Ứng dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền trong định giá doanh nghiệp tại Công ty Kiểm toán Việt Nam - Pdf 38

Luận văn tốt nghiệp

1

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước
tiến đáng kể, tốc độ tăng GDP luôn ở mức cao. Giai đoạn 2005-2010 theo dự
đoán, GDP sẽ dao động trong khoảng 8 – 8,5%. Theo xu hướng toàn cầu hóa,
Việt Nam đã gia nhập WTO hứa hẹn một thời kỳ phát triển thịnh vượng.
Đây cũng là thời điểm bùng nổ của thị trường chứng khoán, nhiều công
ty đã niêm yết hoặc có cổ phiếu giao dịch trên các sàn giao dịch, thị trường
chứng khoán thực sự trở thành kênh huy động vốn hấp dẫn cho các doanh
nghiệp. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, nhu cầu cổ phần
hóa các doanh nghiệp nhà nước, nhu cầu mua bán, sáp nhập, nhu cầu định giá
cổ phiếu… đang tăng lên khiến nhu cầu định giá doanh nghiệp trở thành vấn
đề cấp thiết.
Hiện nay, định giá doanh nghiệp ở Việt Nam được áp dụng chủ yếu hai
phương pháp: tài sản ròng và chiết khấu dòng tiền. Trong đó, phương pháp tài
sản ròng đang được sử dụng phổ biến mặc dù phương pháp chiết khấu dòng
tiền (DCF) được đánh giá là phương pháp có nhiều ưu điểm nổi trội hơn do
tính đến những giá trị kì vọng trong tương lai doanh nghiệp sẽ tạo ra. Nguyên
nhân chính là do thị trường Việt Nam còn thiếu cơ sở dữ liệu, thiếu những
điều kiện cần thiết để phương pháp chiết khấu dòng tiền được áp dụng hiệu
quả.
Ở với các nước có nền kinh tế phát triển, phương pháp chiết khấu dòng
tiền đã được áp dụng phổ biến và phát huy những ưu điểm của nó, do vậy,
phương pháp này trong tương lai chắc chắn sẽ là phương pháp có tính thực
tiễn cao ở Việt Nam.
Chính vì sự cần thiết nghiên cứu để áp dụng được phương pháp chiết
khấu dòng tiền, em đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp:



TCDN


Luận văn tốt nghiệp

3

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP
CHIẾT KHẤU DÒNG TIỀN
1.1 Giá trị doanh nghiệp
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp là chủ thể quan trọng thực hiện các
hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Một tổ chức
kinh tế được gọi là “doanh nghiệp” khi nó được thừa nhận về mặt pháp luật
trên một số tiêu chuẩn nhất định.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp được coi là một loại tài sản.
Cũng giống như các loại tài sản khác, doanh nghiệp cũng được đem ra mua
bán, hợp nhất, chia nhỏ… do đó, doanh nghiệp cũng không nằm ngoài sự chi
phối của các quy luật thị trường, quy luật giá trị. Giá cả của doanh nghiệp
cũng phải tuân theo quy luật cung cầu, cạnh tranh.
Tuy nhiên, khác với các tài sản thông thường, doanh nghiệp không phải
là một kho hàng, doanh nghiệp còn là một tổ chức kinh tế, đang thực sự hoạt
động. Do vậy, không chỉ gồm các tài sản hữu hình, doanh nghiệp thực sự sở
hữu các tài sản vô hình khác như giá trị thương hiệu, bí quyết kinh doanh,
quyền khai thác, tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai…
Vì thế, khái niệm giá trị doanh nghiệp phải dựa trên tài sản là doanh
nghiệp đang hoạt động, mà mỗi bộ phận tài sản cấu thành nên doanh nghiệp
đó không thể tách rời, các yếu tố cấu thành hữu hình và vô hình là một thể
thống nhất.
Giá trị doanh nghiệp có nhiều cách quan niệm khác nhau, và tùy theo

chấp nhận được.
Khác với tài sản thông thường, doanh nghiệp là một hệ thống phức tạp
với nhiều yếu tố cấu thành. Khi xem xét một doanh nghiệp, nhất thiết phải đặt
các yếu tố đó trong mối liên hệ với nhau. Chỉ khi nào doanh nghiệp phá sản,
thanh lý thì các tài sản mới được đánh giá riêng rẽ, độc lập. Giá trị của các
yếu tố cấu thành tài sản của doanh nghiệp luôn thay đổi theo thời gian, ví dụ
như giá trị còn lại của tài sản cố định luôn giảm dần, nhưng giá trị thương
hiệu có thể tăng lên theo thời gian.

Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

5

Theo quan niệm về giá trị doanh nghiệp của phương pháp tài sản ròng,
định giá doanh nghiệp có thể định nghĩa: Định giá doanh nghiệp là việc xác
định giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp có tính đến khả năng
sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai tại một thời điểm nhất định.
Tuy nhiên đối với phương pháp chiết khấu dòng tiền, giá trị doanh
nghiệp lại được đánh giá trên khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Do vậy xác
định giá trị doanh nghiệp là gì tùy thuộc vào từng quan niệm về giá trị.
Xác định giá trị doanh nghiệp hiện nay có thể sử dụng nhiều phương
pháp. Phương pháp định giá phải có cơ sở khoa học, chặt chẽ và có thể chấp
nhận được vẫn phải dựa trên một trong hai cách tiếp cận là:
- Đánh giá giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp trong điều

giá trị doanh nghiệp còn là một bước đi quan trọng để các quốc gia tiến hành
chuyển đổi loại hình sở hữu như cổ phần hóa, sáp nhập, hợp nhất, giao bán
khoán và cho thuê.
Xét sự cần thiết của định giá từ các đối tượng trong nền kinh tế có liên
quan đến nhu cầu định giá doanh nghiệp, đó là những nhà đầu tư, người cung
cấp, bản thân nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô.
- Đối với nhà đầu tư, người cung cấp: Thông tin về giá trị doanh nghiệp
cho sự đánh giá tổng quát về khả năng tài chính, uy tín kinh doanh, rủi ro và
vị thế tín dụng. Từ đó, nhà đầu tư có quyết định có tiếp tục đầu tư, nhà cung
cấp có tiếp tục cung cấp các yếu tố đầu vào, cấp tín dụng cho doanh nghiệp
nữa hay không. Giá trị doanh nghiệp quyết định giá cả cổ phiếu trên thị
trường. Nếu nhà đầu tư định giá được đúng giá trị của doanh nghiệp thì sẽ thu
được lợi suất đầu tư mong muốn.
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Thông tin về giá trị doanh nghiệp
giúp các nhà quản trị phân tích, đánh giá trước khi đưa ra các quyết định về
kinh doanh và tài chính có liên quan đến doanh nghiệp. Từ giá trị doanh
nghiệp của mình, họ sẽ có cơ sở để so sánh giá trị đó với doanh nghiệp khác,
từ đó thấy được vị trí và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường. Quyết định kinh doanh đúng đắn của các nhà quản trị phải dựa trên
nhận thức sâu sắc về vị trí và những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp
mình.
- Đối với các nhà quản lý, hoạch định kinh tế vĩ mô: Trên phương diện
quản lý vĩ mô, thông tin về giá trị doanh nghiệp là một căn cứ quan trọng để
các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức đánh giá tính ổn định của nền kinh
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN



Từ đó, phương pháp chiết khấu dòng tiền có thể định nghĩa như sau:
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

8

Phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp xác định giá trị
doanh nghiệp bằng cách chiết khấu các dòng tiền doanh nghiệp sẽ thu được
trong tương lai về thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
Công thức chung cho phương pháp DCF:
n

V =

CFi


(1 +k )
i=
1

i

Trong đó:
CFi : Luồng tiền tại thời điểm i.


các tài sản để riêng có giá trị nhỏ nhưng khi hợp lại thành một thể thống nhất
có thể có giá trị rất lớn.
Phương pháp này chỉ xét các tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm
hiện tại, không đánh giá triển vọng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai.
Đồng thời bỏ qua các yếu tố phi vật chất nhưng lại có giá trị thực sự, có thể
đóng góp rất lớn vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp như: trình độ quản
lý, uy tín, thương hiệu…
• Phương pháp định lượng Goodwill
Cơ sở của phương pháp xuất phát từ quan điểm cho rằng doanh nghiệp là
một tổ chức có tài sản bao gồm cả hữu hình và vô hình. Ngoài việc sử dụng
phương pháp tài sản ròng để đánh giá giá trị hữu hình, phương pháp này còn
xác định giá trị vô hình, do đó có thể bù trừ sai sót xảy ra khi sử dụng phương
pháp tài sản ròng. Giá trị mà các tài sản vô hình sinh ra được gọi là những
khoản siêu lợi nhuận.
Tuy nhiên, ngoài những hạn chế khi sử dụng phương pháp tài sản ròng,
phương pháp này còn có những hạn chế riêng. Đó là trong cơ chế thị trường,
tác động của các quy luật cạnh tranh, quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ
làm xói mòn tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp khó có thể duy
trì lợi nhuận một cách lâu dài. Các tác động bên ngoài sẽ có nguy cơ làm mất
siêu lợi nhuận của doanh nghiệp và rất khó dự đoán.
• Phương pháp sử dụng chỉ số PER
Phương pháp định giá này được dựa trên nguyên lý “ Hai doanh nghiệp
giống nhau phải có giá trị giống nhau”. Nếu hai doanh nghiệp có quy mô
giống nhau, cùng hoạt động trong một môi trường kinh doanh cụ thể thì phải
có giá trị tương đương nhau.

Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C


động đến giá trị doanh nghiệp: môi trường vĩ mô, môi trường vi mô từ đó tác
động đến doanh thu, chi phí, thuế thu nhập, vốn đầu tư, chu kỳ đầu tư, lãi suất
chiết khấu…
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

11

- Tùy từng góc nhìn của nhà đầu tư, giá trị doanh nghiệp có thể khác
nhau. Nhà đầu tư mua doanh nghiệp để cải tổ doanh nghiệp theo những dự án,
những ý tưởng của mình. Do vậy, những triển vọng, dự án đầu tư bổ sung đối
với doanh nghiệp của từng nhà đầu tư là khác biệt làm cho giá trị doanh
nghiệp không giống nhau. Giá trị doanh nghiệp có thể thay đổi rất lớn tùy
theo những trù định của nhà đầu tư.
- Định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền thực chất còn là sự lựa
chọn phương án đầu tư tối ưu. Giá trị doanh nghiệp được tính toán sẽ là mức
giá cao nhất mà nhà đầu tư có thể trả bởi vì mức giá đó đã phản ánh chi phí cơ
hội đối với người mua, thể hiện lợi ích tối đa mà doanh nghiệp có thể đem lại
theo những dự kiến của nhà đầu tư. Nếu tham gia đầu thầu, giá trị doanh
nghiệp xác định theo phương pháp DCF sẽ là giới hạn để bỏ thầu.
- Quan niệm về dòng tiền cho phép các chuyên gia đánh giá tránh được
một vấn đề phức tạp là phải điều chỉnh các số liệu kế toán phản ánh đúng thời
điểm phát sinh các khoản tiền, không phải tiến hành kiểm kê, phân loại tài sản
và xác định giá trị của từng tài sản riêng lẻ.
 Nhược điểm

doanh nghiệp và luồng tiền tự do đối với chủ sở hữu. Có rất nhiều kỹ thuật
định giá theo phương pháp DCF, tuy nhiên chủ yếu là 3 mô hình sau:
• Mô hình chiết khấu luồng cổ tức (DDM)
Luồng tiền dễ thấy nhất là luồng cổ tức bởi nó là luồng tiền hàng năm cổ
đông trực tiếp nhận được. Do đó, lãi suất chiết khấu được sử dụng sẽ là chi
phí vốn cổ phần. Tuy nhiên, phương pháp này rất khó áp dụng đối với những
doanh nghiệp không trả cổ tức trong suốt thời kỳ tăng trưởng cao ( ví dụ như:
Microsoft, ...), hoặc trả cổ tức rất thấp vì tỷ lệ lãi trên một đồng vốn rất cao.
Tuy nhiên, mô hình DDM sẽ rất hữu dụng đối với những doanh nghiệp
đã trưởng thành, hoạt động sản xuất kinh doanh đi vào ổn định để giả thiết tốc
độ tăng trưởng cổ tức là tương đối ổn định trong dài hạn.
• Mô hình FCFF (Free Cash Flow to Firm)
Luồng tiền ở đây là dòng tiền tự do hoạt động thường được mô tả bằng
luồng tiền sau khi trừ đi các chi phí trực tiếp (Giá vốn hàng bán và Chi phí
bán hàng và quản lý) và trước khi trừ đi tất cả các khoản phải trả cho người
tài trợ vốn ( lãi suất, cổ tức). Luồng tiền này tất cả những người tài trợ đều có
thể sử dụng, do vậy lãi suất chiết khấu được áp dụng là chi phí vốn trung
bình (WACC).
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

13

Mô hình này rất hiệu quả khi so sánh các doanh nghiệp với cơ cấu vốn
khác nhau vì giá trị của toàn bộ doanh nghiệp bao gồm cả giá trị của nợ và


14

tương lai của doanh nghiệp. Nếu người mua mua doanh nghiệp với mục đích
đầu tư lâu dài thì sẽ quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong
tương lai. Còn đối với người bán, nếu muốn tìm kiếm các khoản đầu tư dài
hạn, muốn tìm đối tác chiến lược để tranh thủ sự đầu tư và ảnh hưởng của đối
tác đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai thì
đương nhiên sẽ quan tâm đến các yếu tố sinh lợi trong tương lai.
Đối với ngân hàng, ngân hàng sẽ định giá doanh nghiệp theo phương
phấp chiết khấu dòng tiền để xác định khả năng chi trả lãi, gốc cho ngân hàng.
Tuy nhiên, khi dòng thu nhập trong tương lai không đủ để chi trả lãi và gốc
cho ngân hàng hoặc để thế chấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp, ngân hàng
sẽ sử dụng phương pháp tài sản ròng hoặc phương pháp nào đó khác.
Trong trường hợp người mua chỉ quan tâm đến doanh nghiệp với mục
đích chỉ để bán những tài sản hiện có hoặc cả người bán, người mua đều
không hề có ý định tiếp tục vận hành, đầu tư hoặc trong quá trình kinh doanh,
doanh nghiệp không đem lại lợi nhuận thì không thể sử dụng phương pháp DCF.
 Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể sử dụng chiết khấu dòng
tiền. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, công
nghiệp, thương mại… giá trị doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở tài sản thì có
thể sử dụng phương pháp tài sản ròng.
Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực
giá trị tài sản vật chất không nhiều như tài chính, bảo hiểm, tư vấn, kiểm
toán… thì phương pháp tài sản ròng sẽ bộc lộ nhiều thiếu sót, bắt buộc chỉ có
định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền mới khắc phục được.
 Sự ổn định của thu nhập và dòng tiền trong tương lai
Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố không chắc chắn trong tương lai, không có khả năng dự báo

mà có thể áp dụng nhiều phương pháp để đưa ra được giá trị thích hợp.
1.3.5 Các bước thực hiện định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền
Như phần 1.3.3 đã trình bày, giá trị của doanh nghiệp ( Intrinsic Value)
phụ thuộc vào hai biến đầu vào quan trọng là: Tốc độ tăng trưởng của dòng
tiền và Lãi suất chiết khấu. Do đó, trong quá trình định giá ta phải xác định
những yếu tố tác động trực tiếp đến hai tham biến này.

Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

16

Bảng 1.1: Sơ đồ quá trình tác động của các biến lên giá trị doanh nghiệp

Nguồn: Valuation – McKinsey 3rd 2002

Giá trị doanh nghiệp tác động đến sự biến động giá của cổ phiếu trên thị
trường.
Giá trị doanh nghiệp bị tác động bởi các tham số tài chính, ví dụ như:
Tốc độ tăng trưởng g, Tỷ suất lợi nhuân...
Và đến lượt, các tham số lại phụ thuộc vào các chỉ tiêu (Value drivers)
tùy theo từng doanh nghiệp khác nhau. Ví dụ như giá trị doanh nghiệp sản
xuất bánh kẹo sẽ phụ thuộc vào thị phần, vào chất lượng, hệ thống phân
phối... doanh nghiệp ngành dược phẩm sẽ phụ thuộc nhiều vào nghiên cứu –
phát triển (R&D).

Luận văn tốt nghiệp

17

1.3.5.1 Đánh giá môi trường và năng lực nội tại của doanh nghiệp
 Mục tiêu đánh giá:
Việc đánh giá các yếu tố môi trường và năng lực nội tại của doanh
nghiệp nhằm cung cấp thông tin để xây dựng các giả thuyết về dòng tiền
trong tương lai và đánh giá độ rủi ro khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp.
 Yêu cầu của đánh giá:
Khi đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài có tác động tới doanh
nghiệp và các yếu tố thuộc về nội bộ doanh nghiệp phải đạt được các yêu cầu
sau:
- Chỉ ra được những cơ hội thuận lợi, những nguy cơ đe dọa từ phía môi
trường kinh doanh
- Xác định được các điểm mạnh, điểm yếu so với các đối thủ cạnh tranh và
khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước sự tác động của các yếu tố môi
trường.
 Phương pháp đánh giá:
- Thu thập thông tin: Thông tin được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau:
chính sách của Nhà nước, văn bản luật, tạp chí chuyên ngành, các tổ chức
chuyên nghiệp, ngân hàng, báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán của doanh
nghiệp…
- Phương pháp đánh giá thường được sử dụng là phương pháp xếp hạng
cho điểm hay còn gọi là phương pháp chuyên gia.
 Nội dung đánh giá
Bước 1 gồm hai phần chính:

Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

Môi trường văn hóa đặc trưng bởi những quan niệm, lối sống, đạo đức…
ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng của dân cư, và sự đón nhận của họ đối với
doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.

Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

19

Môi trường xã hội thể hiện về mặt dân số, trình độ dân trí, cơ cấu dân số,
mật độ, thu nhập bình quân… tác động đến nhu cầu, chiến lược marketing…
của doanh nghiệp.
• Môi trường khoa học công nghệ
Tác động của khoa học – công nghệ lên quy trình sản xuất, phương thức tổ
chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngày nay, yêu cầu của cuộc sống
đòi hỏi các sản phẩm phải đa dạng, đảm bảo chất lượng, hình thức. Đây là
một thách thức của doanh nghiệp để cạnh tranh, tồn tại phải thích ứng trước
những bước phát triển mới của khoa học và công nghệ.
ii) Môi trường ngành
+ Đánh giá cung cầu thị trường
Cung cầu của thị trường cho biết độ lớn của thị trường hiện tại và tiềm
năng phát triển của thị trường trong tương lai.
Cung được xác định dựa trên số lượng các doanh nghiệp trong ngành,
số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đang có trên thị trường.
Cầu chủ yếu dựa trên nhu cầu của khách hàng đối với loại sản phẩm dịch

Đánh giá sự tham gia mới còn phải tính đến các rào cản gia nhập ngành
như: yêu cầu của người tiêu dùng, yêu cầu về công nghệ, vốn…
• Sự đe dọa của sản phẩm thay thế
Nếu có nhiều sản phẩm thay thế và sản phẩm thay thế đang có lợi thế
về giá hoặc chất lượng, cầu của sản phẩm dịch vụ sẽ giảm.
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

21

• Sức mạnh của người mua
Sức mạnh của người mua được đánh giá dựa trên sở thích của khách
hàng và lượng mua sản phẩm, dịch vụ trên một khách hàng. Nếu khách hàng
mua một lượng lớn hoặc có ít người mua, doanh nghiệp sẽ bị khách hàng chi
phối nhiều hơn. Đôi khi khách hàng tự liên kết với nhau để bảo vệ quyền lợi
và chi phối doanh nghiệp.
• Ảnh hưởng của nhà cung ứng
Tính ổn định của nguồn cung và sự chi phối của người cung cấp ảnh
hưởng tới mức giá các nguyên liệu đầu vào, tới tính ổn định của hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện tại và trong dài hạn. Sức mạnh
của nhà cung cấp thể hiện ở sự khan hiếm của nguồn cung, số lượng và đặc
quyền của các nhà cung cấp.
Phần 2: Đánh giá môi trường nội bộ của doanh nghiệp
Các yếu tố được đánh giá bao gồm 5 nhóm sau:
+ Cơ sở hạ tầng: là các tài sản của doanh nghiệp gồm có:

- Quan hệ với nhà cung cấp
Nhân sự là một tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp nào sở hữu một
đội ngũ nhân lực trình độ cao, lành nghề, đáp ứng được yêu cầu của công việc
hiện tại và những thay đổi trong tương lai sẽ đưa doanh nghiệp ngày càng
phát triển. Quan hệ với nhà cung cấp ảnh hưởng trực tiếp tới các biến đầu vào
của quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Sản phẩm và dịch vụ
- Cơ cấu sản phẩm
- Đa dạng hóa sản phẩm
- Nghiên cứu phát triển
Sản phẩm và dịch vụ là yếu tố quan trọng để tạo nên giá trị của công ty.
Sản phẩm thỏa mãn được yêu cầu khách hàng, thường xuyên cải tiến thay đổi
mẫu mã, nâng cao chất lượng sẽ giữ chân được khách hàng cũ và vươn đến
những khách hàng tiềm năng.
+ Người tiêu dùng/ Khách hàng
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

23

- Thị trường tiêu thụ
- Nhãn hiệu, hình ảnh của công ty
- Chiến lược thị trường và thị phần.
Tùy theo đặc thù của loại hình doanh nghiệp để xác định các yếu tố
thuộc về môi trường nội bộ có khả năng ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp

Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

24

cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu doanh thu được sử dụng để
xem xét khả năng hoạt động của doanh nghiệp.
Tỷ số vòng quay hàng
tồn kho

Kỳ thu tiền bình quân

Hiệu suất sử dụng TSCĐ

Hiệu suất sử dụng toàn bộ
tài sản

Doanh thu thuần
=

Hàng tồn kho
Các khoản phải thu

=



+ Các tỷ số về khả năng sinh lời.

Nguyễn Thị Diệp Quỳnh
45C

TCDN


Luận văn tốt nghiệp

Tỷ số lợi nhuận thuần
trên doanh thu

Tỷ số lợi nhuận thuần
trên tổng tài sản (ROA)

Tỷ số lợi nhuận trên vốn
cổ phân thường (ROE)

25

Lợi nhuận thuần
=

Doanh thu thuần
Lợi nhuận thuần

=





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status