Tóm tắt luận văn: Vận dụng phương pháp dự án trong dạy học Địa Lí lớp 12 – THPT theo hướng tích cực - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1.Thực trạng dạy và học: Ngày nay, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ
xuất hiện hết sức bất ngờ và đổi mới một cách cực kì nhanh chóng. Theo đó hệ thống
giáo dục cũng đặt ra những yêu cần phải đổi mới. Nước ta đang trên con đường hội
nhập và phát triển nên đổi mới giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là
hết sức cần thiết.
1.2.Những đòi hỏi phát triển của xã hội: Vấn đề đặt ra với nhà trường là
làm thế nào để học sinh có thể làm chủ, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ
động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Đó thực sự
là một thách thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung, nhà trường, giáo viên nói
riêng. Giáo viên không chỉ là người mang kiến thức đến cho học sinh mà cần dạy cho
học sinh cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo cho việc tự học suốt đời.
1.3.Những đòi hỏi từ sự phát triển kinh tế: Để thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có
nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng, có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và
chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng công việc với hiệu quả cao. Ngành giáo
dục không ngừng đổi mới trong đó cần quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học
để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
1.4. Tâm sinh - lý người học: Nếu như dạy học không quan tâm đến đặc điểm
người học, giáo viên truyền thụ một chiều, dạy kiến thức mang tính thông báo đồng
loạt thì sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của người học, người học hoàn toàn thụ động
trong việc lĩnh hội kiến thức, đồng thời cũng sẽ thụ động trước những thách thức khó
khăn của cuộc sống. Vì vậy cần thiết phải có những phương pháp dạy học phù hợp
với yêu cầu của tình hình mới.
1.5. Ở nước ta, mục tiêu giáo dục với quan điểm giáo dục toàn diện, chú
trọng bốn mặt: trí, đức, thể, mĩ nhằm đào tạo những người lao động mới có khả
năng xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định rằng Dạy học
dự án, nếu được thiết kế và tổ chức thực hiện đúng đắn sẽ là công cụ hữu hiệu để thực
hiện phương châm: “Học đi đôi với Hành, Lí luận gắn liền với Thực tiễn”;
1.6. Môn Địa lí lớp 12 trang bị cho học sinh những vấn đề rất cơ bản và sâu

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Nghiên cứu cách thức vận dụng phương pháp DHDA trong môn
Địa lí 12 có hiệu quả nhằm đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học ở trường Trung học phổ thông.
- Nhiệm vụ:
 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế và tổ chức thực
hiện các dự án trong dạy học Địa lí 12
 Xác định được hệ thống và cách thức thiết kế các dự án trong dạy học
Địa lí 12.
 Thiết kế một số dự án trong dạy học Địa lí 12
 Tổ chức thực hiện các dự án trong dạy học Địa lí 12
 Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của đề
tài nghiên cứu.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cách thức và phương pháp tổ chức cho học sinh thực
hiện các dự án trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo hướng tích cực.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ hiệu quả phương pháp dạy học theo
dự án thông qua môn Địa lí 12
+ Thiết kế và tổ chức một số dự án tiêu biểu trong chương trình Địa lí 12
– THPT

2


Căn cứ vào nội dung chương trình Địa lí lớp 12, căn cứ vào những vấn đề
thực tiễn đất nước, các khu vực và địa phương liên quan, chúng tôi tập trung vào các
vấn sau đây:
 Vấn đề Địa lí tự nhiên: Bài đại diện: Bài 15. Bảo vệ môi trường và phòng

7.Cấu trúc của Luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, chương 1, chương 2, chương 3, kết luận. Trong
đó:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp Dự án
trong dạy học Địa lí 12 – THPT.
Chương 2: Thiết kế và tổ chức Dự án trong dạy học Địa lí 12 – THPT.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

3


Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12- THPT THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

1.1.Cơ sở lí luận
1.1.1.Phương pháp dạy học dựa trên dự án
1.1.1.1. Khái niệm dạy học dự án
“Dạy học dự án là một phương pháp dạy học phức hợp, điển hình
về xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm, trong đó giáo viên tổ chức hướng
dẫn người học tự lực thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp thông qua quá trình
giải quyết một bài tập tình huống sát với thực tiễn gắn liền với nội dung bài dạy – dự
án, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu
được, người học tham gia vào hầu hết các khâu trong quá trình thực hiện dự án: từ
việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, đánh
giá quá trình và kết quả thực hiện; làm việc nhóm và tích hợp CNTT là phương thức
cơ bản của dạy học dự án. Qua đó người học lĩnh hội, vận dụng kiến thức và rèn
luyện kĩ năng hành động, sáng tạo của thế kỉ XXI ”
1.1.1.2. Những đặc điểm quan trọng của dạy học dự án
Trong các tài liệu về DHDA có rất nhiều đặc điểm được đưa ra. Các nhà sư

thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho PPDH truyền
thống.
DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
DHDA đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và lên kế hoạch thật chu đáo thì mới lôi
cuốn được người học tham gia tích cực, vì vậy yêu cầu giáo viên phải có trình độ
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, tích cực, yêu nghề.
1.1.2.Những lí luận về thiết kế dự án học tập
Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia tiến trình
của DHDA làm nhiều giai đoạn khác nhau. Thường DHDA có thể tiến hành theo 6
bước sau:
Bước 1: Lựa chọn chủ đề
Bước đầu tiên là lựa chọn chủ đề. Giáo viên cần tìm hiểu các chủ đề học sinh
quan tâm để tạo cơ sở cho cả lớp tham gia tích cực vào một chủ đề trong một khoảng
thời gian đủ dài.
Bước 2: Lập kế hoạch
Bước thứ hai là “thương thảo”. Trong bước này, học sinh và giáo viên cùng
hình thành các câu hỏi cụ thể, phân công và thống nhất nhiệm vụ.
Bước 3: Thu thập thông tin
Bước thứ ba là bước “thu thập dữ liệu”.Trong bước này, giáo viên có thể hỗ trợ
để học sinh khai thác sâu các yếu tố cho dự án, giúp học sinh có được cách tiếp cận
sâu hơn với dự án.
Bước 4: Xử lý thông tin
Trong bước thứ tư, học sinh sẽ bắt đầu xử lý các tài liệu thu thập được. Bước 4
được gọi là bước “phát triển”. Học sinh sẽ kết hợp các yếu tố, giải nghĩa các yếu tố
đơn lẻ và sẽ có cái nhìn toàn cảnh về những gì đã khám phá và tìm hiểu.
Bước 5: Trình bày kết quả
Trong bước 5 học sinh sẽ trình bày kết quả công việc của mình.Các hình thức
báo cáo có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau: triển lãm, thuyết trình, góc
trưng bày trong lớp, múa rối, tác phẩm nghệ thuật, dã ngoại, các sự kiện...
Bước 6: Đánh giá kết quả

Đặc điểm chương trình SGK Địa lí 12 có những ảnh hưởng nhất định đến việc
thiết kế và tổ chức cho HS thực hiện dự án, cụ thể:
Chương trình Địa lí 12 Cơ bản được biên soạn dựa theo chương trình
giáo dục phổ thông môn Địa lí.Chương trình bao gồm 5 phần: Địa lí tự nhiên, Địa lí
dân cư, Địa lí các ngành kinh tế, Địa lí các vùng kinh tế và Địa lí địa phương. Mỗi
phần có một vai trò nhất định trong việc trang bị kiến thức cho HS để tạo nên chương
trình tổng thể, tương đối hoàn chỉnh về Địa lí Tổ quốc trên cơ sở kế thừa và phát triển
chương trình Địa lí ở THCS.
Về nội dung chương trình Địa lí 12- THPT: Địa lí 12 – Địa lí Việt Nam
gồm 2 mảng nội dung chính: Địa lí tự nhiên và Địa lí Kinh tế - Xã hội Việt Nam,
được nối tiếp và nâng cao từ chương trình Địa lí THCS.
Về hình thức trình bày: Tương tự như cấu trúc SGK ở các lớp dưới, các
bài học trong SGK Địa lí 12 được cấu tạo tương đối độc lập, gồm một hệ thống kênh
chữ và kênh hình, hệ thống câu hỏi giữa bài và câu hỏi cuối bài thống nhất và bổ sung
cho nhau.
Hình thức kiểm tra, đánh giá: Vẫn duy trì hình thức đánh giá và cho
điểm dựa vào các bài kiểm tra, bài tập, vở ghi chép, trong đó DHDA chú trọng cả
đánh giá quá trình và đánh giá kết quả.
Nhìn chung, chương trình, SGK Địa lí 12 cơ bản là địa chỉ phù hợp nhất
để ứng dụng phương pháp DHDA.
1.2.3. Giáo viên Địa lí - THPT
Về trình độ chuyên môn với việc tiếp cận phương pháp DHDA: Các GV đều
có chuyên môn vững vàng, sẽ nảy sinh ý tưởng và phát triển các bài học thành dự án.
Về kĩ năng tổ chức các hoạt động học tập: GV cơ bản thành thạo các kĩ
6


năng xây dựng kế hoạch, kĩ năng tổ chức nhóm trên lớp trong những lớp học đông
học sinh.
Về trình độ công nghệ thông tin và truyền thông(CNTT&TT): GV THPT có

Đổi mới đánh giá và giảm tải chương trình của Bộ giáo dục và Đào tạo tạo
điều kiện cho ứng dụng các PP mới trong đó có PP dự án.
Việc xuất hiện các nội dung giáo dục mới trong thời gian gần đây giúp “thăng
hoa” giá trị của DHDA. Các nội dung mới như : Giáo dục kĩ năng sống, giáo dục
ứng phó với biến đổi khí hậu và chống ô nhiễm môi trường, giáo dục về tài nguyên
và môi trường biển đảo... là điều kiện để DHDA được lựa chọn dưới hình thức ngoài
giờ lên lớp.

7


Sự phát triển và bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông đã có ảnh
hưởng sâu rộng đến tất cả các mặt, các lĩnh vực trong đó có giáo dục đào tạo, góp
phần hiện đại hóa phương tiện, đổi mới phương pháp dạy học.
Các yếu tố khác: cơ sở vật chất của nhà trường trong cả nước được đầu tư nâng
cấp, mạng Internet phát triển và lan rộng, các dự án như Intel được triển khai áp dụng
trong các trường học, đội ngũ GV cơ bản đã nắm được lí thuyết và thiết kế thực hiện
các dự án dạy học...
1.2.8.Thực trạng của việc sử dụng phương pháp dự án ở nhà trường THPT
trên địa bàn Hà Nội
Hà Nội là một trong hai địa phương mà GV được tiếp cận sớm nhất với
phương pháp DHDA thông qua các chương trình dạy học của Intel và Microsoft Việt
Nam.
Khóa học khởi đầu (Intel Teach Getting Start ) có khoảng 6000 GV được tham
gia tập huấn. Trường THPT Tây Hồ cũng là một trong những trường được thí điểm.
Mặc dù DHDA có những đóng góp hết sức to lớn gắn liền hoạt động giáo dục của
nhà trường với thực tiễn nhà trường, cộng đồng và xã hội, tạo được sự đồng thuận,
sự ủng hộ của phụ huynh HS và các đơn vị bên ngoài. Tuy nhiên DHDA cũng có hạn
chế khi chương trình còn cồng kềnh, phân phối chương trình chưa có tiết dạy cụ thể,
một số giáo viên tâm lí còn ngại thay đổi sang cách học mới. Nên thực tế ở Hà Nội,

 Các dự án phải có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong quá
trình dạy học
Phương pháp dạy học theo dự án hướng tới mục tiêu rất quan trọng đó là hình
thành và phát triển ở người học kĩ năng ứng dụng khoa học kĩ thuật vào đời sống, kĩ
năng hợp tác, trao đổi, kĩ năng báo cáo, thuyết trình...Muốn vậy, rõ ràng học sinh cần
phải sử dụng đến phương tiện kĩ thuật hiện đại như: máy tính kết nối Internet, máy
chiếu đa phương tiện, máy ghi âm, ghi hình...
 Các dự án dạy học Địa lí phải thể hiện giá trị của thời đại lẫn giá trị vĩnh
hằng.
Yêu cầu này có thể đơn giản từ khâu hình thành phương cách thực hiện dự án
mà điển hình là hình thức hoạt động nhóm, kết hợp các chủ đề dự án Địa lí 12 góp
phần giáo dục HS ý thức lẫn hành vi về dân số, môi trường, biết đổi khí hậu ... từ đó
quan điểm phát triển bền vững sẽ hình thành đó chính là những biểu hiện dù rất nhỏ
của giá trị vĩnh hằng lẫn giá trị của thời đại.
Trên đây là những nguyên tắc cần tuân thủ trong quá trình vận dụng phương
pháp dạy học theo dự án vào quá trình dạy học nói chung và dạy học Địa lí nói riêng.
Mỗi một dự án học tập trong bộ môn Địa lí lớp 12 –THPT muốn tổ chức thành công
cho học sinh cần hội tụ cả 6 nguyên tắc này.
2.2.Quy trình thiết kế và tổ chức các dự án Địa lí 12
Ở phần trên, chúng tôi đã giới thiệu một số qui trình dạy học theo dự án của
các tác giả, nhóm tác giả có điều kiện và thời gian nghiên cứu nhất định về phương
pháp dạy học này. Trên cơ sở đó, tôi mạnh dạn xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức
các dự án dạy học địa lí 12- THPT theo bốn giai đoạn như sau:
Hộp thông tin số 1
 Giai đoạn 1: Chuẩn bị thực hiện dự án
 Giai đoạn 2: GV giúp HS hình thành dự án
 Giai đoạn 3: GV hướng dẫn HS thực hiện dự án
 Giai đoạn 4: GV hướng dẫn HS tổng kết và đánh giá kết quả
2.2.1. Giai đoạn 1: Chuẩn bị thực hiện dự án
Đây là giai đoạn thiết kế dự án và công việc phần lớn do GV thực hiện. Các

hình sản phẩm cuối cùng, xác định được những gì HS phải biết, phải làm được khi
kết thúc dự án
2.2.1.5. GV xây dựng ý tưởng dự án: Có hai cách cơ bản để xây dựng ý tưởng
dự án:
* Xây dựng ý tưởng dự án từ các chuẩn học tập
- Căn cứ vào những chuẩn học tập để suy nghĩ về ý tưởng của dự án, lựa chọn
những
chuẩn
học
tập

thể
xây
dựng
thành
dự
án.
Ví dụ:
Chuẩn học tập
Ý tưởng dự án
Bài 21: Đặc điểm nền nông HS sẽ vào vai các nhà nông nghiệp phân
nghiệp nước ta
tích hiệu quả việc phát triển nông nghiệp
“Nông nghiệp hàng hóa làm cho hàng hóa tại địa phương(trồng cây cảnh:
cơ cấu nông nghiệp trở nên năng cây hoa đào) so với việc trồng trọt các loại
động hơn, thích ứng với điều kiện cây khác.
thị trường và sử dụng hợp lý hơn
các nguồn lực”
- Những chuẩn được lựa chọn thường liên quan trực tiếp và có ý nghĩa đối với
cuộc sống thực của HS.

2.2.1.8.GV hình thành kế hoạch đánh giá: Xuất phát từ bản chất của dạy học
dự án : định hướng vào HS, định hướng vào hoạt động thực tiễn và định hướng vào
sản phẩm HS, đánh giá trong dạy học dự án không như đánh giá thông thường: GV
đánh giá, cho điểm HS; mà còn tạo điều kiện cho HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau:
giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm với nhau. nhóm, quan sát HS tham
gia vào các hoạt động, và đặt câu hỏi khi GV làm việc với HS.
2.2.1.9.GV phân nhóm HS, xây dựng tiến trình bài dạy trong dự án và dự kiến
các hoạt động
 Việc thành lập các nhóm học tập biểu hiện trực tiếp hai
đặc trưng cơ bản của DHDA: Tính tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm của người học,
Việc học tập mang tính xã hội, đồng thời thể hiện gián tiếp hai đặc trưng: Tạo ra sản
phẩm và Định hướng vào hứng thú của HS.
Phân loại nhóm
+ Nhóm do HS tự chọn: Thuận lợi: Các em tự chọn được những người
hợp tác thích hợp (thường là các bạn thân nhau), Khó khăn: không tạo được sự thay
đổi trong lớp học, không cho HS nhiều cơ hội để cọ xát, thích nghi với những sự bất
đồng, trái quan điểm; dễ xảy ra hiện tượng kết bè phái trong lớp...
+ Chia nhóm ngẫu nhiên (đếm số, dùng các thẻ màu khác nhau...): Ưu
điểm lớn của việc chia nhóm này là tạo sự công bằng, sự bất ngờ, có thể có cả sự
11


hứng thú cho các HS. Tuy nhiên nhóm ngẫu nhiên thường chỉ hiệu quả tức thì, khó
lòng hiệu quả trong một thời gian dài.
+ Chính GV là người chọn nhóm: Có thể chọn nhóm hỗn hợp gồm đủ
thành phần: nam, nữ, học lực : giỏi, khá, TB...để các em HS biết lương tựa vào nhau
tận dụng các ưu điểm của thành viên và phát huy sở trường của mỗi cá nhân, đảm bảo
sự đồng đều của các nhóm. Nhóm theo năng lực HS: có nhóm HS giỏi, nhóm HS
khá, nhóm HS trung bình ..., với cách chia này GV phải phân loại câu hỏi giao cho
từng nhóm. Các nhóm sẽ làn tốt nhiệm vụ của nhóm mình vì được phân nhiệm vụ

thể và các công việc tiến hành được xác định dựa vào thời gian thực hiện(1 tuần, 2
tuần, 4 tuần,...)và phạm vi nội dung dự án. Nếu dự án 1 tuần thì các đề mục sẽ là:
Ngày 1, Ngày 2, Ngày 3....Nếu là 1 tháng: Tuần 1, Tuần 2, Tuần 3, Tuần 4....
• Dự kiến các hoạt động: Khi đã xác định xong các chuẩn học tập,
12


mục tiêu học tập,kế hoạch đánh giá, xây dựng bộ công cụ, GV tiến hành lập kế hoạch
hoạt động cho dự án.Về việc tổ chức dự án: Sử dụng một lịch trình dự án để tổ chức
những mốc chính và những hoạt động chủ yếu. Lịch trình dự án cho thấy trình tự
thực hiện các công việc chủ yếu trước khi dự án bắt đầu. Nó cũng phân biệt những
việc làm của thầy và những hoạt động của trò. Lịch trình xây dựng dự án có thể xây
dựng theo mẫu sau:
Giáo viên
Làm gì?

Làm gì?
Làm gì?

Làm gì?

Thời gian
Học sinh
Trước khi bắt đầu dự án
Tuần 1
Hoạt động gì?
Trong quá trình thực hiện dự án
Tuần 2
Hoạt động gì?
Tuần 3



2.2.2. Giai đoạn 2: GV giúp HS hình thành dự án
Giai đoạn 2 rất cần thiết, vì có giai đoạn này mới đảm bảo tốt nguyên tắc khi tổ
chức DHDA.Toàn bộ ý tưởng, kế hoạch, sản phẩm đều do HS xây dựng, GV chỉ là
người tổ chức, chỉ đạo để quá trình này thực hiện đúng hướng và đạt được mục tiêu
học tập.
Những công việc cụ thể của thày và trò trong giai đoạn 2 thể hiện trong bảng
dưới đây:
a. Công việc của GV
b. Nhiệm vụ của HS
 GV kích thích để HS đề xuất ý
 Động não để đưa ra những ý
tưởng của các em về chủ đề dự án.
tưởng cho dự án
 Các phương pháp và kĩ thuật có
 HS tham gia vào những hoạt
thể sử dụng:
động do GV tổ chức để đưa ra
- Động não
càng nhiều ý tưởng càng tốt
- 3 lần 3
- Trò chơi
- Tình huống
- Đóng vai
 Các công cụ sử dụng:
- Sơ đồ K – W – L
- Phiếu học tập
 Sau khi đã có ý tưởng, GV
 HS thảo luận để xây dựng kế

Bảng 2.10: Công việc của GV và HS trong giai đoạn 2

14


2.2.3.Giai đoạn 3: GV hướng dẫn, điều khiển HS thực hiện dự án
Ở giai đoạn này, khối lượng công việc của GV và HS rất lớn, triển khai trong
thời gian dài:
a. Công việc của GV
b. Nhiệm vụ của HS
 Kiểm tra các bài tập đã giao cho
 Ghi lại và bổ sung để hoàn thiện
HS
bài tập
 Hướng dẫn HS điều chỉnh kế
 Điều chỉnh kế hoạch dự án cho
hoạch dự án
phù hợp với từng giai đoạn
 Làm mẫu, hướng dẫn các kĩ năng
 Bắt đầu nghiên cứu
nghiên cứu
 Thu thập dữ liệu và thông tin liên
 Quản lý, bổ sung thông tin lên
quan
Internet
 Lựa chọn và thiết kế sản phẩm
 Kiểm tra tiến độ thực hiện dự án
 Quản lý các công cụ trên Internet
của các nhóm qua Internet và báo
 Báo cáo tiến độ thực hiện dự án

cách thức đa dạng
 Hướng dẫn HS đánh giá sản phẩm
 Tự đánh giá sản phẩm của nhóm
gồm:
dựa vào tiêu chí
 Tự dánh giá sản phẩm của
 Đánh giá sản phẩm của nhóm bạn
nhóm dựa vào tiêu chí
dựa vào tiêu chí
 Đánh giá sản phẩm của
 Hoàn tất các nhiệm vụ trong các
nhóm bạn dựa vào tiêu chí
công cụ đánh giá như đánh giá
15


 GV đánh giá, cho điểm sản phẩm
thảo luận, tự đánh giá cộng tác,
của HS, nhận xét, góp ý
nhật kí học tập...
 GV tổng hợp kết quả đánh giá bao
 Rút kinh nghiệm về những kết quả
gồm đánh giá quá trình và đánh
đạt và chưa đạt của dự án
giá kết quả
 Đề xuất ý tưởng cho dự án mới
 Thảo luận những điều đã đạt được
và những điều phải thay đổi cho
tốt hơn
Sản phẩm

+ Đa phần các em thấy được hiệu quả của ngành nông nghiệp
hàng hóa tại địa phương
16


+ Phần lớn các em muốn tìm các giải pháp phát triển nông
nghiệp hàng hóa vùng mạnh mẽ hơn.
 Xác định điều kiện dạy học
Bảng 2.13 : Điều kiện dạy học tại lớp 12A4 – THPT Tây Hồ - Hà Nội
Thiết bị và nguồn tài liệu tham khảo
Công nghệ - Phần cứng(Đánh dấu vào những thiết bị cần thiết)
 Máy tính
 Đĩa Laser
 Thiết bị khác
 Máy kĩ thuật số
 Máy chiếu
 Kết nối Internet
 Tivi
Công nghệ - Phần mềm(Đánh dấu vào những phần mềm cần thiết)
 Cơ sở dữ liệu/bảng
 Phần mềm xử lý
 Phần mềm thiết kế
tính
ảnh
Web
 Ấn phẩm
 Trình duyệt Web
 Hệ soạn thảo văn
 Phần mềm thư điện
 Đa phương tiện

- Thu thập, phân tích, quản lý, tổ chức các thông tin để hoàn thành
sản phẩm có chất lượng
 Xây dựng ý tưởng dự án
17


Dự án này xuất phát từ địa bàn trường THPT Tây Hồ thuộc phường Phú
Thượng quận Tây Hồ là khu vực có ngành nông nghiệp truyền thống: ngành trồng
hoa đào – ngành này đã và đang phát huy trở thành ngành nông nghiệp hàng hóa
trong nền kinh tế mới – kinh tế thị trường. Dự án về ngành nông nghiệp hàng hóa này
sẽ giúp các em hiểu được hiệu quả từ ngành sản xuất, sẽ có ý thức cùng gia đình phát
triển ngành nông nghiệp truyền thống, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nước nhà trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hình thành kế hoạch đánh giá
Trước khi bắt đầu
HS thực hiện dự án và
Sau khi hoàn tất dự án
dự án
hoàn tất công việc
- Động não - Kế hoạch - Bảng kiểm - Phiếu tự - Tiêu chí - Bài kiểm
- Sơ đồ
dự án
mục đánh đánh giá cá đánh
giá tra
K-W-L
giá sự hợp nhân
cẩm nang
-Bài kiểm
tác
- Tiêu chí - Tiêu chí

sản
phẩm
Bảng 2.14.: Kế hoạch đánh giá dự án nông nghiệp nghiệp hàng hóa
 Xác định bộ công cụ của dự án
Bao gồm: Công cụ giúp HS thực hiện dự án, công cụ giúp GV quản
lí dự án, công cụ kiểm tra, đánh giá
 Phân nhóm HS, xây dựng tiến trình dự án và dự kiến các hoạt động
Có thể chia thành 4 nhóm sau: : nhóm 1: Thực trạng nền nông nghiệp nước ta,
nhóm 2: Thực trạng trồng hoa đào tại địa phương, nhóm 3: hiệu quả nông nghiệp hàng
hóa, nhóm 4: khả năng phát triển của ngành trồng đào trong nền kinh tế thị trường.
 Giai đoạn 2: GV giúp HS hình thành dự án
GV
HS
Tuần - GV hướng dẫn
-Hoạt cảnh: trang trí nhà ngày tết
nguyên đán.
- GV đặt câu hỏi Khái quát: Làm thế - HS thảo luận nhóm, ghi lại ý kiến tổ
nào để phát triển nông nghiệp của địa nhóm đã thống nhất vào giấy Ao
18


1

phương theo xu thế kinh tế thị
trường?
- GV đặt các câu hỏi gợi mở:
+Ngành nông nghiệp truyền thống
của địa phương là ngành nào?
+Hiện nay ngành này đang phát
triển như thế nào? Hiệu quả sản xuất

- GV cung cấp cho HS các tài
19

- HS phát biểu quan điểm, ý nghĩ của
cá nhân mình.

- HS sẽ tự rút ra kết luận về bài học:
khu vực phường Phú Thượng và Nhật
Tân có tiềm năng phát triển ngành
trồng hoa đào, đó là ngành truyền
thống và mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Với xu hướng kinh tế mới – kinh
tế thị trường, ngành trồng đào sẽ phát
huy hơn nữa mang lại hiệu quả kinh
tế cao hơn cho người dân trong vùng.

+ Nhóm 1: Thực hiện bài trình chiếu
(Power Point) trình bày những hiểu
biết của em về thực trạng nông
nghiệp nước ta.
+ Nhóm 2: Thực hiện bài trình chiếu
(Power Point) về thực trạng ngành
trồng đào tại địa phương
+ Nhóm 3: Hoạt cảnh: gia đình trồng

đào, và tính toán được thu hoạch từ
trồng đào theo xu hướng thị trường có
hiệu quả như thế nào so với các



quả tốt hơn.
 Giai đoạn 3: GV hướng dẫn HS hình thành dự án
Tuần - Kiểm tra và đánh giá các bài tập đã
3
giao cho HS
- Làm mẫu, hướng dẫn các kĩ năng - Nghiên cứu, ghi lại và bổ sung để
nghiên cứu
hoàn thiện bài tập
- Quản lý, bổ sung thông tin qua - Thu thập dữ liệu và thông tin liên
mạng Internet
quan, lựa chọn và thiết kế sản phẩm
- Báo cáo tiến độ thực hiện dự án với
- Kiểm tra tiến độ thực hiện dự án và giáo viên
báo cáo của nhóm trưởng
- Tham khảo ý kiến GV, các nhóm để
- Làm việc với cá nhân tiếp thu chậm có điều chỉnh cần thiết
- Đánh giá sự cộng tác trong nhóm và
tự đánh giá.
 Giai đoạn 4: GV điều khiển HS thực hiện kế hoạch dự án và tổng
kết đánh giá dự án
Tuần - Tổ chức HS báo cáo dự án
- Trình bày sản phẩm cuối cùng
4
- GV đánh giá, tổng kết định hướng
HS góp phần phát triển ngành nông
nghiệp của địa phương mình.
- GV tổ chức thảo luận: Để góp phần
phát triển ngành nông nghiệp của địa
phương, các em cần phải làm gì?
- GV kiểm tra đánh giá kiến thức và

chương trình Địa lí, là một trong các cơ sở để đánh giá sản phẩm của HS.
3.1.2.3.Mẫu được chọn trong thực nghiệm phải mang tính phổ biến để kết quả
thực hiện đảm bảo tính khách quan
Thực nghiệm được tiến hành trên nhiều đơn vị kiến thức đa dạng tương tự như
cấu trúc hệ thống kiến thức cơ bản trong SGK Địa lí 12: bao gồm Địa lí tự nhiên, Địa
lí dân cư, Địa lí các ngành kinh tế và Địa lí các vùng kinh tế.
3.1.2.4.Đánh giá trong dạy học dự án chú trọng đến đánh giá năng lực, đánh
giá quá trình phát triển của HS với những hình thức thật đa dạng và linh hoạt
Như vậy, đánh giá trong dạy học dự án không luôn luôn được biểu hiện bằng
điểm số. Đánh giá tổng kết thường được thực hiện trong hoạt động tổ chức cho HS
báo cáo kết quả trong giai đoạn kết thúc dự án với các tiêu chí đánh giá và các bảng
cho điểm tương ứng.
3.1.3.Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm được tiến hành trong các năm học 2011-2012, 2012-2013,
2013-2014. Số lượng các lớp thực nghiệm linh hoạt tùy theo điều kiện của từng
trường và chủ yếu là tùy thuộc vào kinh nghiệm của giáo viên. Kết quả thi Tốt nghiệp
21


phổ thông của lớp được/bị học theo PP này với các lớp khác trong từng trường cũng
được xem xét ở góc độ tham khảo nhằm tìm hiểu mức độ tác dụng “ngược” của PP
dự án so với cách dạy thông thường rằng “có phải dạy học dự án có ảnh hưởng không
tốt đến kết quả thi tốt nghiệp THPT?”
3.2.Quy trình thực nghiệm
3.2.1.Chuẩn bị thực nghiệm
3.2.1.1.Chọn vấn đề thực nghiệm
Căn cứ vào nội dung chương trình địa lí lớp 12, căn cứ vào những vấn đề
thực tiễn đất nước, các khu vực và địa phương liên quan, chúng tôi lựa chọn các vấn
sau đây để thực nghiệm:
+Vấn đề Địa lí tự nhiên: Bài đại diện: Bài 15. Bảo vệ môi trường và


22


Dự án : Nông nghiệp hàng hóa Tây Hồ ( Bài 21:Đặc điểm nền nông nghiệp nước
ta)
3.2.3.4. Nhóm bài thuộc Địa lí các vùng kinh tế
 Bài thực nghiệm số 4
Dự án : Đổi mới kinh tế ở vùng Đồng bằng sông Hồng(Bài 33: Vấn đề chuyển dịch
cơ cấu kinh tế vùng Đồng bằng sông Hồng)
3.3. Kết luận về thực nghiệm sư phạm
Sau khi tổ chức dạy thực nghiệm các dự án trên cho học sinh lớp 12 trường
THPT Tây Hồ, bước đầu tôi đã thu được kết quả khả quan:
- HS hứng thú tham gia vào quá trình học tập, đặc biệt trong suốt quá trình làm
dự án HS luôn có hứng thú tìm kiếm, trao đổi kiến thức qua sự hỗ trợ của Internet, tự
tạo ra mạng lưới trong trao đổi, tuyên truyền kiến thức, thông tin. Giờ học trở nên sôi
nổi, kiến thức được khắc sâu.
- Có thể thiết kế các hệ thống dự án dạy học Địa lí tương ứng với hệ thống kiến
thức trong chương trình Địa lí 12. Trong đó địa lí vùng, với những đặc trưng riêng
biệt của mình, phù hợp nhất và hiệu quả nhất với PP DHDA, đặc biệt khi kết hợp với
Địa lí địa phương.
- Tính linh hoạt là đặc trưng nổi bật trong dạy học dự án biểu hiện cả trong thiết
kế cũng như trong tổ chức thực hiện. Điều này giúp các dự án Địa lí có thể thực hiện
ở khắp mọi nơi, trong bất kì điều kiện hoàn cảnh nào, chỉ cần các Kế hoạch bài dạy
được thiết kế linh hoạt và phù hợp, và người thực hiện phải thực sự tâm huyết.
- Các dự án môn học được thiết kế và tổ chức thực hiện đúng đắn sẽ khắc sâu
kiến thức cơ bản, mở rộng bằng thực tiễn, bổ sung các kĩ năng sống, các giá trị sống.
Đây chính là cách thức, con đường dẫn đến việc dạy học phát triển năng lực – mục
tiêu nền giáo dục nước nhà đang hướng đến.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

2.2.Đối với những người thiết kế chương trình
Các tập đoàn lớn như Intel, Microsoft và Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đang phát
triển các chương trình trong đó có DHDA trong hệ thống trường học cả nước. Tuy
nhiên ở Hà Nội chưa thu hút được nhiều kết quả do tính phức tạp của phương pháp và
chưa bồi dưỡng những năng lực cần thiết trước khi GV tiếp cận với DHDA, chưa tạo
được động cơ cho GV, nhiều khó khăn đến từ phía chương trình và cấp quản lí. Thiết
nghĩ cần phải có những điều chỉnh cho phù hợp với thực tế đó.
2.3.Đối với các cấp quản lí
- Nghiên cứu hiệu quả của PP DHDA và triển khai thực hiện ngày dự án, tuần
dự án hoặc tháng dự án không chỉ với bộ môn Địa lí mà có thể nhân rộng ra các bộ
môn khác.
- Cần tạo ra nhiều cơ hội hơn cho GV trong việc xây dựng chương trình giảng
dạy, việc quy phạm chặt chẽ hiện nay của chương trình, SGK chỉ gây tâm lí đối phó
của người dạy, hiệu quả dạy học không được như mong đợi.
3. Hướng phát triển của đề tài
Dựa vào cơ sở nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin đưa ra hướng nghiên cứu
tiếp theo để phát triển đề tài như sau:
- Tiếp tục nghiên cứu các quan điểm và các quy trình để có thể đưa ra một quy
trình tổ chức cho HS thực hiện dự án trong học tập THPT phù hợp và hiệu quả
hơn.
- Do đề tài mới chỉ tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Tây Hồ nên để đánh
giá tính hiệu quả của phương pháp cần phải đưa ra thực nghiệm ở nhiều trường
phổ thông hơn nữa.
- Đề tài có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu ở khối lớp 10 và lớp 11.

24


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status