MỤC LỤC
Mục
1
Nội dung
Trang
Mở đầu
1
1.1
Lý do chọn đề tài
1
1.2
Mục đích nghiên cứu
2
1.3
Đối tượng nghiên cứu
2
1.4
Về phía học sinh
5
Các biện pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4
5
2.3.1
Chuẩn bị thật kĩ cho việc dạy đọc diễn cảm
5
2.3.2
Hướng dẫn học sinh đọc đúng một cách linh hoạt khéo léo
6
2.3.3
Khai thác giọng đọc của học sinh thông qua tìm hiểu nội
dung bài
10
2.3.4
Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm
2.3
2.4
3
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Tập đọc là phân môn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chương trình Tiếng
Việt ở Tiểu học. Dạy tốt phân môn này không những rèn luyện cho học sinh kỹ
năng đọc mà còn phát triển cho các em vốn từ ngữ phong phú, tạo điều kiện để
các em học tốt các phân môn khác. Rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh như:
đọc đúng, đọc nhanh, đọc chính xác, rõ ràng, rành mạch, diễn cảm để học sinh
có những hiểu biết về kiến thức văn học, về ngôn ngữ và ngược lại khi hiểu
được những văn bản đọc sẽ giúp học sinh hiểu được đọc diễn cảm. Vì vậy giữa
việc đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là hai quá trình có liên quan gắn bó
mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được văn hoá của dân tộc,
tiếp thu được nền văn minh của loài người thông qua sách vở. Qua việc đọc, học
sinh biết đánh giá cuộc sống xã hội, tư duy. Cũng qua hoạt động đọc, tình cảm,
thẩm mỹ của các em được nâng lên cao, tầm hiểu biết của các em nhìn ra thế
giới xung quanh và quá trình nhận thức cũng có chiều sâu hơn. Tập đọc là phân
môn mang tính chất “tổng hợp” để học tốt các môn học khác vì ngoài nhiệm vụ
dạy đọc cho học sinh, nó còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về Tiếng Việt cho
học sinh (phát âm, từ ngữ, câu văn, đoạn văn... ), kiến thức bước đầu về văn học
(văn xuôi, văn vần, nhân vật ...), kiến thức về đời sống, về giáo dục tình cảm, thể
chất, thẩm mĩ. Sự phát triển nhiều mặt này tạo điều kiện để trẻ phát huy được
mọi khả năng tiềm tàng, từ đó tạo cơ hội để sau này trẻ giúp ích cho xã hội.
Phân môn Tập đọc ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng đặt ra một nhiệm
- Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên và các loại sách tham khảo.
b) Nghiên cứu thực tế
- Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về các giải pháp nâng cao chất
lượng dạy học tập đọc.
- Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học.
- Tổ chức và thực hành thực nghiệm sư phạm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
Tập đọc là phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của phân môn này
là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc tạo nên từ bốn kĩ năng bộ
phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát
trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay
còn gọi là đọc hiểu) và đọc hay (mức độ cao hơn là đọc diễn cảm ).
Bốn kĩ năng của đọc được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành
tiếng và đọc thầm. Các kĩ năng này được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ nhau. Sự
hoàn thiện kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác. Ví dụ:
đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn
bản. Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và
diễn cảm được. Cũng như khó mà nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho
kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc đúng.
Vì vậy, trong dạy đọc, không thể xem nhẹ hay tách rời bất kì một kĩ năng nào.
Hơn nữa, nhiệm vụ của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành
phương pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở
3
thành một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trường, đó là một trong những điều kiện
để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách khác, thông qua
việc dạy đọc phải làm cho học sinh thích đọc và thấy được khả năng đọc có ích
lợi cho các em suốt cả cuộc đời. Phải làm cho học sinh thấy đó là một trong
Những hạn chế trên ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả của giờ dạy Tập đọc.
4
2.2.2. Về phía học sinh
Hải Châu là một xã nghèo ven biển của huyện Tĩnh Gia, đời sống nhân dân
còn gặp nhiều khó khăn. Đa số các em là con em những gia đình thuần nông nên
số phụ huynh có điều kiện và ý thức mua sách báo cho con em mình đọc còn rất
ít. Nguồn sách cung cấp chủ yếu cho học sinh là thư viện nhà trường.
Bên cạnh đó, vốn sống và vốn kiến thức văn học của học sinh vùng thôn quê
còn hạn chế, vốn ngôn ngữ của các em còn quá đơn giản, ít ỏi chưa phong phú.
Hơn nữa, không ít em chưa có thói quen đọc sách, ham đọc sách vì thế các em ít
có sự say mê với các tác phẩm văn học.
Một số em có chất giọng kém, ngữ điệu đọc chưa phù hợp và kỹ thuật đọc
chưa tốt. Có em đọc ngọng các nguyên âm iê, uô,... do ảnh hưởng của phương
ngữ. Một số em có tốc độ đọc chưa đạt yêu cầu mặc dù đã học đến lớp 4. Các
em còn thiếu tự tin trong giao tiếp, rụt rè, nhút nhát. Chính vì những khó khăn
hạn chế trên nên chất lượng đọc diễn cảm học sinh lớp 4 chưa đạt kết quả như
mong muốn.
Năm học 2016 - 2017, tôi được phân công dạy lớp 4B. Nắm được tầm quan
trọng của việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm, được sự hướng dẫn, giúp đỡ của Ban
giám hiệu nhà trường, ngay từ ngày đầu năm học, khi mới nhận lớp tôi đã tiến
hành khảo sát, phân loại đối tượng học sinh để có biện pháp khắc phục. Kết quả
khảo sát chất lượng đầu năm như sau:
Lầ
Sĩ số
Đọc ê-a, phát Đọc đúng, Đọc to, rõ ràng,
Đọc diễn
n
đọc này. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu năm học tôi đã tiến hành những biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng đọc diễn cảm cho học sinh như sau:
2.3.1. Chuẩn bị thật kĩ cho việc dạy đọc diễn cảm
a) Sự chuẩn bị của giáo viên.
Muốn rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh, trước hết giáo viên phải có
giọng đọc mẫu chuẩn, hay, có sức cuốn hút với học sinh. Theo tôi, người giáo
viên không thể hình thành ở học sinh kĩ năng gì mà mình không có, không thể
gặt hái được những gì mà chúng ta không có khả năng gieo trồng. Đặc biệt, giáo
viên Tiểu học là người thầy đầu tiên đặt nền móng, trang bị cho trẻ em ý thức về
chuẩn ngôn ngữ và chuẩn văn hóa của lời. Giáo viên là người có nhiệm vụ đem
đến cho học sinh mẫu hình đẹp nhất về mặt âm thanh của tiếng nói dân tộc. Vì
thế, giáo viên phải coi trọng đọc mẫu, thường xuyên có ý thức luyện đọc. Giáo
viên có thể sử dụng máy ghi âm ghi lại giọng đọc của mình, điều này giúp giáo
viên phát hiện các nhược điểm để tự mình điểu chỉnh giọng đọc ngày càng hay
hơn, cuốn hút học sinh cùng hòa mình vào tác phẩm văn học để thấy được tâm
tư, tình cảm của tác giả gửi gắm trong bài đọc .
Bên cạnh đó, cần tìm hiểu kĩ nội dung, chương trình sách giáo khoa, sách
hướng dẫn, nắm vững nội dung bài, hiểu rõ ý đồ của người biên soạn để chủ
động, sáng tạo, ứng xử linh hoạt với từng đối tượng học sinh. Tiếp theo, tôi giới
thiệu cấu tạo chương trình môn Tập đọc đề các em nắm được các chủ điểm
chính trong từng học kì và cả năm học. Đồng thời nêu tầm quan trọng, yêu cầu
cơ bản về việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm giúp các em cảm thụ bài văn, bài thơ
theo từng chủ điểm. Hướng dẫn mỗi em có một quyển sổ để ghi những câu,
những đoạn, bài văn, bài thơ hay, có giá trị về nội dung và nghệ thuật.
Ngoài ra, giáo viên phải dự tính được các lỗi mà học sinh lớp mình thường
mắc phải để có biện pháp sửa chữa kịp thời, khéo léo, tạo bầu không khí sôi nổi,
kích thích hứng thú học tập và nâng cao tính tự giác của học sinh.
b) Chuẩn bị tâm thế đọc cho học sinh.
Để luyện đọc cho học sinh có hiệu quả trước tiên tôi giúp học sinh chuẩn bị
tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc, học sinh phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt
Tùy thuộc vào phương ngữ, giáo viên chọn nội dung thích hợp để học sinh
thể hiện chính xác các âm vị tiếng Việt bao gồm các phụ âm đầu, vần và các
thanh. Giáo viên nắm chắc các biện pháp sửa lỗi gồm: biện pháp luyện theo
mẫu, biện pháp cấu âm, biện pháp luyện âm đúng qua âm trung gian. Tùy thuộc
vào âm, thanh sai lạc, tùy thuộc vào học sinh mà giáo viên lựa chọn biện pháp
thích hợp hoặc phối kết hợp nhiều biện pháp cùng một lúc. Ở trường Tiểu học
Hải Châu chủ yếu học sinh lẫn lộn phụ âm đầu r/s và thanh hỏi, thanh ngã. Vì
thế, tôi đã hướng dẫn các em đọc đúng như sau:
Để luyện đọc đúng cho học sinh có hiệu quả, trước khi lên lớp, tôi thường
đọc kỹ bài đọc, dự tính các lỗi học sinh hay mắc và phương án sửa lỗi, ưu tiên
7
đối với các tiếng, từ khó, tôi giúp học sinh phân tích cấu tạo tiếng, tìm ra lỗi học
sinh phát âm sai ở âm hay vần, thanh… Tôi đọc mẫu các tiếng, từ này cho học
sinh đọc theo. Nếu học sinh vẫn đọc sai, tôi mô phỏng cách phát âm.
Ví dụ:
- Đọc đúng các phụ âm: r, s: Uốn đầu lưỡi về phía vòm hơi thoát ra rất mạnh.
Gặp tiếng có âm tr: Đầu lưỡi uốn chạm vào vòm cứng, bật ra. Nếu đọc những
tiếng có âm đầu lưỡi cong lên chạm lợi, hơi đi ra phía hai bên rìa lưỡi xát khe…
- Khi đọc các tiếng có thanh hỏi, thanh ngã thì phải thì cần qua các bước sau:
+ Đầu tiên chắp các tiếng có cùng thanh, cùng vần với tên gọi thanh, ví dụ:
Thanh hỏi: sỏi, thỏi, gỏi
Thanh ngã: bã, đã, giã
+ Sau đó, chắp tiếng cùng thanh, cùng loại âm tiết với tên gọi thanh
Thanh hỏi: thảo, phải, kẻo (âm tiết nửa mở)
Thanh ngã: ngõ, khẽ, cũ (âm tiết mở)
+ Cuối cùng, chắp bất kì âm đầu, các vần với các thanh.
Ví dụ: tiếng “cười” phần lớn các em đọc là “cừi”, hướng dẫn cho các em cách
phát âm “cười”, có nguyên âm đôi “ươ” khi đọc đến nguyên âm đôi chúng ta
ngày mai đây,/những tết trung thu tươi đẹp hơn nữa sẽ đến với các em//.
Ngoài việc tách các vế câu như trên cần đặt câu này trong mối tương quan
với các câu phía trước “Trăng đêm nay sáng quá! Trăng mai còn sáng hơn”.
“Trăng đêm nay sáng quá!” dẫn đến “Anh mừng…”. “Trăng mai còn sáng hơn”
nên anh có quyền và tràn đầy lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân
tộc, của thế hệ trẻ “và anh mong ước,…”
Với bài thơ, học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa mà chỉ
đọc theo áp lực của nhạc thơ một cách tự nhiên, nếu không được lưu ý về nghĩa
mà chỉ đọc theo áp lực nghĩa, học sinh sẽ ngắt nhịp tạo ra sự cân đối về mặt âm
thanh đọc từng câu thơ. Với thơ 4 tiếng, các em sẽ ngắt nhịp 2/2, với thơ 5 tiếng,
các em sẽ ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2, với thơ 7 tiếng các em sẽ ngắt nhịp 3/4, 4/3
hoặc 2/2/3, thơ lục bát sẽ được ngắt theo nhịp chẵn 2/2/2. Có những bài thơ ngắt
nhịp không theo các quy luật trên. Các em sẽ mắc lỗi ngắt nhịp do áp lực của
nhạc thơ.
Ví dụ: Bài “Truyện cổ nước mình” (Tiếng Việt 4, tập1, trang 19) Các em ngắt
nhịp sai ở các câu như:
- Vừa nhân hậu lại/tuyệt vời sâu xa.
- Con sông/chảy có rặng dừa nghiêng soi.
Gặp những trường hợp này, tôi phải kiên trì hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp
đúng như sau:
- Vừa nhân hậu/lại tuyệt vời sâu xa.
- Con sông chảy/có rặng dừa nghiêng soi.
Trong các giờ Tập đọc, tôi đều để học sinh tự tìm nhịp ngắt của các câu
thơ, câu văn dài. Nếu gặp những câu khó, tôi đọc mẫu cho học sinh nghe và học
sinh tự phát hiện chỗ ngắt nghỉ đúng trong các câu này. Sau đó học sinh đọc cá
nhân. Cuối cùng mới luyện đọc hoàn chỉnh đoạn, cả bài.
9
khí từ không bao giờ mang trọng âm nên phải đọc với giọng yếu, hơi thấp. Vì
vậy những câu hỏi kết thúc bằng ngữ khí từ thì không nên lên giọng và không
đọc nhấn các ngữ khí từ.
Vậy, luyện đọc đúng là một điều kiện tốt để học sinh tiến tới đọc diễn cảm .
10
d) Đọc đúng tốc độ (còn gọi là lưu loát trôi chảy )
Trên cơ sở học sinh đã đọc đúng. Tôi chuyển sang yêu cầu học sinh đọc
nhanh. Đọc nhanh không có nghĩa là đọc liến thoắng, đọc để cho người nghe kịp
hiểu được. Có những học sinh nhầm tưởng đọc càng nhanh càng giỏi nên đọc
quá nhanh, không ai kịp hiểu. Nhìn chung, trình độ của học sinh tiểu học còn
thấp, do đó, tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với
tốc độ của lời nói.
Tôi đã hướng dẫn học sinh làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu để học sinh
đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị của đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn bài. Tôi luôn
theo dõi tốc độ của học sinh và biết giữ nhịp đọc, điều chỉnh bằng lệnh. Xác
định tốc độ đọc bằng cách đếm số tiếng trong bài dự tính thời gian đọc trong bao
lâu .
Chú ý tốc độ đọc còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc và thể loại văn
bản. Những bài có nội dung khó hiểu cần đọc chậm hơn những bài có nội dung
đơn giản. Thơ cần đọc chậm hơn các văn bản văn xuôi .
2.3.3. Khai thác giọng đọc của học sinh thông qua tìm hiểu nội dung bài
Như trong phần trên đã nói, việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm chỉ được tiến hành
khi học sinh đã hiểu thấu đáo bài đọc, tức là đã làm tốt đọc hiểu. Mục đích đọc
diễn cảm là bộc lộ ra được cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn
truyền đạt đúng ý nghĩa và tình cảm của tác giả gửi gắm trong bài đọc. Muốn
đọc diễn cảm tốt phải hiểu rõ nội dung của bài Tập đọc và phải truyền đạt tốt sự
hiểu biết của mình tới người nghe. Vì thế, khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài
dẫn dắt học sinh thâm nhập vào nội dung của bài để cảm nhận được cái hay, cái
đẹp của bài văn. Từ đó học sinh mới có cảm xúc thực sự và mới đọc hay bài tập
đọc được.
Ngoài ra, để tạo điều kiện cho học sinh giúp đỡ, học hỏi lẫn nhau tôi tập
trung chú ý nhiều hơn tới các đối tượng có năng lực cảm thụ văn học hạn chế,
xếp những em này vào cùng nhóm với những em có cảm thụ văn học tốt để các
em cùng nhau tham gia trao đổi thảo luận về nội dung của tác phẩm. Từ đó học
sinh có thể rút ra được ý đoạn, nội dung bài và dẫn đến việc học sinh phát hiện
được cách đọc phù hợp với đoạn, với bài.
2.3.4. Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm
Sau khi học sinh đã đọc đúng, đọc lưu loát, hiểu nội dung của bài tập đọc,
tôi tiến hành luyện đọc diễn cảm cho các em. Đây là giai đoạn quyết định để đạt
yêu cầu cuối cùng của kĩ năng đọc văn đối với học sinh lớp 4. Đọc diễn cảm là
hình thức đọc có tính đặc thù với quan niệm nhằm mục đích rèn kĩ năng đọc và
kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh. Đây vừa là hoạt động nhận tin, vừa là
hoạt động phát tin. Người đọc trở thành môi giới nối liền tác phẩm với người
nghe.
Vì vậy, khi hướng dẫn đọc diễn cảm trước tiên tôi hướng dẫn học sinh xác
định đúng kiểu văn bản để xác định giọng đọc chung của bài: Giọng đọc một
văn bản công vụ, hành chính, một mẫu tin khác với giọng đọc một văn bản nghệ
thuật. Khi đọc các văn bản nghệ thuật khác với giọng đọc truyện, khác với giọng
đọc kịch, đọc thơ. Giọng đọc một văn bản miêu tả khác giọng đọc một bài văn
12
tường thuật… Như vậy, đọc diễn cảm là việc đọc thể hiện kĩ năng làm chủ ngữ
điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong văn bản được
đọc. Do đó, khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, giáo viên phải chú ý hướng
dẫn học sinh:
* Chọn ngữ điệu đọc thích hợp:
người dẫn chuyện trong toàn bài đọc với giọng nhẹ nhàng. Ba dòng cuối bài
13
(hồi tưởng của Cương về cảnh lao động hấp dẫn ở lò rèn): đọc chậm với suy
tưởng, sảng khoái, hồn nhiên.
Hay trong bài “Khuất phục tên cướp biển” (Tiếng Việt 4, tập 2, trang 66)
cùng là câu hỏi nhưng trong đoạn đối thoại sau, tính cách của hai nhân vật khác
nhau nên sắc thái giọng đọc cũng thể hiện khác nhau hoàn toàn.
Chúa tàu trừng mắt nhìn Bác sĩ, quát :
- Có câm mồm không? (đọc giọng thể hiện sự hung hãn của tên cướp khi đập
tay xuống bàn quát Bác sĩ Ly)
Bác sĩ điềm tĩnh hỏi :
- Anh bảo tôi phải không?(giọng tự tin, điềm tĩnh nhưng hết sức nghiêm nghị).
Khi tên chúa tàu cục cằn bảo “phải”, bác sĩ nói :
- Anh cứ uống rượu mãi như thế thì đến phải tống anh đi nơi khác .
Cơn giận của tên cướp thật dữ dội. Hắn đứng phắt dậy, rút soạt dao ra, lăm lăm
chực đâm. Bác sĩ Ly vẫn dõng dạc và quả quyết :
- Nếu anh không cất dao, tôi quyết làm cho anh bị treo cổ trong phiên tòa
sắp tới. (giọng đọc bình tĩnh, cương quyết bảo vệ lẽ phải)
(Với những văn bản truyện tôi cho học sinh phân vai để làm sống lại nhân
vật của tác phẩm).
Mặt khác, khi đọc diễn cảm, người đọc phải làm chủ được chỗ ngắt giọng
(ngắt giọng biểu cảm), làm chủ được tốc độ đọc (độ nhanh, chậm, chỗ ngân hay
dãn nhịp đọc), làm chủ được cường độ đọc, (đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay lơi
giọng) và làm chủ cao độ (độ cao của giọng, lên giọng hay hạ giọng). Vì vậy, ở
tiểu học khi dạy đọc diễn cảm giáo viên cần phải lưu ý một số kĩ thuật sau:
* Ngắt giọng biểu cảm (còn gọi là ngắt giọng tâm lý: ngắt giọng dù không có
dấu câu với ý gây ấn tượng). Nếu ngắt giọng lôgíc thiên về trí tuệ thì ngắt giọng
biểu cảm thiên về cảm xúc. Ngắt giọng biểu cảm là những chỗ ngừng, chỗ lắng,
ý trên học sinh đã thể hiện rất tốt cách đọc như sau:
“Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn/ để chờ đợi một nàng tiên áo xanh
bay xuống từ trời/ và bao giờ cũng hy vọng khi tha thiết cầu xin: //
"Bay đi ...diều ơi// Bay đi..."
Hay trong bài “ Tre Việt Nam” (Tiếng Việt 4, tập 1, trang 41) Kĩ thuật lơi giọng
xuất hiện ở sau“ chuyện ngày xưa”
Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh.
* Cách đọc nhấn giọng: Tôi có thể cho học sinh tìm từ gợi tả, gợi cảm, từ
trung tâm để làm bật lên ý chính của đoạn văn, đoạn thơ từ đó học sinh biết nhấn
giọng các từ, cụm từ đó khi đọc bài.
Ví dụ: khi cho học sinh luyện bài đọc diễn cảm bài: “Bè xuôi sông La”
(Tiếng Việt 4, tập 2, trang 26 ). Yêu cầu học sinh biết đọc diễn cảm bài thơ với
giọng nhẹ nhàng, trìu mến, phù hợp với nội dung miêu tả vẻ đẹp thanh bình yên
ả của dòng sông La, với tâm trạng của người đi bè say mê ngắm cảnh và ước mơ
về tương lai.
Tôi giúp học sinh biết nhấn giọng các từ ngữ làm nổi bật vẻ đẹp của dòng
sông La và bè gỗ trôi trên sông rất cụ thể, sống động qua các cụm từ: trong veo,
mươn mướt, lượn đàn thong thả, lim dim, đằm mình, êm ả, long lanh, hót. Từ đó
học sinh có cách đọc phù hợp với nội dung khổ thơ:
“ Sông La ơi sông La
Trong veo/ như ánh mắt
Bờ tre xanh im mát
Mươn mướt đôi hàng mi
Bè đi chiều thầm thì
Gỗ lượn đàn thong thả
Như bầy trâu lim dim
16
học sinh của lớp tôi đã đọc tốt hơn.
Luyện đọc diễn cảm yêu cầu phải có thời gian thực hiện luyện tập lâu dài,
kiên trì. Vì thế tôi đã hết sức khéo léo lồng ghép luyện đọc diễn cảm vào từng
bước lên lớp trong giờ Tập đọc chứ không phải chỉ luyện đọc diễn cảm ở phần
đọc diễn cảm. Tôi chú ý lồng ghép đọc diễn cảm vào các phần khác mà không
làm đứt mạch gián đoạn bước lên lớp. Chỉ lồng ghép khi có điều kiện thuận lợi
và đảm bảo phù hợp với trình độ năng lực của học sinh trong lớp.
17
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau khi nghiên cứu và vận dụng đề tài trên vào việc dạy tập đọc cho học sinh
lớp 4B do tôi chủ nhiệm, hết tuần học 34 năm học 2016-2017, tôi tiến hành khảo
sát học sinh, thống kê kết quả, so với ban đầu kết quả đạt như sau:
Lần
Sĩ số
Đọc ê-a,
Đọc to, rõ
phát âm sai
Đọc đúng
ràng, hiểu Đọc diễn cảm
nội dung bài
1
31 em
12 em
12 em
6 em
1 em
(Tuần 4)
- Đọc diễn cảm: tăng từ 1 lên 11 học sinh; tương đương tăng 32,2 %
- Đọc trôi chảy, hiểu nội dung bài: tăng từ 6 lên 14 học sinh, tương đương
tăng 25,8%.
Tôi thấy mình đã tìm đúng hướng và cách dạy đúng đặc trưng bộ môn.
Các em học sinh rất hứng thú trong giờ tập đọc. Bước đầu các em biết đọc diễn
cảm ở tất cả các bài Tập đọc.
Các văn bản nghệ thuật được nhiều em đọc hay, hấp dẫn. Các em biết
mạnh dạn hơn, biết tìm giọng đọc đúng ngữ điệu, sắc thái, lời nhân vật. Biết
nhận xét bạn để cùng tìm giọng đọc của bài, của đoạn.
Các em thêm yêu thơ văn, có kĩ năng đọc diễn cảm bằng lời tương đối tốt,
biết dùng từ ngữ, hình ảnh chọn lọc để viết đoạn văn, bài văn hay.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Trong thời đại ngày nay - thời đại của tri thức và trí tuệ, của khoa học công
nghệ và thông tin. Biết đọc càng quan trọng vì nó giúp người đọc sử dụng các
nguồn thông tin, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội. Dạy đọc diễn cảm
cho cho học sinh là điều hết sức cần thiết đó chính là hình thành văn hóa đọc
cho học sinh, kích thích óc sáng tạo, mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng
tình cảm, nhân cách cho học sinh, tạo ra và phát triển thói quen đọc, sở thích
đọc, kĩ năng đọc cho các em. Vì vậy, là một giáo viên trực tiếp dạy lớp 4 tôi
nhận thấy: Muốn rèn đọc diễn cảm cho học sinh tốt thì điều kiện quan trọng nhất
18
là giáo viên. Bởi giáo viên là người trực tiếp hướng dẫn các em cách đọc đúng,
đọc hay. Do đó, giáo viên phải rèn luyện để có giọng đọc mẫu thật chuẩn vì
giọng đọc của giáo viên ảnh hưởng sâu sắc đến học sinh. Các em không chỉ lắng
nghe cô đọc mà còn coi đó là chuẩn mực để bắt chước, so sánh, đánh giá với
giọng đọc của mình. Vì vậy, giáo viên cần chuẩn bị chu đáo mỗi từ ngữ, lời nói
đều phải chuẩn mực.
19
+ Đề nghị Hội đồng khoa học của ngành phổ biến những kinh nghiệm giảng dạy
có chất lượng để giáo viên học tập kinh nghiệm giảng dạy của đồng nghiệp.
Qua quá trình nghiên cứu, tích lũy và đúc kết kinh nghiệm trong quá trình
giảng dạy tôi viết sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc
diễn cảm cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hải Châu”. Dưới sự chỉ đạo của
BGH, với khả năng có hạn của bản thân, trong quá trình thực hiện chắc còn
nhiều hạn chế, sai sót, tôi rất mong được sự góp ý của các cấp quản lý và bạn bè
đồng nghiệp để sáng kiến được áp dụng có hiệu quả.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 10 tháng 11 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết
Lê Thị Hoa
20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các phương pháp dạy môn tiếng Việt trong nhà trường.
2. Dạy học tập đọc ở Tiểu học.
3. Đặc san giáo dục Tiểu học.
4. Hỏi đáp về dạy học tiếng Việt
5. Sách giáo viên Tiếng Việt 4 tập 1.
6. Sách giáo viên Tiếng Việt 4 tập 2.
4.
5.
6.
22