi Liên Xô sụp đổ,
“tầng lớp quý tộc mới” của Nga hiện nay phần lớn không phải là những người
bất đồng chính kiến, mà là quan chức các cấp trong Đảng Cộng sản Liên Xô

sáng tạo không bao giờ cạn của quần chúng. Sức mạnh vô địch của Đảng là
ơ mối liên hệ với nhân dân, cũng như sức mạnh dời non lấp biển của nhân
dân bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng. Lênin viết: “Để không trơ thành
đảng của quần chúng chỉ trên lời nói, chúng ta phải thu hút quần chúng ngày
càng rộng rãi tham gia vào tất cả những công việc của đảng” 12.
Thực tiễn đã chứng minh: mối liên hệ với quần chúng là quy luật tồn
tại, phát triển và hoạt động của Đảng cộng sản, là nguồn gốc sức mạnh của
Đảng, là bảo đảm cho sự thành công của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, nếu
không liên hệ với quần chúng thì Đảng không là cái gì hết. Lênin viết: “Đội
tiền phong chỉ làm tròn được sứ mệnh của nó khi nó biết gắn bó với quần
chúng mà nó lãnh đạo và thực sự dẫn dắt toàn thể quần chúng tiến lên. Nếu
không liên minh với những người không phải là đảng viên cộng sản trong các
lĩnh vực hoạt động hết sức khác nhau, thì không thể nói tới một thành công
nào trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản cả” 13. Củng cố mối liên hệ
này là vấn đề thuộc bản chất của Đảng cộng sản, thiếu điều kiện này không
những không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mà còn có thể dẫn
12

. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb tiến bộ, Mát-cơ-va, 1979, tập 8, tr.106
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb tiến bộ, Mát-cơ-va, 1978, tập 45, tr.28

13


12

đến nguy cơ mất chính quyền. Trong giai đoạn Đảng lãnh đạo chính quyền
xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề củng cố và tăng cường mối liên hệ giữa
Đảng và nhân dân càng trơ nên cấp bách và quan trọng hơn bao giờ hết. Vì
bước vào cách mạng xã hội chủ nghĩa là bước vào một cuộc cách mạng sâu

. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb tiến bộ, Mát-cơ-va, 1978, tập 44, tr.426

15


13

còn phù hợp, nó tất yếu sẽ bị thay thế bơi chế độ sơ hữu công cộng về tư liệu
sản xuất, từ đó tạo nên mối đoàn kết giữa các dân tộc. Đúng như Lênin khẳng
định: “Sự phát triển của trao đổi quốc tế và của nền sản xuất cho thị trường
toàn thế giới đã tạo ra một mối quan hệ hết sức chặt chẽ giữa tất cả các dân tộc
trong thế giới văn minh, khiến cho phong trào công nhân hiện đại phải trơ
thành và từ lâu đã trơ thành một phong trào quốc tế”16. Người nhấn mạnh: “Chỉ
có người vô sản mới có khả năng xoá bỏ sự cách biệt giữa các dân tộc, chỉ có
giai cấp vô sản giác ngộ mới xây dựng được tình anh em giữa các dân tộc khác
nhau”17. Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là bản chất của Đảng cộng
sản. Tính quốc tế của Đảng thể hiện trước hết ơ chỗ Đảng được tổ chức và
hoạt động theo những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin; Đảng định ra
đường lối, chiến lược, sách lược đối nội và đối ngoại; quan tâm giáo dục đội
ngũ đảng viên và quần chúng lao động về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công
nhân và “Liên minh với những người cách mạng trong các nước tiên tiến và
với tất cả các dân tộc bị áp bức chống bọn đế quốc chủ nghĩa thuộc bất cứ loại
nào, đó là chính sách đối ngoại của giai cấp vô sản”18.
Nhưng Đảng cộng sản Liên Xô trong thời gian dài đã không thực hiện
nguyên tắc này biểu hiện: ngay trong Đảng đã từ bỏ chủ nghĩa yêu nước chân
chính gắn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đảng cộng sản Liên xô đã mắc
phải chủ nghĩa sôvanh nước lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, phủ nhận chủ
nghĩa Mác- Lênin về đoàn kết quốc tế.
Thứ bảy, do sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn
diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, thực hiện được “diễn biến hòa bình” trong

dân, kết hợp với thâm nhập kinh tế, văn hóa để đẩy nhanh sự chệch hướng.
Trong cuốn sách “Chiến thắng không cần chiến tranh”, Tổng thống Mĩ
Níchxơn cho rằng “mặt trận tư tương là mặt trận quyết định nhất”. Ông ta viết:
“Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp định mậu dịch, viện trợ kinh tế sẽ
không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tương”. Chiến lược của
Mĩ trước sau như một là đưa bất ổn vào bên trong “bức màn sắt”.
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản trên dẫn đến sự sụp đổ mô hình
chủ nghĩa xã hôi ơ Liên Xô và Đông Âu. Suy cho đến cùng, đó chính là do
xác định sai mô hình, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chủ
quan, duy ý chí, nóng vội trong xây dựng CNXH.
b. Bài học rút ra từ sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu
Thứ nhất, kiên định với mục tiêu XHCN, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin
làm nền tảng tư tương cho mọi hành động.
Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ XIX, V.I.
Lênin bảo vệ và phát triển thành chủ nghĩa Mác – Lênin vào đầu thế kỷ XX. Một
thế kỷ đã trôi qua, lịch sử với biết bao biến cố trong đời sống xã hội, với biết bao
thành tựu khoa học mới đã ra đời. Nhưng không một thế lực nào có thể xuyên tạc
hoặc phủ nhận học thuyết khoa học và cách mạng này. Một trong những nguyên


15

nhân cơ bản dẫn đến sự sụp đổ Liên Xô và Đông Âu chính là từ bỏ nguyên tắc này
– nguyên tắc lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tương cho hành động,
công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ từng hứa hẹn, từ
bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản...
Thực tiễn thành công của công cuộc cải cách, đổi mới ơ các nước XHCN
còn lại như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba... đó chính là vẫn kiên trì với chủ
nghĩa Mác – Lênin, trên cơ sơ vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào


17

nước mục tiêu độc lập dân tộc đang là ưu tiên số một như nước ta. Tinh thần
quốc tế vô sản và sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của các nước XHCN anh em đối
với phong trào giải phóng dân tộc ơ các nước thuộc địa và phụ thuộc đã góp phần
vào sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Sự ra đời và tồn tại của hệ thống
XHCN cũng đã tạo nên đối trọng buộc chủ nghĩa tư bản phải điều chỉnh sự thống
trị. Song mô hình ấy tồn tại quá lâu, nảy sinh những khiếm khuyết trong khi
không có sự điều chỉnh kịp thời, thêm vào đó sự chống phá quyết liệt của kẻ thù
trên mọi lĩnh vực làm cho CNXH rơi vào khủng hoảng.
Cụ thể, sau thắng lợi lịch sử mùa Xuân 1975, cả nước bắt tay vào công
cuộc xây dựng CNXH. Mô hình mà chúng ta xây dựng trong thời kỳ này là theo
kiểu Liên Xô. Theo đó, chúng ta đã đối lập giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa
tư bản theo tinh thần phủ định hoàn toàn chủ nghĩa tư bản. Trong lĩnh vực kinh
tế, đã coi kinh tế tập trung bao cấp là một đặc trưng của kinh tế xã hội chủ nghĩa
nên đã coi nhẹ hoặc phủ nhận sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị, có thành kiến
với kinh tế thị trường do đồng nhất giữa kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản.
Đặc biệt, trong nhận thức về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ
sản xuất đã có nhiều vi phạm những quy luật khách quan như: cường điệu hóa
vai trò của chế độ công hữu, đối lập giữa sơ hữu tư nhân với chủ nghĩa xã hội,
muốn nhanh chóng xóa bỏ bóc lột, nhấn mạnh một chiều nhiệm vụ cải tạo quan
hệ sản xuất mà coi nhẹ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất. Trong lĩnh vực
chính trị do đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản nên đã không
thừa nhận tính chất pháp quyền của nhà nước XHCN, không thấy đầy đủ yêu cầu
phát huy dân chủ XHCN trong xây dựng xã hội mới....
Nhưng khuyết điểm và hạn chế đã được Đảng ta rút ra và phân tích một
cách thấu đáo từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI để từ đó tìm ra một mô
hình mới với những đặc trưng phù hợp. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng (năm 1986) đánh dấu bước đổi mới toàn diện đất nước, trong đó

từng bước đổi mới chính trị và các lĩnh vực khác. Tránh khỏi bài học sai lầm
tư Liên Xô và Đông Âu chính là quá nóng vội, chủ quan duy ý chí trong việc
xác định cải tổ trước đây.
Về kinh tế, Đảng ta chủ trương xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung
quan liêu bao cấp, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước; lấy công nghiệp hóa làm nhiệm
vụ trọng tâm, nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; thiết lập nhiều hình thức phân
phối nhưng phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; hoạt động
kinh tế khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo công bằng xã hội.
Bên cạnh kinh tế Đảng ta cũng chủ trương từng bước đổi mới chính trị
mà bắt đầu bằng đổi mới vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước, phát huy mặt


19

tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường; phát huy vai trò của Mặt
trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc phản biện và giám sát xã hội;
phát huy dân chủ trong Đảng, cơ quan Nhà nước và trong toàn bộ xã hội bằng
việc ban hành quy chế dân chủ cơ sơ. Đồng thời, Đảng ta cũng đã đổi mới về
quan hệ quốc tế: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước vì độc lập, hòa
bình và phát triển.
Qua các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996), IX
(năm 2000), đặc biệt lần thứ X (năm 2006) và XI (năm 2011), Đảng ta tiếp
tục bổ sung, hoàn thiện nhận thức về mô hình xây dựng CNXH ơ nước ta.
Tại Đại hội X, Đảng ta xác định: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân
dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người
được giải phòng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh


ngừng được nâng cao. Những thành tựu to lớn đó chứng tỏ đường lối đổi mới
của ta là đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Cũng trong hơn 25 đổi mới đó, chúng ta càng thấy rõ những giá trị
định hướng của Cương lĩnh năm 1991, đồng thời cũng thấy rõ những vấn đề
mới đặt ra cần phải được bổ sung, phát triển, trong đó có nhận thức về mô
hình CNXH. Tại Đại hội XI, Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011), gọi tắt là Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng ta xác định
xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Do nhân dân làm chủ; Có nền
kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản
xuất tiến bộ phù hợp; Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện; Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp nhau cùng phát triển; Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; Có quan hệ
hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”21.
Các đặc trưng trên là một thể thống nhất có quan hệ biện chứng, tác
động, thúc đẩy lẫn nhau tạo thành mô hình CNXH mà nhân dân ta xây dựng,
đồng thời, mô hình đó thể hiện rõ về bản chất của chế độ XHCN ơ nước ta
hiện nay. Đồng thời, ta có thể nhận thấy cách diễn đạt những đặc trưng mô
hình CNXH theo Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 vừa kế thừa
Cương lĩnh năm 1991 vừa dựa trên những nhận thức mới ơ các Văn kiện Đại
hội VIII, IX và đặc biệt là Văn kiện Đại hội X, đồng thời có sự bổ sung phát
triển hơn. Cụ thể là:
Ở đặc trưng thứ nhất, xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã
hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". So với Đại hội X
cụm từ "dân chủ" được đặt trước cụm từ "công bằng". Diễn đạt như vậy là chặt
chẽ, vì dân chủ là điều kiện, tiền đề tạo ra sự công bằng, và qua đó, cũng nhấn

phúc, có điều kiện phát triển toàn diện". So với Đại hội X, Cương lĩnh bổ
sung, phát triển năm 2011 bỏ cụm từ "được giải phóng khỏi áp bức, bất
công". Diễn đạt như vậy là chặt chẽ hơn để tránh chủ quan duy ý chí, bơi các
hiện tượng áp bức, bất công, tuy không phải là bản chất của CNXH nhưng
cũng không dễ gì bị triệt tiêu hoàn toàn được.
Ở đặc trưng thứ bảy, "Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo". So với Đại
hội X, Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã sửa cụm từ "dưới sự lãnh
đạo của Đảng" thành "do Đảng Cộng sản lãnh đạo" cho là chặt chẽ và chính
xác hơn.
b. Một số vấn đề rút ra trong nhận thức và hành động của chúng ta


23

Chúng ta xây dựng CNXH trong đó chú trọng vào nhiệm vụ nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân, đặc biệt quan tâm đến lớp
người nghèo khó nhất trong xã hội. Vì thế mô hình về xây dựng CNXH mới
có những phác họa qua các thời kỳ như đã nêu.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền độc lập dân tộc và sự phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta luôn đứng trước thách thức của
hàng loạt những nguy cơ rất tiềm tàng và đa dạng. Những nguy cơ đó vừa
mang tính truyền thống vừa phi truyền thống với những dạng thức mới, không
chỉ xuất hiện từ những diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, mà còn
nảy sinh chính từ trong quá trình phát triển của đất nước. Hiểm hoạ bên ngoài
và nguy cơ bên trong luôn tương tác với nhau và trong nhiều trường hợp
chuyển hoá lẫn nhau một cách rất phức tạp, nhạy cảm.
Một là, phải xác định rõ định hướng XHCN, những tiêu chí phân biệt chủ
nghĩa xã hội với thời kỳ quá độ lên CNXH. Hiện nay CNXH là chế độ vẫn còn
non trẻ, chúng ta đang từng bước hình thành và xây dựng chế độ đó chứ chưa có

đó, phải đề luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng làm thất bại chiến lược “Diễn biến hoà
bình” của chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chế độ xã
hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia. Trong phòng, chống
“Diễn biến hoà bình”, cần quán triệt Nghị quyết TƯ 4, khoá XI “Một số vấn đề cấp
bách về xây dựng Đảng hiện nay”, chú trọng đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn và nâng
cao năng lực lãnh đạo của Đảng, phát huy hơn nữa dân chủ trong Đảng và xã hội,
tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và các tầng lớp nhân dân, kiên
quyết đẩy lùi sự suy thoái về tư tương chính trị, chống quan liêu, tham nhũng, lãng
phí; đồng thời chủ động và tích cực triển khai tốt chính sách dân tộc và tôn giáo, xoá
đói giảm nghèo, khắc phục khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, nhất là vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người.


25

KẾT LUẬN
Tóm lại, có thể thấy rằng nhận thức về chủ nghĩa xã hội không phải là
công tác thuần túy về lý luận. Trước sự sụp đổ CNXH ơ Liên Xô – Đông Âu,
xuất phát từ quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm thực tiễn, quan điểm phát
triển, Đảng ta đã phân tích một cách khách quan, khoa học các sự kiện đã xảy
ra, nhìn thẳng vào sự thật những gì đã làm được, cũng như chưa làm được,
vạch đúng nguyên nhân, tìm ra giải pháp khắc phục, sáng suốt đề ra và kiên
quyết thực hiện đường lối đổi mới, đổi mới có nguyên tắc, bắt đầu từ đổi mới
tư duy, đổi mới nhận thức lí luận về CNXH, đồng thời đổi mới nhận thức về
CNTB, để vừa không xa rời định hướng XHCN, lại vừa từ thực tiễn rút ra
những kết luận mới bổ sung cho lý luận CNXH.
Những đặc trưng về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng
được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển) năm 2011, chắc hẳn chưa phải là đầy đủ, sẽ
còn phải không ngừng được bổ sung, làm sáng tỏ thêm. Để con đường đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status