SKKN một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 4a trường tiểu học định hưng yên định thanh hóa - Pdf 57

MỤC LỤC
TT
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.3.5
2.3.6
2.4
3
3.1
3.2

Nội dung

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Lý do chọn đề tài
1
Mục đích nghiên cứu
2

13
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
15
Kết luận
15
Kiến nghị
15

1


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Môn học Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ quan trọng, trau dồi
ngôn ngữ cho học sinh, trang bị cho học sinh những tri thức Việt ngữ học và
quy tắc sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp.
Trong các phân môn của bộ môn Tiếng Việt, chính tả là một trong những
phân môn có vai trò quan trọng, bởi đây là phân môn hình thành, rèn luyện và
phát triển kỹ năng viết. Rèn chữ viết chính tả cung cấp cho học sinh biết quy tắc
chính tả và thói quen viết chữ ghi âm Tiếng Việt đúng và chuẩn. Nắm vững
chính tả, học sinh mới có thể nói được, viết được, nói hay, viết hay… góp phần
giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt- thứ của cải vô cùng quý báu của dân tộc
ta.
Sự thống nhất chính tả thể hiện tính thống nhất của một ngôn ngữ. Chính
tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị trở ngại giữa
các địa phương, cũng như giữa các thế hệ với nhau. Giải quyết lỗi chính tả trong
nhà trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần hoàn thành mục
tiêu giáo dục đề ra.
Trên thực tế, hiện tượng viết sai chính tả là khá phổ biến ở học sinh lớp 4.
Mặc dù những qui tắc, qui ước về Chính tả đã được thống nhất theo ngữ pháp

2. Phương pháp thống kê, phân tích.
3. Phương pháp thực nghiệm.
4. Phương pháp đối chiếu và so sánh kết quả sau khi vận dụng các biện
pháp trên.

3


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Tiếng Việt là ngôn ngữ chung thống nhất trên toàn đất nước Việt Nam,
nhưng mỗi vùng đều có sự khác biệt nhiều cách phát âm của từng địa phương
khác nhau, dẫn đến tình trạng viết sai chính tả do phát âm. Con người không chỉ
giao tiếp bằng ngôn ngữ nói mà còn giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Chính vì vậy,
yêu cầu đặt ra trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết là làm sao phải đảm bảo
được người đọc hiểu đúng hoàn toàn ý nghĩa, nội dung trong văn bản của người
viết. Viết đúng chính tả là giúp cho học sinh có điều kiện sử dụng Tiếng Việt đạt
hiệu quả cao trong việc học tập các môn học khác ở nhà trường. Để đạt được
yêu cầu này trên lĩnh vực chữ viết phải được thể hiện một cách thống nhất trên
từng con chữ, từng âm tiết Tiếng Việt.
Về cơ bản chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, mỗi âm vị được ghi
bằng một con chữ. Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng Việt
là thống nhất với nhau. Bởi theo nghĩa gốc thì “chính tả” tức là “ phép viết
đúng” hay “ lối viết hợp với chuẩn”.
Qua các bài viết chính tả, rèn luyện cho học sinh “ có tính kỉ luật, tính
cẩn thận và óc thẩm mĩ”. Đồng thời bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng
Việt, chữ viết, cách biểu thị tình cảm được thể hiện trong việc viết đúng chính tả.
Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả như
thế nên phân môn chính tả đã được đưa vào chương trình giảng dạy của trường
phổ thông. Cụ thể , phân môn chính tả đã được giảng dạy ở tất cả các lớp trong

học tập của các em còn hạn chế, không đồng bộ…
- Giáo viên chưa luyện cho học sinh phát âm chuẩn, viết đúng chính tả
trong tất cả các môn học ví dụ vẫn còn nhiều giáo viên nói tiếng địa phương
như: nói ngã ngửa thành ngả ngửa hoặc rực rỡ thành dực dở.
- Học sinh chưa có tính cẩn thận, còn hay viết cẩu thả, viết nhanh, viết
ngoáy, trình bày chưa khoa học bài chính tả. Ví dụ: Các em chưa viết đúng độ
cao, độ rộng, khoảng cách các con chữ; viết dấu thanh quá to và vị trí dấu thanh
chưa đúng hay chưa chú ý trình bày bài đặc biệt là các dạng bài thơ.
- Giáo viên chưa kết hợp linh hoạt một số biện pháp như: Tăng cường
khâu nhận xét, chữa bài, đánh giá đúng chất lượng học sinh, tạo hứng thú thi đua
trong học tập; Kết hợp với phụ huynh, đồng nghiệp để phối hợp rèn luyện cho
học sinh viết đúng chính tả.
2.2.2. Kết quả của thực trạng:
Từ những thực trạng trên, ngay sau khi nhận lớp, tôi đã tổ chức khảo sát,
đánh giá chất lượng chữ viết của học sinh lớp 4A vào tuần đầu năm và tôi đã thu
được kết quả như sau:
KẾT QUẢ KHẢO SÁT BÀI VIẾT CỦA HỌC SINH LỚP 4A.
(Sĩ số lớp 32 em)
Bảng 1
- Các em thường sai một số lỗi chính tả phổ biến như sau:
Lỗi về
phụ âm
SL
%
10 31,2

Lỗi về vần

Lỗi về dấu
thanh

STT
1
2
3

Xếp loại
Loại A
Loại B
Loại C

SL
20
9
3

Tỉ lệ %
62,5
28,1
9,4

5


Bản thân tôi rất băn khoăn trước kết quả trên. Quan tâm đến chữ viết của
học sinh giúp các em viết đúng, viết đẹp là một việc làm hết sức cần thiết của
mỗi giáo viên đứng lớp nói riêng. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn đưa ra:
“Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 4A trường
Tiểu học Định Hưng – Yên Định – Thanh Hóa ”
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Đối chiếu với chuẩn kiến thức và kĩ năng của phân môn chính tả lớp 4,

trước và sau nó. Qua đó có thể đánh giá được mức độ hoàn thành những kiến
thức và kĩ năng của môn học cũng như các năng lực, phẩm chất của học sinh.
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là hình thành cho học sinh 4 kĩ
năng: nghe, nói, đọc, viết. Chính vì thế tôi luôn tâm niệm rằng: Có thầy giỏi thì
6


mới có trò giỏi. Để giúp học sinh viết đúng chính tả thì trước hết đòi hỏi người
giáo viên phải nắm vững kiến thức về Tiếng Việt, mục tiêu, nội dung, phương
pháp dạy học môn Tiếng Việt. Vì chỉ khi hiểu rõ được bản chất của chính tả,
chính âm, ngữ nghĩa Tiếng Việt thì người giáo viên mới lựa chọn được phương
pháp dạy học phù hợp, tìm tòi con đường tối ưu nhất để giúp học sinh tiếp cận
kiến thức một cách dễ dàng nhất, hứng thú nhất. Hơn thế nữa, ở mỗi bài học tôi
luôn xác định kiến thức trọng tâm học sinh cần đạt là gì, đặt ra các tình huống sư
phạm và cách giải quyết, hình thức tổ chức ra sao. Ngoài việc trao đổi học tập
kinh nghiệm từ đồng nghiệp, tôi còn tự học, tự bồi dưỡng qua sách báo, các tài
liệu tham khảo, cập nhật những kiến thức và thông tin bổ ích nhằm tăng thêm
hiểu biết của bản thân. Vì vậy, để giúp học sinh viết đúng chính tả thì việc nắm
vững mục tiêu, nội dung, kiến thức, phương pháp dạy học môn Tiếng Việt là vô
cùng quan trọng và cần thiết đối với người giáo viên Tiểu học.
2.3.3: Giúp học sinh nắm vững kiến thức Tiếng Việt (hiểu nghĩa từ,
cấu tạo tiếng, ghi nhớ luật chính tả để viết đúng).
Trước hết, tôi nghiên cứu tìm tòi để lựa chọn phương pháp tối ưu và hình
thức tổ chức dạy học phong phú, phù hợp với nội dung và đối tượng. Để giúp
học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt, viết đúng chính tả, tôi luyện
cho các em phân biệt chính tả bằng phương pháp phân tích so sánh cấu tạo tiếng;
hiểu nghĩa của từ; ghi nhớ một số mẹo luật chính tả; vận dụng bằng các bài tập
chính tả. Cụ thể như sau:
2.3.3.1: Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh cấu tạo tiếng:
Với loại bài tập này, tôi áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so

các nhân vật có trong .... Đừng biến giờ kể ... thành giờ đọc ....
Với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ
thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ.
2.3.3.3: Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:
Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có
thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu. Ngay từ
lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k,
gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê.
Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ngã trong các từ láy (mát mẻ,
vui vẻ, sạch sẽ...) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố
ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ
được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên tắc :
Ngang- sắc = hỏi / Huyền- nặng = ngã
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh
huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng
trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc
ngược lại).
Ví dụ:

Ngang + hỏi: nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ…

Sắc + hỏi: mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ…

Hỏi + hỏi: thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ…

Huyền + ngã: mỡ màng, lững lờ, vồn vã

Nặng + ngã: đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã…

Ngã + ngã: dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…

Ví dụ một số dạng bài tập như sau:
Dạng 1. Điền vào chỗ trống s hay x. (Tuần 2)
….anh ….anh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc bên bờ ….ông
Đứng bên này ….ông ….ao nhớ tiếc
….ao ….ót ….a như rụng bàn tay
Dạng 2.Tìm tiếng có vần iên hay uyên thích hợp với mỗi chỗ trống
dưới đây.(Tuần 4)
Chỉ có …………..mới hiểu
………… mênh mông nhường nào
Chỉ có ………… mới biết
………….. đi đâu về đâu.
Dạng 3. Sửa lại cho đúng chính tả các thành ngữ, tục ngữ sau: (Tuần
8)
- Quạ tắm thì dáo, xáo tắm thì mưa.
- Xông xâu chớ lội, đò đầy chớ qua.
Dạng 4. Điền vào chỗ trống r , d hay gi. (Tuần 15)
…..ây mơ ….ễ má
…..ấy trắng mực đen
…..eo ……ó gặt bão
…..ối …..ít tít mù
…...anh lam thắng cảnh
…..út …..ây động rừng
…..ương đông kích tây
Dạng 5. Điền vào chỗ trống các tiếng có phụ âm đầu tr hay ch.(Tuần
16)
Trận đấu ………kết
Vô tuyến ………….hình
9


đến viết là “dụt dè”…
Phát hiện những lỗi sai cơ bản trên, tôi luôn chú trọng luyện cho các em
phát âm chuẩn ở tất cả các môn học - đặc biệt là phân môn tập đọc. Tôi thường
đọc mẫu những từ các em dễ đọc sai rồi yêu cầu các em phát âm lại. Khi đã có
một vài em phát âm chuẩn, tôi cho em đó phát âm mẫu trước các bạn. Bởi có
câu: “Học thầy không tày học bạn”. Tôi luôn khuyến khích các em sửa sai cho
nhau cả trong khi học cũng như khi chơi. Tôi còn tạo không khí sôi nổi, phong
trào thi đua thông qua các hình thức ngoại khoá như thi đố vui, trò chơi ngôn
ngữ, luyện đọc ngoài giờ…
Ví dụ với các dạng bài sau:
Ví dụ 1.( Tuần 6) Thi tìm các từ:
a/ Chỉ khác nhau ở âm đầu s hoặc x
Mẫu: Nước sôi- Đĩa xôi
b/ Chỉ khác nhau ở âm chính i hoặc iê
Mẫu: Lòng tin- Nàng tiên
c/ Chỉ khác nhau thanh hỏi hoặc thanh ngã
Mẫu: Cái đĩa- Con đỉa
10


Ví dụ 2. (Tuần 5)
a/ Thi tìm các từ láy chứa tiếng có thanh hỏi.
Mẫu: lủng lẳng.
b/ Thi tìm các từ láy chứa tiếng có thanh ngã.
Mẫu: ngoan ngoãn.
Ví dụ 3. ( Tuần 12)
a/ Thi tìm các tính từ có 2 tiếng đều bắt đầu bằng l.
Mẫu: lạnh lùng.
b/ Thi tìm các tính từ có 2 tiếng đều bắt đầu bằng n.
Mẫu: nóng nực.

không cao quá khó viết và không thấp quá mực dễ vào tay. Không chỉ trong giờ
dạy chính tả mà ở các tiết học khác, tôi luôn nhắc nhở các em nhớ và ngồi đúng,
tạo thói quen cho học sinh.
11


Để rèn học sinh tính khoa học, tôi yêu cầu các em viết đúng độ cao con
chữ bằng cách chia độ cao các chữ thành 4 nhóm ( Đối với chữ viết thường)
Nhóm 1: Nhóm chữ cao 1 đơn vị như i, e, ê, m, n…
Nhóm 2: Nhóm chữ cao 1,25 đơn vị như r,s.
Nhóm 3: Nhóm chữ cao 1,5 đơn vị như t.
Nhóm 4: Nhóm chữ cao 2,5 đơn vị như h, l, b, k, y, g.
Ngoài việc luyện viết chữ đẹp ở tiết chính tả, tôi luôn quan tâm nhắc nhở
các em cần phải viết đúng, nắn chữ ở những tiết học khác. Cứ đặt bút viết là các
em phải viết cẩn thận, đẹp như đang trong giờ tập viết. Với sự tỉ mỉ, bền bỉ theo
kiểu mưa dầm thấm lâu như vậy thì dần dần các em mới quen tay viết đẹp được.
Trong các tiết dạy, cứ phát hiện được bài viết của bạn nào đẹp, đúng cỡ chữ là
tôi tuyên dương trước lớp, nhằm khuyến khích các em viết đẹp hơn.
2.3.6: Phối hợp linh hoạt một số biện pháp khác:
2.3.6.1: Tăng cường khâu nhận xét, chữa bài, đánh giá đúng chất
lượng học sinh, tạo hứng thú thi đua trong học tập.
Để giúp học sinh viết đúng chính tả, việc nhận xét, chữa bài cũng rất quan
trọng, giúp các em biết tự sửa lối sai của mình, nhớ viết đúng, lần sau không bị
mắc lỗi sai đó. Có nhiều hình thức chấm chữa bài, nhưng tôi thường sử dụng
biện pháp như sau:
Sau khi viết bài xong, tôi đọc chậm cho các em soát bài sau đó cho các
em đổi chéo vở cho nhau (2 em ngồi cạnh nhau) theo sự chỉ đạo của giáo viên.
Nếu phát hiện ra lỗi sai của bạn, kịp thời bảo bạn sửa lại ngay. Sau khi các em
thực hiện xong, tôi cho các em nêu kết quả mình đã được kiểm tra vở bạn.
Từ việc học sinh tự sửa lỗi, theo tôi có những điểm tích cực sau đây:

Đây là một thành công lớn của tôi và sự tiến bộ của học sinh là nguồn
động viên khuyến khích tôi càng hăng say thực hiện mong muốn của mình.
2.3.6.2: Kết hợp với phụ huynh, đồng nghiệp để phối hợp rèn luyện cho
học sinh viết đúng chính tả.
Ngoài việc rèn chữ viết cho học sinh ở lớp, tôi còn gặp gỡ phụ huynh để
trao đổi về tầm quan trọng của chữ viết, thông báo về tình hình học tập và khả
năng chữ viết của con em. Từ đó, giúp phụ huynh kèm cặp và bảo ban thêm học
sinh học.
Qua quá trình phối kết hợp chặt chẽ giữa tôi và gia đình học sinh, đến nay
phụ huynh đã nhận thấy tầm quan trọng của chữ viết và đã có sự trang bị về cơ
sở vật chất như bàn học đúng quy cách, bút, vở, sách tham khảo, ánh sáng…ở
nhà cho các em. Chính vì thế mà chỉ sau một thời gian, học sinh lớp tôi phụ
trách không những viết đúng chính tả, viết đẹp mà còn phát âm chuẩn Tiếng
Việt.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến:
Trong năm học 2017- 2018, tôi đã vận dụng các giải pháp trong sáng kiến
vào việc giảng dạy phân môn chính tả cho học sinh. Sau gần một năm học, kết
quả được nâng lên rõ rệt. Học sinh biết cách trình bày bài một cách khoa học
hơn, chữ viết tương đối đều, đẹp, cẩn thận và ít sai lỗi chính tả. Điều đáng mừng
hơn là khi học phân môn Tập làm văn và các môn học khác các em có thói quen
viết đúng chính tả, trình bày bài sạch đẹp. Đến tuần 30 thì chất lượng chữ viết
của học sinh trong phân môn chính tả được đánh giá theo tiêu chí vở sạch chữ
đẹp ở lớp 4A như sau:
KẾT QUẢ KHẢO SÁT LỚP 4A.
Bảng 2
Số lỗi sai đã giảm đi rất nhiều:
Lỗi về
phụ âm
SL
%

SL
0

%
0

Nhờ đó chất lượng vở sạch – chữ đẹp đã được nâng lên rõ rệt:
13


STT
1
2
3

Xếp loại
Loại A
Loại B
Loại C

SL
28
4
0

Tỉ lệ %
87,5
12,5
0


phi thng xuyờn, liờn tc v ng b cỏc khi trong cp hc. Rốn cho hc
sinh vit p khụng mc li chớnh t cũn gúp phn quan trng vo vic gi gỡn
s trong sỏng ca Ting vit. Vỡ vy giỳp hc sinh lp 4 vit ỳng chớnh t,
theo tụi thỡ mi thy cụ giỏo cn:
- Tỡm hiu c im tỡnh hỡnh ca lp v phõn loi hc sinh theo tiờu chớ
ch vit.
- Nm vng mc tiờu, ni dung, phng phỏp dy hc mụn Ting Vit.
- Giỳp hc sinh nm vng kin thc Ting Vit ( hiu ngha t, ghi nh
lut chớnh t vit ỳng).
- Luyn cho hc sinh phỏt õm chun ( núi ting ph thụng) trong cỏc mụn
hc v mi tỡnh hung giao tip.
- Rốn luyn cho hc sinh tớnh khoa hc, tớnh cn thn, tớnh thm m.
- Tng cng khõu cha bi, ỏnh giỏ ỳng cht lng hc sinh, to hng
thỳ thi ua trong hc tp.
- Kt hp vi ph huynh, ng nghip phi hp rốn luyn cho hc sinh
vit ỳng chớnh t.
- Cú lũng yờu ngh, mn tr, tn tu, kiờn trỡ, khụng núng vi, quan tõm
n hc sinh bng tỡnh cm ca ngi m, ngi ch.
Vi vic ỏp dng cỏc gii phỏp ny vo vic giỳp hc sinh vit ỳng chớnh
t lp 4 núi chung, cỏc vựng nụng thụn nh nh Hng núi riờng tụi chc
chn rng s mang li kt qu cao. Gúp phn khụng nh vo vic thc hin
thng li mc tiờu giỏo dc Tiu hc hin nay
3.2. Kin ngh
- i nh phũng : Hng nm, Phũng Giỏo dc v o to nờn t chc thi
vit ch p cho giỏo viờn v hc sinh Tiu hc.
- i nh trng: Cn b sung thờm cỏc u sỏch tham kho v i mi
phng phỏp dy mụn Ting Vit trong ú cú phõn mụn Chớnh t.
- i vi giỏo viờn.
Mi giỏo viờn phi t rốn luyn v k nng vit, k nng trỡnh by. c bit
cn nõng cao cht lng c v phỏt õm chun.



1. Chuẩn kiến thức và kĩ năng các môn học lớp 4 - Nhà xuất bản Giáo dục
2. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 chương trình cải cách giáo dục.
3. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 4 chương trình cải cách giáo dục.
4. Tài liệu hướng dẫn dạy học Tiếng Việt lớp 4 chương trình 2000.
5. Phương pháp dạy học Tiếng Việt - Lê Phương Nga - Nhà xuất bản Đại
học Sư phạm Hà Nội - Năm 2012.

DANH MỤC
17


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
THIỀU THỊ THU
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên
Trường Tiểu học Định Hưng
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
Năm học
giá xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A, B,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status