TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
=====000=====
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Đề tài:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
NƯỚC TẠI LÀNG LỤA VẠN PHÚC
Nhóm 19 – Lớp KTE404.3
1. Lê Phương Anh
2. Nguyễn Thị Hồng Giang
3. Đinh Thị Hồng Hạnh
4. Phạm Thế Hùng
5. Nguyễn Thị Nhung
6. Bùi Thị Thu
7. Lương Mạnh Thắng
8. Tạ Quốc Việt
Giảng viên hướng dẫn
1311110068
1311110166
1311110220
1311110273
1311110518
1311110656
1311110613
1311110772
ThS. Trần Minh Nguyệt
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
MỤC LỤC
I.
Các khái niệm:
1. Ô nhiễm môi trường nước:
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học
của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với
con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và
quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. Ô nhiễm
nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô
nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm.
2. Phân loại ô nhiễm môi trường nước
2.1. Ô nhiễm tự nhiên:
Là do mưa tan, lũ lụt, gió bão, … hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật,
kể cả xác chết của chúng gây nên. Lụt lội, mưa tan có thể gây ra ô nhiễm do nó có thể khuấy
động những chất dơ bẩn ở các cống, rãnh, chất thải độc hại ở các bãi rác, khu phế thải,… Khi
cây cối, sinh vật chết đi chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm
vào đất, sau đó ngấm vào mạch nước ngầm gây ra ô nhiễm. Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự
nhiên tuy có thể nghiêm trọng nhưng không diễn ra thường xuyên, và cũng không phải
nguyên nhân chính gây ra suy thoái chất lượng nước toàn cầu.
2.2. Ô nhiễm nhân tạo:
Là do quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh
hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước. Ô nhiễm nhân tạo có thể là
kết quả của các hoạt động sinh hoạt, đời sống hàng ngày của con người, có thể là do hoạt
động công nghiệp, nông và ngư nghiệp gây nên.
- Ô nhiễm từ sinh hoạt: Thực tế ở nhiều vùng, nước thải cũng như rác thải không được
xử lý một cách cẩn thận, gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước trầm trọng. Nước thải
sinh hoạt nếu không được xử lý sẽ quay trở lại vòng tuần hoàn của nước. Do đó bệnh
tật sẽ có điều kiện để lây lan và gây ra ô nhiễm môi trường. Nước thải không được xử
đến các hoạt động như khai thác khoáng sản, chế biến hợp kim cũng gây ra vấn đề ô
-
nhiễm nguồn nước.
Ô nhiễm từ hoạt động y tế: Chất thải từ các bệnh viện có thể là chất thải từ các phòng
phẫu thuật, phòng xét nghiệm, phòng thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt là, rửa
thực phẩm, bát đĩa…, cũng có thể là chất thải từ các hoạt động sinh hoạt của bệnh
nhân, người nuôi bệnh và những cán bộ công nhân viên làm việc trong bệnh viện.
Chất thải y tế rất nguy hiểm do nó có khả năng lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây
bệnh. Chất thải bệnh viện cũng chứa vô số loại vi trùng, virus và các mầm bệnh khác.
Tuy nguy hiểm như vậy song loại chất thải này lại không được nhiều cơ sở y tế quan
tâm, xử lý cẩn thận. Theo Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), Mức độ gia tăng
lượng nước thải y tế năm 2011 so với năm 2000 là hơn 20%. Hầu hết các bệnh viện
do Bộ Y tế quản lý đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên, tại
các bệnh viện thuộc sở y tế địa phương quản lý hay các bệnh viện thuộc ngành khác
quản lý, cũng như các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân nằm rải rác, phần lớn chưa có
hệ thống xử lý nước thải. Trong khi đó, nước ta có hơn 13.640 cơ sở y tế, khám chữa
4
bệnh. Mỗi ngày, các đơn vị này thải ra khoảng 120.000 m3 thải y tế, trong khi đó, chỉ
-
có 53,4% trong tổng số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải y tế.
Ô nhiễm từ hoạt động nông, ngư nghiệp: Trong hoạt động nông nghiệp, thuốc trừ sâu,
phân bón trong trồng trọt đều chứa các chất hóa học độc hại cho môi trường. Những
chất độc hại này sẽ ngấm vào nguồn nước va gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường
thư”.
5
II.
Phát triển làng nghề truyền thống tại Việt Nam và tác động của nó đến môi trường
sinh thái.
1. Sự phát triển làng nghề truyền thống tại Việt Nam.
Làng nghề truyền thống Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa
dân tộc và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước. Việc hình thành các làng
nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc
không phải là mùa vụ chính. Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã mang lại lợi ích to lớn
và thiết thực cho người dân. Có thể kể đến một số ví dụ như việc làm ra các đồ dùng bằng
mây, tre, lụa… phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từ chỗ chỉ
phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế cho người
dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Những sản phẩm từ các làng nghề không chỉ
là những vật phẩm sinh hoạt thông thường mà một số còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu
trưng của nền văn hoá xã hội, mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn
của dân tộc. Làng nghề là cả một môi trường văn hoá - kinh tế - xã hội và công nghệ truyền
thống lâu đời. Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kĩ thuật truyền từ đời này sang đời
khác, với những sản phẩm có bản sắc riêng của mình, nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả
dân tộc Việt Nam. Nước ta hiện nay có 1450 làng nghề phân bố tại 58 tỉnh và thành phố trong
cả nước. Sự phát triển của làng nghề truyền thống đã góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho
một số lượng lớn lao động. Các làng nghề ở Việt Nam hiện nay đang thu hút khoảng 11 triệu
lao động thường xuyên và không thường xuyên. Nó khắc phục được tình trạng thất nghiệp tạm
thời của người dân trong thời gian nông nhàn như nghề đan lát, nghề bó chổi, dệt chiếu…
Làng nghề truyền thống cũng đem lại nguồn thu nhập cao hơn là sản xuất nông nghiệp thuần
người dân địa phương. Đồng thời, nhận thức của người dân còn thấp, chưa có ý thức chung
trong việc bảo vệ môi trường đã dẫn đến tình trạng làng nghề ô nhiễm nặng.
III.
Làng lụa Vạn Phúc
Làng lụa Vạn Phúc, hay còn gọi là làng lụa Hà Đông, nằm bên bờ sông Nhuệ, thuộc
phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km. Nổi tiếng với nghề
dệt hơn ngàn năm tuổi, lụa Vạn Phúc làm say đắm du khách thập phương với nhiều mẫu hoa
văn độc đáo và lâu đời bậc nhất Việt Nam.
Tương truyền, khoảng 1.200 năm trước, bà Lã Thị Nga - vợ của tướng quân Cao Biền
nhà Đường theo chồng sang cai quản Giao Châu (tên gọi khi đó của Việt Nam). Trong thời
gian sống ở Vạn Phúc, bà đã dạy dân cách ươm tơ, dệt lụa. Để ghi nhớ công ơn của bà, dân
làng đã tôn bà làm Thành hoàng làng, thờ tại đình làng Vạn Phúc và lấy ngày 10/8 âm lịch
(ngày sinh của bà) và 25/12 âm lịch (ngày mất của bà) làm ngày tế lễ và giỗ tổ hàng năm.
Các sản phẩm của làng lụa Vạn Phúc đều là những tác phẩm nghệ thuật đạt đến độ hoàn
mỹ. Hàng lụa trơn thì mịn óng, mềm mại, nuột nà. Hàng dệt hoa thì mầu sắc khi óng ánh, khi
trang nhã, hoa văn khi chìm, khi nổi. Cũng vì lẽ đó mà lụa Vạn Phúc trước đây từng được chọn
làm chất liệu may quốc phục dưới triều nhà Nguyễn. Các sản phẩm của làng lụa Vạn Phúc rất
đa dạng về màu sắc, phong phú về chủng loại như gấm, lụa, the, sa, xuyến, băng quế, lĩnh,
7
đoạn, đũi, sa tanh, vải... Ngôi làng có tuổi nghề 1.000 năm này đã được công nhận là 'Làng
nghề dệt lụa tơ tằm lâu đời nhất còn duy trì hoạt động đến ngày nay'. Năm 2011, lụa Vạn Phúc
được phong tặng " thương hiệu vàng Thăng Long”. Tháng 11/2013, làng nghề lụa Vạn Phúc
cũng có tên trong danh sách 7 làng nghề truyền thống tiêu biểu của Hà Nội cần được bảo tồn.
Lần đầu tiên lụa Vạn Phúc có mặt trên thị trường quốc tế là tại hội chợ Marseilla (1931)
Ngày trước, các nghệ nhân của làng thường dùng thuốc nhuộm màu hoặc thuốc tẩy trắng từ
những nguyên liệu dân gian như thực vật, lá cây hay các loại hoa quả. Giờ đây người ta đã sử
dụng hóa chất cho việc này. Và đa số các sản phẩm hóa chất này đều là hàng không rõ nguồn
gốc, xuất xứ. Lượng nước thải sau sản xuất không được xử lý, đã thải trực tiếp ra hệ thống
cống rãnh và đổ thẳng xuống hồ ao, sông, ngòi gây ô nhiễm nghiêm trọng tầng nước mặt, mạch
nước ngầm.
II.
Quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ môi trường
Năm 2005, chính quyền địa phương triển khai chính sách quy hoạch đất đai thực hiện
dự án điểm thủ công nghiệp làng nghề, đưa các hộ gia đình tập trung vào một nơi để giải quyết
vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tiếng ồn, mở rộng quy mô sản xuất. Với tổng diện tích
13,5 ha khu sản xuất tập trung nằm biệt lập ở rìa làng này dự kiến sẽ được chia cho 22 hộ sản
xuất . Mỗi nhân khẩu sẽ được chia khoảng 10m. Theo quy hoạch, khu sản xuất này sẽ được
chia lô cho các hộ tự xây nhà xưởng và lắp đặt máy móc thiết bị. Sẽ có hai khu vực biệt lập
giành cho sản xuất và bán hàng. Ngôi làng cũ sẽ được cải tạo thành khu du lịch. Đây là chương
trình rất lớn của làng nghề với tổng số vốn đầu tư 60- 70 tỷ đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng.
9
Việc tách riêng khu sản xuất và khu sinh hoạt đã được triển khai. Tình hình ô nhiễm cũng đã
phần nào được cải thiện.
III.
Tổng kết quan điểm
Việc làng lụa Vạn Phúc tách riêng khu sản xuất và khu sinh hoạt đã giúp cho tình hình
nguồn nước sinh hoạt của các hộ. Tỷ lệ thuận với lượng hóa chất được sử dụng là lượng nước thải
được thải ra môi trường ở nơi đây. Lượng chất thải dùng trong các khâu dệt lụa, tẩy, nhuộm ở làng
lụa Vạn Phúc khá lớn. Ông Đỗ Văn Sinh - Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Vạn Phúc cho biết: Ở Vạn
Phúc có 22 cơ sở chuyên làm nghề nhuộm và tẩy rửa cho 700 cơ sở tham gia sản xuất lụa. Mỗi năm
cho ra đời khoảng 4.000 - 5.000 m lụa, tương đương khoảng 400 kg lụa. Cứ 10 kg lụa mất 300 gam
hóa chất nhuộm, 30 lít nước tẩy rửa. Mỗi năm, hàng trăm kg hóa chất và hàng nghìn lít nước tẩy rửa
cứ thế xả thẳng ra sông Nhuệ khiến nước ở khu vực này đã ngả sang màu đen đặc. Các loài sinh vật
như cây cối, tôm, cá trong sông đều khó có cơ hội sống sót bởi từ mặt nước đến đáy sông đều ở
mức ô nhiễm đáng báo động.
Bên cạnh hóa chất dùng để nhuộm còn có một tác nhân khác đóng góp vào nguyên nhân gây
ô nhiễm nghiêm trọng làng lụa Vạn Phúc chính là thành phần trong tơ tằm, bởi qua khâu tẩy thải ra
25% tạp chất. 1m lụa có trọng lượng 80g sẽ thải ra ngoài nước 20g tạp chất. Đáng báo động là môi
trường nước ở đây còn bị ô nhiễm bởi lượng nước tẩy nhuộm hàng nghìn mét vải lụa mỗi ngày thải
ra bởi các cụm dân cư. Lượng nước này không qua bất kì khâu xử lí nào và chảy trực tiếp ra hệ
thống cống rãnh khắp làng nghề.
11
12
CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC TẠI
LÀNG LỤA VẠN PHÚC
I. Mô hình biểu diễn mỗi quan hệ các yếu tố ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường nước tại làng
lụa Vạn Phúc
Để đo chất lượng môi trường nước tại làng lụa Vạn Phúc, nhóm chúng em lựa chọn tiêu chí
đánh giá là COD (Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa học) - lượng oxy cần thiết để oxy
hoá các hợp chất hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. Như vậy, COD là lượng oxy cần
để oxy hoá toàn bộ các chất hoá học trong nước. Qua nghiên cứu, nhóm trình bày tiểu luận xem xét
10087
99.7
2356
476
10147
100.6
2557
492
10229
105.6
2697
496
10501
115.5
2941
3869
541
11538
Mô hình với Y và X2, X3 và X4
160.6
4428
586
13
Đầu tiên chúng ta sẽ thiết lập mô hình với biến phụ thuộc là Y (COD) và biến độc lập là X 2
(lượng hóa chất nhuộm), X3 (sản lượng tơ tằm), X4 (số hộ dùng hóa chất)
Sử dụng phương pháp ước lượng bình quân nhỏ nhất OLS bằng Grelt cho bảng kết quả như
sau:
Model 2: OLS, using observations 1-10
Dependent variable: y
coefficient std. error
t-ratio p-value
-------------------------------------------------------const
8508.98
3.05149
-0.3212 0.7590
Mean dependent var 10655.10 S.D. dependent var 524.0618
Sum squared resid
R-squared
F(3, 6)
41939.55 S.E. of regression 83.60577
0.983033 Adjusted R-squared 0.974549
115.8728 P-value(F)
Log-likelihood
Schwarz criterion
0.000011
-55.89638 Akaike criterion
119.7928
121.0031 Hannan-Quinn
118.4650
Excluding the constant, p-value was highest for variable 4
(x3)
Sum squared resid 42660.69 S.E. of regression 78.06653
R-squared
0.982741 Adjusted R-squared 0.977810
F(2, 7)
199.2905 P-value(F)
6.75e-07
Log-likelihood
- 55.98163 Akaike criterion 117.9633
Schwarz criterion
118.8710 Hannan-Quinn
116.9674
Từ đó ta thiết lập được mô hình hồi quy mẫu sau:
Yi = 8154.36 + 14.0600X2i + 0.245519X3i + e
Trong đó:
-
B1 = 8154.36 : hệ số chặn
B2 = 14.0600: trong điều kiện tất cả các yếu tố khác không đổi, khi lượng hóa chất nhuộm
-
thêm 1 tấn thì COD của nguồn nước sẽ tăng 14.0600 mg/l.
B3 = 0.245519: Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi sản lượng tơ tằm tăng thêm 1
-
nghìn m2 thì COD của nước sẽ tăng 0.245519 mg/l
nghề dệt lụa thủ công và dịch vụ hiện nay đang rất phát triển, tạo nguồn thu nhập chính cho cư dân
trong xã. Hoạt động thương mại rất phát triển do kể từ khi chuyển sang dệt bằng máy, số lao động
chân tay giảm, thay vào đó họ chuyển sang hoạt động dịch vụ vì mỗi năm thu hút khoảng 70008000 lượt khách nước ngoài và khoảng 2000 khách trong nước tới đây tham quan mua hàng. Làng
Vạn Phúc nằm trong tour du lịch của công ty du lịch Hà Tây và công ty du lịch Hà Nội.
16
Có thể nói sự phát triển làng nghề đã đem lại sự thay da đổi thịt, đem lại mức sống tương
đối cao cho người dân trong xã. Thu nhập bình quân trong xã vào khoảng: 700000
đồng/người/tháng, có thể nói đây là mức thu nhập tương đối cao so với bình quân cả nước. Có thể
nói vói sự phát triển chung của làng nghề truyền thống Vạn Phúc trong đó yếu tố phát triển kinh tế
đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao mức sống người dân, đáp ứng các nhu cầu ngày
càng cao của xã hội. Là yếu tố đưa cuộc sông của ngừoi dân nông thôn theo kịp với lối sống thành
thị. Tuy nhiên chính yếu tố này cũng là yếu tố thúc đảy quá trình biến đổi không chỉ lối sống làng
quê mà còn biến đổi cả môi trường, không gian cảnh quan làng nghề truyền thống hơn nữa làm cho
cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị quá tải…. Làm cho làng quê Việt Nam nói chung và làng nghề truyền
thống Vạn Phúc nói riêng ngày càng mất đi bản sắc truyền thống đặc trưng vốn có của nó. Đây là
mộtt ác động rất tiêu cực trong việc giữ gìn, bảo tồn, tôn tạo các giá trị văn hóa truyền thồng.
Và vấn đề quan trọng cần bàn đến hiện nay đó chính là tác động ngược laị của ô nhiễm môi
trường tới cảnh quan và đặc biệt là sự phát triển kinh tế của làng nghề, sức khỏe của người dân Vạn
Phúc. Với một làng dệt thì nghiêm trọng nhất đó là ô nhiễm nguồn nước bởi vì song song với công
tác dệt đó là khâu nhuộm- một khâu tốn kém nhưng vẫn được tiến hành theo phương thức thủ công
vất vả và gây ô nhiễm lớn nhất. Con kênh chảy qua làng Van Phúc nước đen ngòm vì thuốc nhuộm
Vạn Phúc vốn có truyền thống lâu đời về dệt lụa từ trước tới nay. Đặc biệt, là những năm đầu thập
kỷ 90 các khung dệt thủ công truyền thống được thay thế bằng khung dệt công nghiệp, với sản
lượng tăng gấp nhiều lần so với dệt thủ công. Mặc dù sản xuất công nghiệp (CN), tiểu thủ công
nghiệp (TTCN) ở các làng nghề đạt được những thành tựu đáng kể nhưng do công nghệ lạc hậu,
quy mô nhỏ lẻ nên chưa xử lý được chất thải sau quá trình sản xuất dẫn đến ô nhiễm môi trường rác
thải, nước thải, khí thải ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc của
Theo điều tra của tổng cục môi trường thành phố Hà Nội thì một năm có 80% trường hợp
mắc bệnh lỵ và tiêu chảy đều do nguồn nước bị ô nhiễm. Chi phí trực tiếp cho việc khám chữa bệnh
tả, thương hàn, lỵ và sốt rét khoảng 400 tỷ đồng. Thêm vào đó, bệnh liên quan đến ô nhiễm môi
trường còn ảnh hưởng không nhỏ đến người thân, tạo nên chi phí gián tiếp do nghỉ học, nghỉ làm
làm cho cả người bệnh và người chăm sóc làm giảm 20% thu nhập.
Đối với các làng nghề, bên cạnh thu nhập từ việc buôn bán các sản phầm truyền thống thì vẫn phải
duy trì hoạt động canh tác, sản xuất nông nghiệp, dù tỷ trọng trong cơ cấu thu nhập không lớn. Ô
nhiễm môi trường cũng gây thiệt hại không nhỏ về hoạt động sản xuất nông nghiệp và khai thác,
nuôi trồng thủy sản, trong đó sản lượng nuôi cá bè trên sông những năm gần đây đều giảm sút do ô
nhiễm nguồn nước mặt.
CHƯƠNG V: NHẬN XÉT, GIẢI PHÁP VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
I. Nhận xét:
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Đa số làng nghề đã trải qua lịch sử
hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Phát
triển làng nghề có vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Tuy nhiên, hiện nay, chất thải
18
của các làng nghề tái chế chất thải như giấy, kim loại, nhựa, dệt nhuộm sử dụng hóa chất công
nghiệp đang là vấn đề hết sức bức xúc gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe người dân. Tình
trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam nói chung và ở làng lụa Vạn Phúc nói riêng
đã ở mức “báo động đỏ”. Kéo theo nó là những hệ lụy ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động sản xuất
mà còn gây tổn hại đến sức khỏe người dân. Chính vì thế công tác bảo vệ môi trường tại làng nghề
Vạn Phúc đang là đòi hỏi cấp thiết. Làm sao để sản xuất có hiệu quả đi đôi với bảo vệ tốt môi
trường là một câu hỏi khó trả lời với các cơ quan chức năng.
II. Một số giải pháp
Hiện nay thành phố Hà Đông cũng đã có những bước đi tích cực nhằm hướng đến mục tiêu phát
thiết bị nhỏ tại các gia đình để giảm ô nhiễm môi trường do sử dụng chất tẩy, nhuộm có chứa thành
phần độc hại.
- Thành lập tổ thu gom rác tự quản.
Trước khi kí hợp đồng với Công ty môi trường đô thị, tại một số thôn phường Vạn Phúc đã tổ chức
tổ thu gom rác với mô hình giản đơn.
Rác thải từ các hộ
gia đình
Thu gom vận
chuyển bằng xe
thô sơ
Bãi rác
quy định
Việc thu gom của các tổ vệ sinh được thực hiện dưới sự giám sát của hợp tác xã, trưởng thôn, các tổ
chức đoàn thể và người dân trong thôn. Cuối mỗi năm sẽ tổ chức đánh giá và xem xét hoạt động của
tổ vệ sinh. Bên cạnh đó, hội phụ nữ, Đoàn thanh niên thường tổ chức vận động các phong trào xây
dựng gia đình văn hóa, xây dựng nếp sống lành mạnh, tổ chức các buổi dọn vệ sinh khu vưc lối
xóm.
Bên cạnh những biện pháp mà các cơ quan chức năng đã thực hiện để bảo vệ môi trường sinh thái ở
làng nghệ Vạn Phúc, nhóm em cũng xin đề xuất thêm một số giải pháp như sau:
- Những thế mạnh của làng nghề tiểu thủ công nghiệp được phát huy trong bối cảnh kinh tế hiện
đại: vừa tạo vị thế cho ngành thủ công nghiệp nước nhà, vừa bảo tồn bản sắc dân. Chính vì thế,
không chỉ các cơ quan chức năng mà bản thân người dân cũng cần quan tâm đến việc những vấn
đề bảo vệ môi trường làng nghề. Vì vậy cần phải nâng cao trình độ dân trí cho dân làng nghề để
họ hiểu biết được những tác hại của việc thải chất thải trong quá trình sản xuất ra môi trường.
Cần có những buổi tuyên truyền định kì để người dân có ý thức hơn trong hoạt động sản xuất
thu phí nước thải độc……
Cơ quan chức năng của tỉnh cần tăng cường, huy động kinh phí cho sự nghiệp bảo vệ môi
trường, kiểm soát ô nhiễm, quan trắc và phân tích môi trường tại làng nghề Vạn Phúc. Kêu gọi
sự tham gia của người dân, chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước.
21
KẾT LUẬN
Sự phát triển của làng nghề Việt Nam nói chung và làng lụa Vạn Phúc nói riêng có vai trò
quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở nông thôn. Tuy nhiên, chúng ta cần phải
quan tâm đến những hệ quả xấu từ việc sản xuất và phát triển của làng nghệ. Thực trạng cho thấy
mức độ ô nhiễm nguồn nước, cụ thể là sông Nhuệ, cùng tình hình sức khỏe của người dân tại làng
lụa Vạn Phúc là vấn đề cấp bách đối với chính quyền và cư dân ở đây.
Việc áp dụng các giải pháp cần căn cứ vào tình tình cụ thể của loại hình làng nghề và địa
phương. Đồng thời, công tác bảo vệ môi trường sản xuất tại làng nghề là đòi hỏi cấp bách.
Do sự hạn chế về thời gian và năng lực, đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ô nhiễm nguồn
nước tại làng lụa Vạn Phúc” còn có những thiếu sót. Nhóm 19 rất mong nhận được sự góp ý bổ
cung của Thạc sĩ Trần Minh Nguyệt.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.