QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ VÀO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
 

KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN:TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHI MINH VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐÔ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HÔI Ơ VIỆT NAM. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐO
VÀO CÔNG CUÔC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD: NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
SVTH:NHOM 7 T5(4-5) P A2-202

MSSV :

1.

DANH NA

13144171

2.

LÊ THỊ NGÂN TRÚC

13116157

3.

PHẠM DUY PHƯƠNG

13116105

2

1.1 Cơ Sở Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chủ

Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam

2

1.2 Đặc Điểm Của Xã Hội Việt Nam Trong Thời Kì Quá
Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội
Chương 2: Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Con Đường
Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ơ Việt Nam
2.1 Quan Điểm Của Mác-Lê Nin Về Thời Kì Quá Độ

4
7
7

2.2 Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Thời Kì Quá Độ Lên Chủ
Nghĩa
Xã
Hội

Việt
Nam
7
2.3 Về Bước Đi Và Biện Pháp Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội
Ở Việt Nam

11


18

TRANG NÀY BỎ,KO DC XÓA


MỞ ĐẦU

5


CHƯƠNG 1: TƯ TƯƠNG CỦA HỒ CHI MINH VỀ CHỦ
NGHĨA XÃ HÔI
1.1.Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam
1.1.1.Quan điểm của Mác-Ăng ghen-Lê nin về bản chất và mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội
- Mác-ăng ghen là người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học,
bằng những kết quả nghiên cứu của mình các ông đã chứng minh
được rằng hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn
đầu của nó là chủ nghĩa xã hội.
-Mác và ăng ghen đã từng bước xây dựng những luận điểm cơ bản
vè chủ nghĩa xã hội, chỉ ra những phương hướng phát triển chủ yếu
và những đặc trưng bản chất của nó mà đặc trưng cơ bản nhất là xóa
bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giải phóng con người khỏi tình
trạng bị bóc lột về kinh tế, bị áp bức về chính trị, bị nô dịch về tinh
thần, tạo điều kiện cho con người có thể tận lực phát triển mọi khả
năng sẵn có của mình.
- Lê nin phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chủ
nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh đã chuyển sang chủ nghĩa tư bản

nghĩa cá nhân.Hồ Chí Minh viết: “ chủ nghĩa cá nhân la một trơ
ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh
trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”. Và khẳng định: “ không có chế độ nao
tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn
va bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa”.
Từ đó, Hồ Chí Ninh cổ vũ: “ có gì sung sướng vẻ vang hơn la trau
dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vao sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội va giải phóng loai người”.
Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, đạo đức cao cả nhất là đạo đức cách
mạng, đạo đức giải phóng dân tộc, giải phóng loài người. Chủ nghĩa
xã hội vì vậy cũng là giai đoạn phát triển mới của đạo đức.
+ Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ truyền thống lịch sử,
văn hóa, con người Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông nghiệp lấy đất và nước
làm nền tảng. Chế độ công điền và công cuộc trị thủy sớm gắn kết
7


con người Việt Nam lại với nhau. Đó là những nhân tố quan trọng
hình thành nên tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nammột nhân tố thuận lợi để đi vào chủ nghĩa xã hội.Văn hóa Việt Nam
lấy nhân nghĩa làm gốc, có truyền thống trọng dân, khoan dung, hòa
mục để hòa đồng, văn hóa Việt Nam là văn hóa trọng tri thức, hiền
tài.Con người Việt Nam có tâm hồn trong sáng, giàu lòng vị tha,
yêu thương đồng loại, kết hợp được cái chung với cái riêng, gia
đình với Tổ Quốc, dân tộc và nhân loại.Tóm lại: nếu Mác-Ăng
ghen-Lê nin đã làm sáng tỏ bản chất của chủ nghĩa xã hội với tư
cách là một học thuyết và tư cách là một chế độ xã hội. Ngoài hai
vấn đề đó, Hồ Chí Minh cò nhìn nhận bản chất của chủ nghĩa xã hội
từ phương diện đạo đức, văn hóa..

lượng: 5,6%, luyện kim: 3,3%, cơ khí: 12,3%, hoá chất phân bón:
9,4%, vật liệu xây dựng: 6%. Công nghiệp nhóm B chỉ có lương
thực và thực phẩm là ngành lớn nhất: 33,6%, dệt da may nhuộm:
14,5%. Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, công nghiệp chiếm tỷ trọng
10,6% lao động xã hội, 37% giá trị tài sản cố định, làm ra 38,4%
tổng sản phẩm xã hội, 25,3% GDP và 53% giá trị sản lượng công
nông nghiêp. Nguồn nguyên liệu phụ thuộc nước ngoài, các ngành
lệ thuộc hoàn toàn là cơ khí, hoá chất, dệt… Thiết bị nhập từ nhiều
nguồn, trong đó của 13 nước tư bản, chiếm 41%, của Liên Xô và
Đông Âu 20%, trong nước chế tạo chỉ khoảng 13%. Về hiệu quả
sản xuất, mức tích luỹ trên 1 đồng vốn tài sản cố định của công
nghiệp trung ương là 0,25 đồng, hệ số tích luỹ của 100 đồng vốn
sản xuất là 33%, song chưa đạt mức ổn định của thời kỳ 1964-1965
của miền Bắc và năm 1970 của miền Nam. Tình trạng không sư
dụng hết công suất phổ biến, công nghiệp quốc doanh chỉ đạt 62%.
1.2.2. Ở miền Bắc
Sau 20 năm khôi phục, cải tạo, xây dựng và phát triển, đến cuối
năm 1975, đã hình thành một nền công nghiệp tự chủ với cơ sở vật
chất kỹ thuật được tăng cường đáng kể. Cơ cấu công nghiệp đã phát
triển hoàn chỉnh hơn, bao gồm các ngành công nghiệp nặng như
điện, than, gang thép, chế tạo máy công cụ…; công nghiệp hoá chất
đã sản xuất được xút, phân bón, thuốc trừ sâu…; công nghiệp nhẹ
và công nghiệp thực phẩm đã sản xuất được vải mặc, thuốc lá,
đường mật, rượu, bia, đồ hộp… Sản xuất công nghiệp bao gồm các
lực lượng quốc doanh trung ương, quốc doanh địa phương và hợp
tác xã tiểu thủ công nghiệp, cả công nghiệp nhóm A và công nghiệp
nhóm B.Nếu xét về phát triển giá trị sản lượng công nghiệp, năm
1955 = 1 lần thì năm 1975 = 16,2 lần, trong đó quốc doanh = 44,8
lần và tiểu thủ công nghiệp = 5,6 lần, nhóm A = 27,1 lần và nhóm B
= 12,3 lần, công nghiệp trung ương = 76 lần và công nghiệp địa

xuất xứ của Pháp, Mỹ, Đài Loan, Tây Đức… ví dụ như trong các
ngành công nghiệp điện tư và cơ khí chính xác.
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHI MINH VỀ CON
ĐƯỜNG QUÁ ĐÔ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HÔI Ơ VIỆT NAM
2.1.Quan điểm của Mác-Lê nin về thời kì quá độ
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lê nin thì có 2 con
đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là quá độ trực tiếp và quá độ
gián tiếp.Con đường thứ nhất là con đường quá độ trực tiếp lên chủ
nghĩa xã hội từ những nước tư bản phát triển ở trình độ cao.Con
đường thứ hai là quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những
nước chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp hoặc như V.I.Lê nin cho
rằng, những nước cps nền kinh tế lạc hậu chưa trải qua thời kì phát
triển của chủ nghĩa tư bản cũng có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được
trong điều kiện cụ thể nào đó, nhất là điều kiện Đảng kiểu mới của
10


giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo ( trở thành đảng cầm quyền) và
được hai hay nhiều nước tiên tiến giúp đỡ.
2.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
2.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh thống nhất với các nhà kinh điển và nhấn mạnh hình
thức quá độ “rút ngắn” áp dụng cho Việt Nam.
-Cần nhận thức rõ tính quy luật chung và đặc điểm lịch sư cụ thể
của mỗi nước khi bước qua thời kì quá độ: “ tùy hoan cảnh, ma các
dân tộc phát triển theo con đường khác nhau…Có nước thì đi thẳng
tiến đến chủ nghĩa xã hội, có nước thì phải qua chế độ dân chủ
mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội”.
-Hồ Chí Minh xây dựng quan niệm quá độ gián tiếp căn cứ vào thực

bộ, đảng viên…là khe hở chủ nghĩa tư bản dễ dàng lợi dụng. Hồ
Chí Minh nhấn mạnh “ muốn cải tạo xã hội chủ nghĩa thì phải cải
tạo chính mình, nếu không có tư tương xã hội chủ nghĩa thì không
lam việc xã hội chủ nghĩa được”.
-Về nhân tố đảm bảo được thực hiện thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam: phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng;
nâng cao hiệu lực quản lí của nhà nước; phát huy tính tích cực, chủ
động của các tổ chức chính trị xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ
đức và tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
2.2.2 Nhiệm vụ của thời kì quá độ
Nhiệm vụ lịch sư của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam bao gồm gồm 2 nội dung lớn:
Một là, xây dựng nền tảng vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội,
xây dựng tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ
nghĩa xã hội.
Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và
xây dựng, trong đó lấy xây dựng là trọng tâm, làm nội dung cốt yếu
nhất, chủ chốt lâu dài.Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao quát
những vấn đề cốt lõi, cơ bản nhất, trên cơ sở vận dụng sáng tạo học
thuyết Mác-Lê nin. Đó là các luận điểm về bản chất, mục tiêu và
động lực của chủ nghĩa xã hội; về tính tất yếu khách quan của thời
kì quá độ; về đặc điểm, nhiệm vụ lịch sư, nội dung, hình thức, bước
đi và biện pháp tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Tư tưởng đó đã trở thành tài sản vô giá, cơ sở lí luận, kim
chỉ nam cho việc kiên trì, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
của Đảng ta, đồng thời gợi mở nhiều vấn đề về xác định hình thức,
biện pháp và bước đi lên chủ nghĩa xã hội với những đặc điểm dân
tộc và xu thế vận động của thời đại hiện nay.Về nhân tố đảm bảo

*Nội dung kinh tế
Hồ Chí Minh đề cập trên các mặt : lực lượng sản xuất, cơ chế quản
lí kinh tế. Tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến hành công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa. Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng
cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối tốt nhất giữa các ngành sản
xuất xã hội, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Hồ Chí Minh
lưu ý phải phát triển đồng đều giữa kinh tế đô thị và kinh tế nông
thôn. Người đặc biệt chú trọng chỉ đạo phát triển kinh tế vùng núi,
hải đảo, vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và nâng cao đời
13


sống của đồng bào, vừa đảm bảo an ninh quốc phòng cho đất nước.
Tạo lập những yếu tố, những lực lượng đạt được ở thời kì tư bản
nhưng sao cho không đi lệch sang chủ nghĩa tư bản; sư dụng hình
thức và phương tiện chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Kẻ thù muốn đè bẹp ta về kinh tế thay bằng quân sự vì vậy ta phải
phát triển kinh tế. Người chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành
phần định hướng xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển kinh tế quốc
doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại phải gắn liền với xây dựng
quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cả ba
mặt sở hữu, quản lí và phân phối.
*Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội
Bác nêu phải khắc phục yếu kém về kiến thức, sự bấp bênh về
chính trị, sự trì trệ về kinh tế, lạc hậu về văn hóa…Tất cả sẽ dẫn đến
những biểu hiện xấu xa, thoái hóa cán bộ Đảng viên…là khe hở để
chủ nghĩa tư bản dễ dàng lợi dụng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Muốn
cải tạo xã hội phải cải tạo chính mình, nếu không có tư tưởng xã hội
chủ nghĩa thì không làm việc xã hội chủ nghĩa được. Người nhấn

lương thực thực phẩm cho nhân dân , các nhu cầu thiết yếu cho xã
hội.Cùng với các bước đi, Hồ Chí Minh đã gợi ý nhiều phương
thức, biện pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên thực tế
Người đã chỉ đạo một số cách làm cụ thể sau đây:
-Thực hiện cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp xây
dựng với cải tạo,lấy xây dựng làm chính.
-Kết hợp xây dựng và bảo vệ, đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ
chiến lược ở hai miền Nam, Bắc khác nhau trong phạm vi một quốc
gia.
-Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có kế hoạch, biện pháp, quyết tâm
để thực hiện thắng lợi kế hoạch.
-Trong điều kiện nước ta, biện pháp cơ bản, quyết định ,lâu dài,
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là đem của dân, tài dân ,sức dân,
làm lợi cho dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
-Phải học tập kinh nghiệm của các nước anh em nhưng không áp
dụng máy móc, vì nước ta có đặc điểm riêng của ta. “Ta không thể
giống Liên Xô…” “Tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội
không phải một cách hoàn toàn giống nhau”.
2.3.2.Về bước đi

15


Phải qua nhiều bước, “bước ngắn, bước dai, tùy theo hoan cảnh,…
chớ ham lam mau, ham rầm rộ…Đi bước nao vững chắc bước ấy,
cứ tiến dần dần”. Bước đi nông nghiệp: từ cải cách ruộng đất, rồi
lại đến hình thức hợp tác xã…Về bước đi công nghiệp “…Ta cho
nông nghiệp la quan trọng va ưu tiên, rồi đến tiểu thủ công nghiệp
va công nghiệp nhẹ, sau mới đến công nghiệp nặng”, “lam trái với
Liên Xô cũng la mác-xít”

quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài chi phối đã bỏ qua một
hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong tiến trình phát triển của
mình.Đối với nước ta, con đường phát triển bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa là tất yếu và có khả năng thực hiện. Điều kiện quan trọng
để thực hiện sự phát triển “rút ngắn” mà các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra đối với các nước tiến tư bản chủ nghĩa
đi lên chủ nghĩa xã hội là:
-

Phải có được tấm gương của một cách mạng tự sản đã thắng lợi.
Có được sự giúp đỡ, sự ủng hộ tích cực của các nước tiên tiến và giai
cấp vô sản các nước đó.
Có một chính đảng đảm nhận sự mệnh lãnh đạo đất nước tiến lên chủ
nghĩa xã hội.
Với những điều kiện mà các nhà kinh tế đã chỉ ra như trên, xét
trong tinh hình của khung cảnh quốc tế hiện thời, nước ta hoàn toàn
có đủ điều kiện và khả năng thực hiện một sự phát triển “rút ngắn”
để đi tới chủ nghĩa xã hội tương lai.
3.2 Những thành tựu và những hạn chế của chủ nghĩa xã hội
trong thời gian qua.
3.2.1 Thành tựu
Công cuộc đổi mới của Đảng khởi xướng từ năm 1986, sau 20 năm
đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, qua từng chặng
đường.Tính chung cho cả thời kỳ chiến lược 10 năm (1991 – 2001)
thì kết quả đã đạt được là rất khách quan: tốc độ tăng trường GDP
bình quân đạt 7.5%, trong đó nông – lâm – ngư nghiệp tăng 4.2 %.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong 10 năm tăng 2.07 lần.Đại
hội X đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm
(2010 – 2020) với mục tiêu tổng quát là: “Đẩy mạnh công nghiệp
hóa – hiện đại hóa, tập trung xây dựng có chọn lọc một số cơ sở

ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế.
Tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp trong GDP đã giảm và tỷ trọng các
ngành công nghiệp và xây dựng đã tăng lên, đặc biết là ngành dịch vụ.
Kinh tế đối ngoại phát triển khá, vị thế của nước ta trên trường quốc tế
được nâng cao. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng ngoạn mục. việc
thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đạt được nhiều kết
quả. Việc thu hút nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA) đã có
những bước tiến bộ.
Giáo dục và đạo tạo, khoa học công nghệ có bước phát triển.
Đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc giải quyết các vấn đề
xã hội và xóa đói giảm nghèo.
3.2.2 Hạn chế, tồn tại, khó khăn:
Nhìn chung, năng suất lao động nước ta còn thấp, chất lượng sản
phẩm chưa tốt, giá thành chưa cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp và
công nghiệp không tiêu thụ được cả trong nước và nước ngoài. Vì
18


vậy, nước ta chủ yếu vẫn là một nước nhập siêu.Về yếu tố lao động,
trình độ người lao động chưa cao. Tỷ lệ thất nghiệp hàng năm vẫn
còn cao. Giáo dục và đạo tạo đã có nhiều tiến bộ, song chất lượng
giáo dục và đào tạo còn thấp, cơ cấu còn bất hợp lý, chưa đáp ứng
được nhu cầu đào tạo nhân lực, nhân tài.
Việc chênh lệch giàu nghèo, hệ số chênh lệch giữa nhóm giàu và
nhóm nghèo ngày càng có khoảng cách lớn.Việc bảo vệ và cải thiện
môi trường đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên ôi nhiễm môi trường ngày
càng trầm trọng hơn, đặc biệt là ôi nhiễm nguồn nước và ôi nhiễm ở
các khu công nghiệp.Hệ thống giao thông thiếu đồng bộ. Giao
thông qua các thành phố, thị xã, các vùng kinh tế trong điểm chưa
hoàn chỉnh. Tai nạn giao thông xảy ra nhiều hơn.Các hoạt động

đại, tất yếu phải có quá trình phát triển tương ứng các quan hệ sản
xuất mới. Về mặt kinh tế, nước ta xuất phát từ một trình độ kinh tế
lạc hậu, để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, đòi hỏi
Đảng và Nhà Nước để ra chủ trương đúng đắn.
3.3.3. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở
đa phương hóa, đã dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt nam sãn sang
là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong công động quốc tế,
phấn đầu vì hòa bình, độc lập và phát triển.Tiếp tục giữ vững môi
trường hòa bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội.Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ lợi ích dân tộc, bảo vệ môi trườngSự phát triển của kinh tế
việt nam trong hội nhập kinh tế quốc tế phải dẫn đến chủ nghĩa xã
hội mà không đi chệch hướng. Phải xây dựng được một nền kinh tế
mà cơ cấu phải chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hiện đại, có sự cân
đối hợp lý giữa công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng
kinh tế. Sau cùng đó phải là một nền kinh tế giữ vững ổn định kinh
tế vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng phó
được với tất cả các tình huống phức tạp.

20


KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam bao quát những
vấn đề cốt lõi, cơ bản nhất trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng
tạo học thuyết Mác-Lênin về bản chất, mục tiêu và động lực của

CNXH.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
/>
duong-

/> />
22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status