HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Viện Khoa học chính trị
TIỂU LUẬN
MÔN: CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
Quyền lực chính trị của nhân dân lao động
trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị
ở nước ta hiện nay
Nguyễn Thị Lan Anh
Cao học khóa VII
HÀ NỘI, THÁNG 3-2002
MỤC LỤC
1
Trang
I.
MỞ ĐẦU
1
Một số vấn đề chung về quyền lực, quyền lực chính trị, hệ
2
7
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2.3.
Hệ thống chính trị với tư cách là cơ chế bảo đảm quyền lực
9
chính trị của nhân dân lao động trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta
III.
Những giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm và tăng cường quyền
15
lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta hiện nay
3.1.
Tiếp tục đổi mới, tăng cường hệ thống chính trị
15
3.2.
Phát triển và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
21
bước nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Thực hiện quan điểm trong Cương lĩnh của Đảng, những năm qua
trong khi lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, chúng ta cũng đã từng bước
đổi mới hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của
Nhà nước, tính tích cực chủ động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức chính trị xã hội ngày càng được nâng cao, ý thức và quyền làm chủ
của nhân dân tham gia vào côg việc quản lý nhà nước ngày càng phát triển
và mở rộng. Nhờ vậy, nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chính trị ổn định,
đời sống của nhân dân được cải thiện từng bước.
Trong khi khẳng định những bước tiến đó, chúng ta cũng thấy rằng
so với yêu cầu thực tiễn, sự lãnh đạo của Đảng chưa được nâng cao đúng
mức; tổ chức và hoạt động của Nhà nước còn quan liêu, cồng kềnh, kém
hiệu quả; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn kém năng
động, đội ngũ cán bộ đoàn thể vẫn chưa khắc phục được tình trạng "công
chức hóa". Nghiêm trọng hơn là một bộ phận cán bộ trong hệ thống chính
trị thoái hóa về phẩm chất đạo đức cách mạng; một bộ phận đuối về năng
lực, trong khi cả thời cơ lẫn thách thức lớn đang đặt ra trước hệ thống chính
trị nước ta những vấn đề cấp bách cần giải quyết. Những yếu kém trên đây
đã dẫn tới tình trạng quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi bị vi phạm
nghiêm trọng. Chỉ bằng cách tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị mới có thể
nâng cao quyền làm chủ của nhân dân, với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của quá trình đổi mới theo định hướng XHCN.
Xuất phát từ lý do trên, tiểu luận đi sâu tìm hiểu vấn đề quyền lực
chính trị của nhân dân lao động trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị,
3
từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm quyền lực chính trị của
nhân dân lao động ở nước ta hiện nay.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN LỰC, QUYỀN LỰC CHÍNH
Ở Việt Nam gần đây, cùng với sự ra đời của môn chính trị học,
phạm trù quyền lực, quyền lực chính trị đã được đặt ra và có những lý giải
bước đầu.
Với ý nghĩa chung nhất, quyền lực là cái mà nhờ đó người khác
phải phục tùng. Trong ý nghĩa như vậy, quyền lực ra đời và tồn tại cùng với
sự ra đời và tồn tại của con người. Bởi vì, hoạt động phối hợp, hoạt động
chung mang tính cộng đồng là cái vốn có trong hoạt động của con người.
Bất kỳ hoạt động chung nào cũng cần có người tổ chức, người chỉ huy và
kẻ phục tùng - Cái vốn tạo thành nội dung sơ khai cũng như nội dung hiện
đại của phạm trù quyền lực.
1.1.2. Quyền lực chính trị
Trong xã hội, có vô vàn quyền lực khác nhau, trong đó quyền lực
chính trị chỉ ra đời khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước. Xã hội ngày
càng phát triển, quyền lực chính trị ngày càng phong phú, phức tạp và tác
động sâu sắc đến đời sống của mỗi con người và cộng đồng người.
Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay của liên minh
giai cấp, tập đoàn xã hội (hoặc của nhân dân - trong điều kiện CNXH), nó
nói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình.
Mác - Ăngghen đã chỉ ra rằng: "Quyền lực chính trị theo nguyên
nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác"(1).
Là một bộ phận quyền lực trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính
trị bao giờ cũng mang tính giai cấp. Nó luôn mang tính thống nhất về cơ
bản trong sự biểu hiện ra bên ngoài của mình: Trong quan hệ nội bộ của
giai cấp hay liên minh giai cấp, quyền lực chính trị có thể chứa đựng những
mâu thuẫn, thậm chí cả những đối kháng. Quyền lực chính trị của giai cấp
cầm quyền được tổ chức thành nhà nước. Do vậy xét về bản chất, quyền
lực nhà nước là quyền lực của giai cấp thống trị. Nó được thực hiện bằng
(
1) Mác - Ăngghen, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 628.
Văn kiện Đại hội Đảng khóa VII. Đến nay khái niệm này đang được sử
6
dụng rộng rãi. Tuy nhiên hiện nay, có một số quan niệm khác nhau về "hệ
thống chính trị".
Quan niệm thứ nhất: Xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ
chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền, hoặc là phục
vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó. Với cách hiểu như vậy, "hệ
thống chính trị" chỉ là cách gọi khác của phạm trù "hệ thống chuyên chính
của giai cấp cầm quyền". Đó là những phạm trù đồng nhất - xét về ngoại
diên và nội hàm của chúng. Hệ thống chính trị trong CNTB chính là hệ
thống chuyên chính tư sản. Hệ thống chính trị trong CNXH là hệ thống
chuyên chính vô sản.
Quan niệm thứ hai: Xem hệ thống chính trị là một phạm trù có
ngoại diên rộng hơn so với phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp
cầm quyền. Trong hệ thống chính trị, ngoài hệ thống chuyên chính của giai
cấp cầm quyền với tư cách là bộ phận cơ bản, quan trọng nhất, quy định
bản chất và chức năng cơ bản của toàn bộ hệ thống, còn có các tổ chức, các
thiết chế chính trị hợp pháp khác.
Phù hợp với quan điểm này, hệ thống chính trị được hiểu là một
phạm trù dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm nhà nước, các đảng phái
chính trị hợp pháp, những ưu thế cơ bản và vai trò chủ đạo thuộc về các
thiết chế của giai cấp cầm quyền để tác động vào các quá trình kinh tế - xã
hội nhằm củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời. Như vậy, ta
có thể hiểu:
- Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã
hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có mục đích và chức
năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra vai trò
to lớn của quần chúng nhân dân: Họ là người sản xuất ra của cải vật chất,
sáng tạo ra những giá trị tinh thần, quần chúng nhân dân là lực lượng cơ
bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
8
Xuất phát từ lý luận trên, tổng kết kinh nghiệm cách mạng nước ta,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: "Trong toàn bộ hoạt động của
mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc". "Mọi chủ trương,
chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng
của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của
quần chúng"(1).
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, quyền lực chính trị của
nhân dân lao động là khả năng nhân dân lao động nhằm thực hiện lợi ích
khách quan của mình, đồng thời đem lại lợi ích cần thiết cho các giai cấp
và tầng lớp khác. Quyền lực chính trị của nhân dân lao động là một dạng
quyền lực đặc biệt chỉ được xác lập trong CNXH, khẳng định vai trò quyết
định của nhân dân lao động trong quản lý xã hội, khẳng định nhân dân là
chủ thể của quyền lực nhà nước và tất cả các quyền lực khác thuộc về nhân
dân. Nhân dân là người tổ chức và trực tiếp quản lý nhà nước. Nhân dân
lao động là chủ thể của quyền lực, cũng có nghĩa nhân dân là người thực
hiện quyền lực. Nhưng trên thực tế, quyền lực chính trị của nhân dân lao
động rất rộng, nên chính bản thân họ không thể thường xuyên và trực tiếp
thực hiện quyền lực của mình. Do vậy quyền lực chính trị của nhân dân lao
động phải có hình thức thực hiện đa dạng, thích hợp, phải có những cơ
quan nhất định hoạt động thường xuyên, đại diện để nhân dân thực hiện có
hiệu quả quyền lực của mình.
2.2. Nội dung quyền lực chính trị của nhân dân lao động trong
là quyền giám sát các hoạt động của Nhà nước và hệ thống chính trị.
Quyền lực chính trị của nhân dân trên lĩnh vực kinh tế đòi hỏi:
Một là, phải hoàn thiện thể chế kinh tế, đặt nền kinh tế dưới sự
kiểm soát của nhân dân, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân
dân.
Hai là, hình thành cơ chế kinh tế sao cho mọi người lao động đều
được tham gia vào sở hữu, quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ba là, kết hợp kế hoạch nghiêm ngặt của Nhà nước với việc phát
huy sáng kiến của doanh nghiệp, của người lao động.
Bốn là, thị trường phải là nơi cạnh tranh trên nguyên tắc giá trị, trên
cơ sở chất lượng để đảm bảo lợi ích người tiêu dùng.
10
Quyền lực chính trị trên lĩnh vực xã hội: Thể hiện ở việc bảo đảm
quyền công dân, quyền con người, quyền được bảo vệ về mặt xã hội của
công dân, khắc phục dần sự khác biệt giữa các tầng lớp xã hội, giữa các
vùng đất nước; từng bước giải phóng con người khỏi những quan hệ phi
nhân tính.
Quyền lực chính trị của nhân dân trên lĩnh vực tinh thần: Đòi hỏi sự
đa dạng hóa về ý kiến, về thế giới quan trong xã hội - Trên cơ sở giữ vững
định hướng XHCN, bảo đảm thế giới quan Mác - Lênin giữ vai trò chủ đạo.
Tùy theo những bước tiến đạt được trong quá trình đổi mới, nội
dung và mức độ quyền lực chính trị của nhân dân không ngừng được mở
rộng và ngày càng sâu sắc.
Quyền lực chính trị tự nó chỉ là một khả năng. Muốn có hiệu lực
trên thực tế phải qua bộ máy vận hành, hệ thống thiết chế, các mối quan hệ,
các nguyên tắc thể chế, các điều kiện... Gọi chung là cơ chế thực thi.
2.3. Hệ thống chính trị với tư cách là cơ chế bảo đảm quyền lực
quyền lực chính trị của nhân dân, Đảng ta ý thức rõ rằng trước hết phải tự
đổi mới về cả nội dung lãnh đạo, cả về công tác cán bộ, cả về tổ chức,
phương thức hoạt động, phong cách lãnh đạo.
Để giữ vững nguyên tắc: toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân,
Đảng ta ý thức rõ rằng phải giữ vững định hướng XHCN, xem đó là trọng
tâm trong công tác lãnh đạo của Đảng.
Muốn giữ định hướng XHCN, trước hết cần có đường lối đúng. Sau
khi đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước tại Đại hội VI của mình,
Đảng ta đã kịp thời sửa soạn và thông qua "Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH" và "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2000". Tiếp đó, các đại hội VII, VIII, IX đã xác định mục tiêu,
nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước...
Đó là những định hướng lớn về chính trị cho việc xây dựng, hoạch định
chủ trương chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
12
Trên cơ sở những định hướng lớn Đảng đã đề ra những chủ trương
cụ thể, chỉ rõ hướng đổi mới trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng
còn kịp thời để ra những nghị quyết, những chính sách... để giải quyết những
khâu quan trọng của từng lĩnh vực như: Các nghị quyết về phát triển nông
nghiệp, công nghiệp, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; các nghị quyết về văn
hóa - giáo dục, về an ninh - quốc phòng, về "chống diễn biến hòa bình".
Đặc biệt, Đảng đã ra những nghị quyết, chủ trương tăng cường đổi mới
sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; định hướng việc xây dựng
và hoạt động của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân như: Nghị quyết 8B
(khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng với nhân dân; Nghị quyết Trung ương ba khóa VII về đổi
mới chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết Trung ương tám khóa VII về tiếp tục xây
Những nỗ lực toàn diện đó đã góp phần hình thành đội ngũ cán bộ
của hệ thống chính trị có:
"- Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, con đường mà
Đảng, Bác Hồ và nhân dân lựa chọn; năng động sáng tạo, hăng hái thực
hiện đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước.
- Trình độ kiến thức và năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội
ngày càng được nâng cao.
- Số đông cán bộ giữ được đạo đức, phẩm chất cách mạng, lối sống
lành mạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân"(1).
Để nâng cao hiệu quả thực thi quyền lực chính trị của nhân dân,
Đảng tăng cường công tác giáo dục, thuyết phục và chú ý phát huy vai trò
gương mẫu của Đảng viên trong việc thực hiện quyền lực đó của nhân dân.
Trên cơ sở nhận thức rằng năng lực thực hiện quyền lực chính trị của nhân
dân ngay trong chủ thể của quyền lực đó không tự nhiên mà có (về cơ bản,
nó được hình thành qua công tác giáo dục chính trị tư tưởng dưới sự lãnh
đạo của Đảng), thời gian qua, thông qua các đợt sinh hoạt chính trị, những
cuộc trao đổi thảo luận tập thể, dân chủ, thẳng thắn, những cuộc tiếp xúc
giữa đảng viên với quần chúng... mà nhận thức của quần chúng về vấn đề
này ngày càng được sáng tỏ. Nhờ vậy, quần chúng đã đóng góp cho Đảng
(
1) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1996, tr. 67.
14
và Nhà nước nhiều ý kiến quý báu góp phần làm cho chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng hoàn thiện.
Đối với một số người có ý kiến trái với quan điểm của Đảng, có xu
bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân theo luật định; nghiêm trị
những hành vi tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của công dân.
Như vậy thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động thông
qua nhà nước là khâu hết sức quan trọng. Xét đến cùng, quyền lực chính trị
của nhân dân lao động nước ta được hợp pháp hóa bằng nhà nước, và nhà
nước là công cụ hữu hiệu để thực hiện quyền lực của nhân dân. Với đặc
điểm về cơ cấu tổ chức, nhà nước có tác động rất lớn trên mọi phạm vi của
đời sống xã hội và các chủ thể quản lý. Nhà nước có sức mạnh tổ chức vật
chất, sức mạnh cưỡng chế, có đầy đủ phương tiện vật chất cần thiết để bảo
đảm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân. Do đó, phát huy đến mức
cao nhất tác dụng của cơ chế tổ chức và phương pháp, biện pháp tác động
riêng của Nhà nước, chủ yếu thông qua cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội
đồng nhân dân) do dân bầu ra là vấn đề cơ bản bảo đảm thực hiện quyền
lực chính trị của nhân dân.
Nhà nước ta là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện
quyền lực của nhân dân. Trong nhà nước đó, nhân dân là chủ thể của mọi
quyền lực. Các quyền mà nhà nước có được đều do dân ủy quyền.
Song do "bộ máy nhà nước ta chưa thật trong sạch, vững mạnh, tình
trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng" (1), nên trong một
số trường hợp đã diễn ra tình trạng dân ủy quyền rồi mất quyền. Từ chỗ bộ
máy nhà nước là công cụ của dân, viên chức là "công bộc", là "đầy tớ" của
dân, thì ở nơi này hay nơi khác đã biến thành gánh nặng của dân, cán bộ
nhà nước trở thành "ông quan" cách mạng nhũng nhiễu quần chúng.
Quyền lực chính trị của nhân dân lao động được thực hiện thông
qua nhà nước, bằng nhà nước. Nhưng cũng chính nhà nước lại có những
yếu tố có thể hạn chế quyền lực của nhân dân. Vì vậy, để quản lý nhà nước
(
1) Văn kiện Hội nghị TW - khoá VIII. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1997 tr 38.
kềnh, một bộ phận vẫn nằm trong tình trạng "nhà nước hóa", "hành chính
17
hóa" nên hiệu quả hoạt động chưa thật cao. Chính vì vậy, để đảm bảo cho
"nhân dân làm chủ" nhất thiết phải tăng cường và đổi mới hệ thống chính trị.
III. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM BẢO ĐẢM VÀ TĂNG CƯỜNG
QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1. Tiếp tục đổi mới, tăng cường hệ thống chính trị
3.1.1. Một số nguyên tắc cơ bản trong đổi mới hệ thống chính trị
Đổi mới hệ thống chính trị là giải pháp có tác động trực tiếp tới việc
nâng cao hiệu quả thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở
nước ta hiện nay. Đó là quá trình phát huy kết quả, khắc phục nhược điểm,
từng bước xác lập một tổng thể các quan hệ hợp lý giữa các yếu tố cấu
thành hệ thóng chính trị nhằm thực hiện tốt hơn chức năng là cơ chế thực
thi quyền làm chủ của nhân dân (trong đó có làm chủ về chính trị)
Khi đổi mới hệ thống chính trị, cần quán triệt những nguyên tắc sau:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị - nguyên
tắc quan trọng hàng đầu:
Là kết quả hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân, quyền lực chính trị của nhân dân chỉ có được
với điều kiện tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng Mác
xít Lê nin nít. Bởi vì, nhờ nắm vững hệ tư tưởng cách mạng và khoa học
của Chủ nghĩa Mác Lênin và đưa nó vào quần chúng, đảng đó mang lại cho
phong trào quần chúng tính tự giác cao trong quá trình xây dựng nền dân
chủ XHCN; thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục của mình mà đảng
góp phần quyết định nhất trong việc nâng cao trình độ giác ngộ chính trị,
trình độ văn hóa dân chủ, văn hóa pháp luật của nhân dân để họ có khả
đảm ổn định về chính trị là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định và phát triển
kinh tế - xã hội.
- Đảm bảo nguyên tắc nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua
dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Chế độ XHCN là chế độ nhân dân lao động làm chủ nhà nước và xã
hội, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Bảo đảm thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân đã trở thành nguyên tắc tổ chức, hoạt động
19
của hệ thống chính trị. Trong điều kiện đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta
hiện nay, nhân dân có quyền làm chủ nhà nước và xã hội thông qua dân chủ
đại diện và dân chủ trực tiếp. Những hình thức dân chủ ấy được thể chế
bằng luật pháp nhà nước và được thực thi bằng hệ thống chính trị, gọi là
chế độ dân chủ.
3.1.2. Nội dung phương hướng đổi mới hệ thống chính trị nhằm
mở rộng và phát huy quyền lực chính trị của nhân dân
Để mở rộng và tăng cường khả năng thực thi quyền lực chính trị của
nhân dân, việc đổi mới hệ thống chính trị được thực hiện đồng thời trên cả
hai phương diện: đổi mới các yếu tố cấu thành; đổi mới các mối quan hệ
qua lại giữa các yếu tố đo.
* Trước hết là đổi mới các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị
- Việc giữ vững và tăng cường quyền lực chính trị đòi hỏi phải giữ
vững sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị nói riêng, đối với
toàn xã hội nói chung.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, cần "tăng cường vai trò lãnh đạo
và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng"(1).
Từ kinh nghiệm lịch sử cho thấy quyền lãnh đạo của Đảng đối với hệ
thống chính trị và đối với toàn xã hội không tự nhiên mà có. Phải bằng sự
lấy liên minh công nông trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo.
Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội,
chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích Tổ quốc và nhân dân.
+ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phối hợp và phân công
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp.
+ Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; coi trọng tính tối cao của
pháp luật, đồng thời coi trọng việc giáo dục đạo đức trong quản lý xã hội.
Thể hiện và thực hiện đầy đủ những nội dung trên đây, nhà nước
XHCN của dân, do dân, vì dân sẽ thực sự là thiết chế chính trị có vai trò
tích cực trong quá trình thực thi quyền lực chính trị của nhân dân.
Yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước và mở rộng quyền
lực chính trị của nhân dân trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải xem cải
cách một bước nền hành chính quốc gia là một nhiệm vụ trọng điểm.
21
Trong cải cách nền hành chính nhà nước, phải tiến hành đồng bộ - từ
cải cách thể chế hành chính đến cải cách tổ chức bộ máy và công tác cán
bộ, công chức hành chính.
Đề cập tới vấn đề này, Hội nghị lần thứ 3 BCH TW khóa VIII đã chỉ
rõ: Một là, Chính phủ và bộ máy hành chính nhà nước thống nhất quản lý
việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc
phòng; hai là, phân định trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính
quyền; ba là, Tăng cường tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra; bốn là,
Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực.
- Để phát huy vai trò của hệ thống chính trị trong việc bảo đảm
quyền lực chính trị của nhân dân ở giai đoạn hiện nay, cùng với việc đổi
mới Đảng và nhà nước như đã nêu trên, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
tổ chức này vào thế bị động. Trái lại, việc phát huy quyền lực chính trị của
nhân dân thông qua tổ chức đại diện này cũng đòi hỏi thấy rõ tác động tích
cực trở lại của tổ chức đó đối với việc củng cố tăng cường vai trò lãnh đạo
của Đảng.
Trong việc đổi mới mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và Mặt trận,
các tổ chức chính trị - xã hội, điều quan trọng hiện nay là thể chế hóa đầy
đủ hơn nữa chức năng của các tổ chức đó và các cơ quan nhà nước có trách
nhiệm để những điều đã thể chế hóa được thực thi có hiệu quả. Mặt khác,
nhanh chóng khắc phục tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa tổ chức và
phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội.
Về lâu dài, cần ban hành luật về tổ chức và hoạt động của các tổ
chức chính trị - xã hội cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức đối với Đảng
và quần chúng ở các cấp. Đó là cơ sở pháp lý về quyền và nhiệm vụ của
các tổ chức chính trị xã hội trong việc sử dụng sức mạnh của nhà nước
nhằm bảo vệ lợi ích khách quan của mình và của hội viên. Từ đó, các tổ
chức này trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi quyền lực chính trị
của nhân dân, phát triển nền dân chủ XHCN.
Tóm lại: Để phát triển, hoàn thiện nền dân chủ XHCN, các bộ phận
hợp thành hệ thống chính trị phải vừa xác định đúng vị trí, chức năng
nhiệm vụ của mình, vừa thường xuyên đổi mới mối quan hệ qua lại giữa
23
các tổ chức cấu thành hệ thống chính trị, gắn liền với đổi mới kinh tế, xã
hội. Chỉ trên cơ sở đó, hệ thống chính trị mới vận hành thông suốt, có hiệu
lực, nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền lực chính trị của nhân dân.
3.2. Hoàn thiện và phát huy dân chủ XHCN
Dân chủ có nghĩa là: Dân là chủ, dân làm chủ mọi quyền lực xã hội
Dân chủ được thực hiện dưới hai hình thức cơ bản là: dân chủ trực
và hoạt động của hệ thống chính trị.
3.3. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lực kinh tế với quyền
lực chính trị của nhân dân
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, chính trị là biểu hiện
tập trung của kinh tế, do kinh tế quy định. Điều này có nghĩa xác lập quyền
lực của nhân dân trên lĩnh vực kinh tế (quyền lực kinh tế) là cốt vật chất để
phát huy quyền lực của nhân dân trên lĩnh vực chính trị (quyền lực chính
trị). Trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay, vấn đề này được thực hiện
thông qua việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị.
Trong thời gian trước mắt, để giải quyết mối quan hệ này, cần phải
sửa đổi và bổ sung các văn bản pháp luật điều chỉnh các mảng quan hệ xã
hội sau:
- Về quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất.
Sở hữu đố với tư liệu sản xuất là tiền đề của quyền lực kinh tế, làm
cho quyền lực kinh tế đóng vai trò là cơ sở vật chất của quyền lực chính trị
của nhân dân.
Từ cách hiểu như vậy, trong hệ thống các văn bản pháp luật về sở
hữu cần quán triệt nguyên tắc: mọi hình thức sở hữu cần được bảo vệ,
không cho phép các cơ quan quản lý nhà nước dùng biện pháp hành chính
làm cản trở quyền sở hữu. Trong trường hợp đặc biệt cần sự can thiệp của
nhà nước thì điều đó phải được quy định rõ trong luật; quy định rõ hệ thống
chế tài bảo vệ quyền sở hữu; đối xử bình đẳng với các hình thức sở hữu...
25