PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN:
Chữ viết là một công cụ giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương tiện
để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đời sống. Việc
hình thành và xây dựng những thói quen tốt về chữ viết cho học sinh là một
trong những nội dung giáo dục quan trọng. Mặt khác, chữ viết còn thể hiện nền
văn hoá, sự tinh hoa của một dân tộc. Ông cha từ xưa đã có truyền thống hiếu
học, coi trọng nhân tài, đặc biệt là những người “Văn hay- Chữ tốt”.
Trong thực tế, đôi khi chỉ qua chữ viết của một người ta có thể nhận ra
một vài nét trong tính cách của họ. Nhưng quan trọng hơn cả là cùng với lời
nói, chữ viết là phương tiện giao tiếp của con người. Chữ viết đúng, sạch, đẹp,
rõ ràng không những giúp người đọc dễ hiểu mà còn tạo thiện cảm với người
đọc.
Bởi vậy vấn đề rèn luyện chữ viết cho học sinh là vô cùng quan trọng và
cấp thiết đặc biệt là đối với học sinh đầu cấp Tiểu học. Chữ viết đặt nền móng
cơ bản cho toàn bộ quá trình học tập của các em. Rèn chữ viết cũng là rèn
luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như: Tinh thần kỷ luật, tính
cẩn thận và óc thẩm mĩ. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “Chữ viết là biểu
hiện của nết người. Dạy cho HS viết đúng, viết đẹp, viết cẩn thận là góp phần
rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như với
thầy và bạn đọc bài vở của mình....”.
Là giáo viên Tiểu học nhận thức được tầm quan trọng của chữ viết, tôi
đã đi sâu tìm hiểu, học hỏi và nghiên cứu những biện pháp giúp học sinh viết
chữ đẹp hơn. Qua nhiều năm nghiên cứu, học hỏi, tôi mạnh dạn đưa ra kinh
nghiệm: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN VIẾT CHỮ ĐẸP CHO HỌC SINH LỚP
2” để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo.
II. MỤC ĐÍCH
Nghiên cứu, tìm hiểu việc rèn chữ viết của thầy và trò khối lớp 2 ở
trường Tiểu học ............. để tìm ra những lỗi học sinh thường mắc phải trong
Khi đủ tuổi vào lớp 1, các em đã phát âm được một số âm và các tiếng
của mẹ đẻ. Một số em đã học mẫu giáo thì nhận dạng được chữ cái, biết gọi tên
các chữ cái trong chữ nhưng chưa biết dùng ký hiệu để ghi lại từng âm vị. Môn
học Tiếng Việt giúp các em nắm được kiến thức về ngôn ngữ, học để giao tiếp
bằng ngôn ngữ, học để cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và
phần nào hiểu được những vấn đề của cuộc sống.
Như vậy dạy Tiếng Việt ở cấp Tiểu học có nhiệm vụ rất lớn lao là trao
cho các em cái chìa khoá để vận dụng chữ viết khi học tập và là công cụ để các
em sử dụng suốt đời. Chất lượng chữ viết ở học sinh Tiểu học vẫn rất được coi
trọng bởi nó thể hiện nền văn hoá, sự tinh hoa của một dân tộc. Vậy học sinh
phải có kỹ năng viết đúng quy trình, đây là cơ sở để các em viết chữ đẹp, rõ ràng,
linh hoạt, đúng mẫu chữ ở các lớp trên. Kỹ năng viết được thực hành trước hết
trong giờ tập viết, chính tả, luyện viết và được củng cố hoàn thiện ở các môn học
khác. Đồng thời với việc rèn chữ các em học sinh sẽ có cơ hội rèn luyện tính cẩn
thận, sự khoa học, óc thẩm mỹ, tình yêu Tổ quốc, đất nước và yêu tiếng mẹ đẻ.
Sau nhiều lần ban hành những quy định về thay đổi chữ viết ở Tiểu học,
đến nay theo quyết định số 31/2002/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng bộ Giáo dục
và Đào tạo về mẫu chữ viết trong trường tiểu học thì chúng ta lại quay trở về
với mẫu chữ mềm mại, thanh gọn trước kia nhằm giúp học sinh viết chữ đẹp và
có thẩm mĩ hơn. Mẫu chữ đặc biệt là chữ hoa theo mẫu hiện hành là chữ đẹp
nhưng lại rất khó viết, nhất là đối với các em học sinh lớp đầu cấp; các nét
cong, nét lượn mềm mại và thay đổi liên tục trong một con chữ. Để tạo dáng
thẩm mỹ, các nét cơ bản ở chữ cái viết hoa thường có biến điệu, không “thuần
tuý” như ở chữ cái viết thường. Vì vậy để rèn chữ viết đúng và đẹp, nhất là chữ
hoa cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải là người có lòng say sưa với công việc,
yêu nghề, mến trẻ, tận tâm với nghề thì hiệu quả mới đạt cao.
2
II. Cơ sở thực tiễn:
trọng tâm làm mất nhiều thời gian, học sinh thực hành được rất ít.
2.2. Học sinh:
Thực tế giảng dạy tôi thấy ở lớp Một các em rất hiếu động chỉ lo viết
nhanh cho xong mà không chú ý đến viết đúng, viết chuẩn. Do các em còn nhỏ,
thiếu tính kiên trì, khó thực hiện đúng các động tác đòi hỏi sự khéo léo, cẩn
thận. Khi viết các em ngồi chưa đúng tư thế có em cúi thấp quá, có em ngoẹo
đầu sang trái hoặc sang phải, có em để vở nghiêng hẳn sang một bên…. Dẫn
đến chữ viết của các em chưa đúng mẫu, cỡ chữ. Các em thường viết sai các
nét “ nối” từ con chữ này sang con chữ kia, khi đặt bút bắt đầu viết con chữ
không đúng với vị trí của dòng kẻ, viết không đúng chiều rộng con chữ mà còn
viết chữ dãn ra hoặc co lại, không tự ước lượng khoảng cách giữa chữ này với
chữ kia, ghi dấu thanh, dấu phụ không đúng vị trí, các em còn nhấc bút tùy tiện,
điểm đặt bút, dừng bút chưa đúng, không biết đâu là điểm nhấn của con chữ để
tạo độ mềm mại, đẹp.… Những chữ sai sót ấy lại chưa được giáo viên chú ý
sửa chữa do vậy khi lên lớp 2 bài vở nhiều, dẫn đến tình trạng chữ viết của các
em mỗi ngày một tệ hơn.
Không những thế, các em còn dùng nhiều loại bút, ngòi bút viết nét chữ
to quá hoặc nhỏ quá đều làm ảnh hưởng đến việc viết chữ đẹp.
2.3 . Kết quả khảo sát:
Ngay từ đầu năm sau khi nhận lớp, tôi đã tiến hành kiểm tra chữ viết
của các em. Kết quả khảo sát chất lượng chữ viết của 21 em học sinh lớp 2A,
tháng 8 năm 2013 như sau:
Kết quả xếp loại
Số
A
33
Kết quả trên cho thấy chữ viết của các em đang ở trong tình trạng báo
động. Vậy làm thế nào để rèn chữ viết đúng tiến tới viết đẹp cho học sinh lớp 2.
4
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN CHỮ VIẾT ĐẸP CHO HỌC SINH LỚP 2
Để rèn học sinh lớp 2 viết đúng tiến tới viết đẹp phải kết hợp nhiều yếu
tố: điều kiện cơ sở vật chất, học sinh và cả giáo viên. Những yếu tố này phải
được kết hợp nhuần nhuyễn và phối hợp nhịp nhàng qua các biện pháp sau:
1. Biện pháp 1: Rèn tƣ thế ngồi viết cho HS
Tư thế ngồi viết của HS là vô cùng quan trọng, các em ngồi đúng tư thế
mới viết được đúng và đẹp được. Ngồi đúng tư thế là ngồi ngay ngắn, lưng
thẳng, không tỳ ngực vào cạnh bàn,
đầu hơi cúi, mắt cách vở từ 25 –
30cm. Cánh tay trái đặt trên mặt bàn
bên trái lề vở, bàn tay trái tỳ vào
mép vở, giữ vở không xê dịch khi
viết. Cánh tay phải ở trên mặt bàn;
khi viết bàn tay và cánh tay phải có
thể dịch chuyển từ trái sang phải và
TƢ THẾ GỒI VIẾT ĐÚNG
từ phải sang trái dễ dàng.
Tư thế ngồi viết không
ngay ngắn sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến chữ viết. Ngồi nghiêng vẹo
xương bàn tay mà các em ở tuổi đang độ phát triển nên cử động các ngón tay
còn vụng về, chóng mệt mỏi. Khi cầm bút các em có tâm lí sợ rơi nên các em
cầm rất chặt, các cơ tay cứng khó di chuyển. Một số em cầm bút bằng bốn hoặc
năm ngón tay nên khi viết vận
động cổ tay, cánh tay sẽ mau mỏi,
sức chú ý kém, kết quả chữ viết
không đúng, không nhanh. Như
vậy các em cầm bút không đúng
thì sẽ không thể viết đúng và đẹp
được. Vì vậy, ngay từ đầu năm
học, tôi tập trung rèn kĩ năng cách
cầm bút đúng cho các em. Trong
mỗi giờ học, khi viết bài, tôi quan
sát cách cầm bút của từng em,
CẦM BÚT ĐÚNG CÁCH
6
uốn nắn cho các em, yêu cầu các em cầm bút đúng cách.
Cầm bút đúng là: Cầm bút tay phải bằng ba đầu ngón tay: Ngón cái,
ngón trỏ và ngón giữa. Ba đầu ngón tay tiếp xúc với nhau, không đè lên nhau.
Đầu ngón trỏ cách đầu ngòi bút chừng 2,5cm. Mép bàn tay là điểm tựa của
cánh tay phải khi đặt bút xuống bàn viết. Lúc viết, điều khiển cây bút bằng các
cơ cổ tay và các ngón tay. Cầm bút xuôi theo chiều ngồi. Góc độ bút đặt so với
mặt giấy khoảng 45 độ. Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 90 độ. Khi viết 3
ngón tay này giữ bút, điều khiển bút dịch chuyển. Đưa bút từ trái qua phải từ
trên xuống dưới các nét đưa lên
hoặc đưa sang ngang phải thật nhẹ
tay, không ấn mạnh đầu bút vào
+ Nét ngang
- Nét xiên : +Nét xiên phải
|
__
+ Nét xiên trái
- Nét cong: + Nét cong hở trái
+ Nét cong hở phải
+ Nét cong kín
- Các nét móc: + Nét móc xuôi
/ \
o
+ Nét móc ngược
+ Nét móc 2 đầu.
- Các nét khuyết:
+ Nét khuyết trên
+ Nét khuyết dưới.
- Các nét thắt.
Ngoài các nét cơ bản trong
cấu tạo chữ viết còn có nét dư.
Những nét dư này tạo nên sự
liên kết giữa các con chữ trong chữ. Nét phối hợp là nét trên cơ sở lấy nét chữ
cơ bản làm nền tính từ điểm xuất phát kéo dài nét đó cho đến khi đủ độ cao nhờ
vậy chữ viết không bị gãy vụn, chẳng hạn khi viết chữ a ta phân tích thành hai
nét: nét cong kín và nét móc ngược.
Nhóm 5: Nhóm chữ cái có cấu tạo bằng nét móc phối hợp với nét thắt
Nhóm này gồm 3 chữ cái: v, r, s
v, r, s
* Đối với chữ viết hoa, tôi chia thành 6 nhóm sau:
+ Nhóm 1: A Ă Â N M
+ Nhóm 2: P B R D Đ
10
+ Nhóm 3: C G S L E Ê T
+ Nhóm 4:
IKVH
+ Nhóm 5: O Ô Ơ Q
+ Nhóm 6: U Ƣ Y X
4. Biện pháp 4: Rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh
4.1. Xác định toạ độ và chiều hướng chữ viết
Toạ độ chữ được xác định trên đường kẻ, đường li. Mỗi đơn vị dòng kẻ
trong vở Tập viết gồm 4 dòng li (đường kẻ dưới và đường kẻ trên in đậm còn
lại 3 đường li in nhạt hơn). Tôi thống nhất với các em kí hiệu từ đường kẻ in
đậm dưới lên trên là các dòng li 1, 2, 3; đường kẻ đứng là đường kẻ dọc, mỗi ô
vuông nhỏ là một ô li. Cách xác định toạ độ trên khung chữ phải dựa vào
11
d. Lia bút: Khi kết thúc một con chữ để nối với chữ cái tiếp theo nét bút
được thể hiện liên tục ngòi bút không chạm vào mặt giấy, thao tác đưa trên
không hoặc viết đè lên theo hướng ngược lại; ngòi bút chạy nhẹ từ điểm kết
thúc của nét đứng trước đên điểm bắt đầu của nét liền sau.
Chẳng hạn khi viết chữ : thoáng ( cỡ chữ vừa)- Đặt bút từ đường li thứ
hai viết con chữ t cao 3 dòng li, nối liền sang con chữ h cao 5 dòng li, dừng bút
ở đường li 1, lia bút, đặt bút dưới đường li 2 viết con chữ o cao 2 dòng li, viết
12
nét nối, lia bút, đặt bút dưới dòng li 2 viết con chữ a cao 2 dòng li, nối liền sang
con chữ n cao 2 dòng li, dừng bút ở đường li 1, lia bút, đặt bút dưới dòng li 2
viết con chữ g cao 5 dòng li, kết thúc ở đường li 1, được chữ thoáng.
4.3. Rèn kĩ năng viết các nét cơ bản:
Để rèn học sinh viết đúng , trước hết tôi rèn cho học sinh viết đúng các
nét cơ bản trên. Mọi chữ cái Tiếng Việt đều được cấu thành bởi các nét cơ bản
trên. Do đó khi các em nắm chắc quy trình viết các nét cơ bản thì ứng dụng vào
viết các con chữ sẽ chính xác hơn.
Cụ thể:
- Nét ngang ()rộng 1 đơn vị có dạng nằm ngang. Khi viết đặt bút tại
điểm cạnh của ô vuông, viết nét ngang rộng 1 đơn vị
- Nét sổ cao 1 đơn vị có dạng thẳng. Khi viết đặt bút ngang đường kẻ
dọc, hàng kẻ thứ ba viết nét sổ 1 đơn vị
- Nét xiên trái (\) xiên 1 đơn vị, có dạng nghiêng về bên trái. Khi viết
đặt bút ngay đường kẻ li thứ 2 viết nét xiên nghiêng bên trái.
- Nét xiên phải / 1 đơn vị, có dạng nghiêng về bên phải. Đặt bút ngay
đường kẻ li số 2 viết nét xiên nghiêng bên phải
- Nét cong hở trái cao 1 đơn vị (2 dòng li). Đặt bút dưới đường kẻ li số 2
viết một nét cong hở trái. Dừng bút giữa dòng kẻ đậm và dòng li thứ nhất.
- Nét cong hở phải cao 1 đơn vị (2 dòng li). Đặt bút dưới đường kẻ li số 2
về bên trái có điểm xa nhất nằm trên đường kẻ ngang 2 và quãng giữa hai
đường kẻ dọc 1 và 2, lượn xuống phía dưới về bên phải xuống đến đường kẻ
đậm rồi đưa bút lên phía trên vòng bên phải đến trùng khít với điểm đặt bút.
Chỗ rộng nhất của chữ (o) nằm trên đường kẻ li số 1.
Khi hướng dẫn quy trình viết chữ (ô) ta cũng sẽ hướng dẫn nét 1 như chữ
(o) và hướng dẫn thêm cách viết dấu mũ: từ điểm dừng bút trên đầu chữ (o) lia
bút trên không rồi viết một nét gấp khúc từ trái qua phải. Hai chân dấu mũ
không chạm đầu chữ cái (o), đỉnh của dấu mũ nằm ở trung điểm hai đường li 2
và 3.
Các nhóm sau tôi cũng tiến hành dạy tương tự.
Nhóm 2: Nhóm chữ cái cấu tạo từ nét cong phối hợp với nét móc: a, ă, â, d,
đ, q
Với nhóm 1 và 2, nhiều người nghĩ là đơn giản nhưng hầu hết học sinh
14
viết sai từ chữ o như chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữ không đều,
đầu to đầu bé. Chính vì vậy tôi xác định cần dạy cho học sinh viết đúng chữ O
để làm cơ sở cho việc viết đúng các chữ trong nhóm.
Nhóm 3: Nhóm các chữ cái cấu tạo từ nét cơ bản là nét móc (hoặc nét móc
phối hợp với nét thắt): I, t, u, ư, n, m, y, p
Với nhóm chữ này học sinh hay mắc lỗi viết chưa đúng nét nối giữa các
nét, nét móc thường hay bị đổ nghiêng, khi hất lên thường bị choãi chân ra
không đúng.
Để khắc phục nhược điểm này ngay từ nét bút đầu tiên tôi đặt trọng tâm
rèn luyện cho học sinh viết nét móc ngược, nét móc hai đầu thật đúng, ngay
ngắn trước khi ghép các nét tạo thành chữ. Khi ghép chữ tôi luôn chú ý minh
họa rõ nét điểm đặt bút, điểm dừng bút của mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp.
Nhóm 4: Nhóm chữ cái có cấu tạo nét cơ bản là nét khuyết ( hoặc nét
khuyết phối hợp với nét móc ): l, h, b, k
Bên cạnh trực quan bằng chữ Flash, tôi cho học sinh quan sát lại quy
trình viết do chính bản thân mình làm mẫu. Tôi vừa viết, vừa phân tích từng nét
của chữ cái hoặc từng kĩ thuật nối liền nét các con chữ trong một chữ. Thiết
nghĩ việc viết mẫu của giáo viên còn có tác dụng tạo niềm tin cho học sinh, mặt
khác học sinh cũng dễ tiếp thu hơn, tạo điều kiện cho việc rèn kĩ năng viết liền
mạch, viết nhanh. Khi chấm bài, chữa bài, lời phê, chữ viết của giáo viên được
học sinh quan sát như một loại chữ mẫu. Vì vậy tôi cũng rất chú ý rèn chữ viết
cho mình được đúng mẫu, rõ ràng, đều, đẹp.
b. Phương pháp kể chuyện nêu gương.
Khi luyện viết cho học sinh, điều quan trọng là phải gây được hứng
thú, làm cho học sinh yêu thích rèn viết chữ đẹp từ đó các em say mê và quyết
tâm rèn chữ cho đẹp. Trong các giờ tập viết tôi thường kể cho các em nghe
những gương sáng về rèn chữ viết như: Thần siêu luyện chữ, Chữ người tử tù,
Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu... Cũng có khi tôi nêu ngay những gương
người thật việc thật, ví dụ: Em A chữ viết đẹp nhất trường, các em hãy quan sát
chữ viết của bạn và học tập. Tôi phô tô các bài viết của học sinh đạt điểm cao,
đạt giải viết chữ đẹp trong các kì thi các cấp để làm mẫu cho các em, đồng thời
16
động viên các em nếu cố gắng, kiên trì rèn luyện thì chữ viết của các em cũng
đạt được như vậy thậm chí có thể đẹp hơn. Khi đã gây được hứng thú cho học
sinh, lúc đó các em rất thích rèn viết chữ đẹp. Cô giáo lúc này sẽ cung cấp các
bài tập để rèn kĩ năng viết.
c. Phương pháp đàm thoại gợi mở.
Phương pháp đàm thoại gợi mở được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu
của tiết học tập viết. Giáo viên cần cho học sinh tri giác chữ cái đồng thời nhận
biết thông qua hệ thống câu hỏi để học sinh nắm được cấu tạo, độ cao, kích
thước của chữ cái. Từ đó, so sánh các nét giống nhau và các nét khác biệt giữa
các chữ cái đã học. Khi dạy, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi khái quát và
của giáo viên. Cần chú ý giữ trật tự trong lớp khi dùng hình thức này và nên tận
dụng hai mặt bảng.
+ Luyện tập trong vở tập viết: Giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ nội dung
và yêu cầu về kĩ năng của từng bài viết. Trước khi học sinh viết giáo viên cần
nhắc nhở một lần nữa về tư thế ngồi viết cách cầm bút và để vở.
+ Luyện tập viết chữ trong vở ô li: Giáo viên phải có những yêu cầu về
chữ viết của học sinh khi học những môn học khác. Coi chữ viết là một trong
những tiêu chuẩn kiểm tra và đánh giá tất cả các môn học.
III. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
Giáo án 1
CHỮ HOA Đ
I.MỤC TIÊU
-Viết đúng chữ hoa Đ(1 dòng cỡ vừa ,1 dòng cỡ nhỏ ), Từ ứng dụng Đẹp
(1 dòng cỡ vừa ,1 dòng cỡ nhỏ), và câu ứng dụng :Đẹp trường đẹp lớp (3 lần ).
- Rèn kĩ nămg viết chữ đúng kĩ thuật.
- Giáo dục HS ý thức rèn chữ đẹp, ý thức giữ gìn trường lớp, bảo vệ môi
trường.
II. CHUẨN BỊ
GV: - Máy tính, máy chiếu.
- Kẻ sẵn khung chữ.
18
HS: - Vở tập viết
III.TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY
HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
- Ch÷ Đ cao mÊy li, gåm mÊy nÐt ?
- Chữ Đ cao 5 li, gåm 2 nÐt:
+ NÐt 1 vµ được cấu tạo như chữ Đ.
- GV nhận xét, hướng dẫn cách viết
(chữ trên phần mềm Flash). GV vừa
+ Nét 2: là một nét thẳng ngang
ngắn.
19
chỉ theo nét bút viết vừa nêu cách
viết:
- HS quan sát và nghe.
+ NÐt 1(viết giống chữ D ): Đặt bút
trên đường kẻ 6, viết một nét thẳng
đứng lượn cong hai đầu nối liền với
một nét cong phải, dừng bút ở đường
kẻ 5, rê bút viết thêm 1 nét thẳng
ngang ngắn ở đường kẻ 3.
- GV viết minh họa lại trên khung chữ
kẻ sẵn.
- u cầu HS nêu lại cách viết.
- 4 – 5 HS nối tiếp nêu cách viết.
trường lớp sạch đẹp.
- HS nêu: Chăm sóc vườn hoa,
- Em đã làm gì để trường, lớp mình không vứt rác bừa bãi...
sạch đẹp?
- GV kết luận: Cần có ý thức giữ gìn
trường lớp sạch đẹp, bảo vệ môi
trường xung quanh.
+ Chữ Đ cao 2,5 li.
+ Ch÷ Đ cao mÊy li ?
+ Chữ nào có độ cao bằng chữ Đ
+ Những chữ nào có độ cao 2 li?
+ Chữ
t, r cao mấy li?
+ C¸c ch÷ cßn l¹i cao mÊy li ?
+ Chữ g, l
+ Chữ đ, p cao 2 li.
+ Chữ t cao 1, 5 li; chữ r cao 1,25 li.
+ Các chữ còn lại cao 1 li.
- Kho¶ng c¸ch gi÷a c¸c ch÷ b»ng
- Kho¶ng c¸ch gi÷a c¸c ch÷ như thế kho¶ng c¸ch viÕt mét ch÷ c¸i o.
nào?
- Cách đặt dấu thanh ở các chữ như
đặt dưới e được chữ Đẹp.
- HS quan sát.
- HS viết bài.
- GV viết mẫu trên khung chữ.
- Gọi 1 HS lên bảng viết, lớp viết
bảng con.
Đẹp Đẹp
- GV quan s¸t, söa sai.
- 1 HS nhắc lại.
* HD viết vào vở.
- HS viết bài.
- Gọi 1 HS nhắc lại tư thế ngồi.
- Gv nêu yêu cầu viết: Viết 1 dòng
chữ Đ cỡ vừa, 2 dòng chữ Đ cỡ nhỏ,
1 dòng chữ Đẹp cỡ vừa, 1 dòng chữ
Đẹp cỡ nhỏ, 2 dòng cụm từ ứng dụng
cỡ nhỏ.
- GV quan sát HS viết bài, uốn nắn tư
thế ngồi và chữ viết của HS.
- 2 HS nh¾c l¹i c¸ch viÕt ch÷ Đ
- ChÊm bµi, nhËn xÐt.
1. Ổn định tổ chức : Hát
2. Kiểm tra bài cũ :
- 2 HS lªn b¶ng, lớp viết bảng con.
- Yêu cầu HS viết I, Ích.
- Nhận xét, ghi điểm.
3. Bài mới:
a) Giới thiệu bài
- Trong bảng chữ cái, chữ gì đứng sau
chữ I?
- Chữ K đứng sau chữ I.
- HS nghe.
- Chữ K được viết như thế nào? Nó
có điểm gì giống chữ I đã học không?
Hôm nay, cô sẽ hướng dẫn các con
cách viết chữ K.
b) Phát triển bài
* HD viết chữ hoa.
- HS quan s¸t.
- GV đ-a ch÷ mÉu.
23
- Ch÷ K cao mÊy li, gåm mÊy nÐt ?
bảng viết.
- HS viết
24