LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em và được thực hiện
dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Thị Ánh Vân.
Các số liệu, kết quả trong nêu trong chuyên đề là trung thực.
Em xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
LỜI CẢM ƠN
Ngành Quản lý nhà nước là ngành học đào tạo cho sinh viên những kỹ năng
cơ bản về nghiệp vụ hành chính như: Kỹ năng tổ chức bộ máy, kỹ năng giải quyết
và xử lý các công việc hành chính, kỹ năng quản lý nhân sự …Để làm được điều
này một yêu cầu bắt buộc đặt ra với mỗi sinh viên là phải có sự nhận thức đúng
đắn cũng như sự đánh giá tổng hợp một cách khoa học về kỹ thuật hành chính.
Với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, kiến thức được thầy, cô giáo trang bị
trong suốt quá trình học và được sự giúp đỡ tận tình của Lãnh đạo UBND xã nên
trong quá trình nghiên cứu chuyên đề của bản thân em gặp thuận lợi hơn rất nhiều
và đã hoàn thành chuyên đề một cách thành công. Tuy nhiên, cũng có một số khó
khăn nhỏ khi thực hiện chuyên đề như: công việc văn phòng mang tính chất tổng
hợp và khối lượng công việc tương đối lớn nên việc xử lý công việc đòi hỏi phải có
những kinh nghiệm nhất định.
Qua bài nghiên cứu của mình, cá nhân em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành tới tất cả những người đã giúp đỡ em hoàn thành được kết quả học tập cũng
như kinh nghiệm thực tế của bản thân trong suốt khoá học. Đó là sự biết ơn tới các
thầy, cô giáo của trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói chung và các thầy, cô giáo ở
Khoa Hành Chính học và TS. Bùi Thị Ánh Vân nói riêng lòng biết ơn sâu sắc vì đã
dạy dỗ và truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại
trường, đặc biệt là về ngành Hành chính học. Bằng sự nhiệt huyết lòng yêu mến
học trò thầy, cô đã truyền đạt những kiến thức bổ ích và những ví dụ sát với thực tế
qua các bài giảng trên lớp để trang bị cho chúng em những kiến thức trong quá
trình vừa học vừa làm.
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ..........10
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ NGUYÊN BÌNH, HUYỆN TĨNH GIA, .........10
TỈNH THANH HÓA.............................................................................................10
2.1. Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của xã Nguyên Bình................10
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên và dân số.............................................................................10
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế và xã hội...............................................................11
2.1.3.Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBND xã Nguyên
Bình..............................................................................................................................11
2.2. Thực tiễn công tác giải quyết thủ tục hành chính tại UBND xã Nguyên Bình,
huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa................................................................................13
2.2.1. Sự cần thiết thực hiện cơ chế một cửa trong giải quyết các thủ tục hành chính
tại UBND xã Nguyên Bình ........................................................................................13
2.2.2. Cơ sở pháp lý về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa.................16
2.2.3. Thực trạng giải quyết thủ tục hành chính tại UBND xã Nguyên Bình, huyện
Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa...........................................................................................17
2.2.4. Kết quả đã đạt được và những tồn tại, hạn chế trong việc giải quyết thủ tục
hành chính tại Ủy ban nhân dân xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
.....................................................................................................................................20
2.2.4.1. Kết quả đạt được............................................................................................20
2.2.4.2. Những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính tại Ủy
ban nhân dân xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.............................21
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................................24
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM
SỚM ÁP DỤNG CƠ CHẾ MỘT CỬA TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT THỦ
TỤC HÀNH CHÍNH CỦA UBND XÃ NGUYÊN BÌNH, HUYỆN TĨNH GIA,
TỈNH THANH HÓA.............................................................................................24
3.1. Một số nhóm giải pháp.........................................................................................25
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế tất yếu khách quan
không thể thiếu của sự phát triển và nó cũng luôn tạo ra nhiều cơ hội, nhưng cũng
nhiều thách thức cho các quốc gia. Hội nhập quốc tế đặt ra nhiều vấn đề mới như
tuân thủ luật pháp, hợp tác đầu tư, ... vì thế mỗi quốc gia phải có những cơ chế,
chính sách linh hoạt trong giải quyết các thủ tục hành chính để thu hút các nhà đầu
tư. Vì vậy, cải cách hành chính mang tính toàn cầu. Ở nước ta, cải cách hành chính
đã được tiến hành trong nhiều năm, nhiều giai đoạn khác nhau. Với mục đích nhằm
công khai, minh bạch và đơn giản hoá thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết số 38/CP ngày 04 tháng 5 năm 1994 về cải cách một bước thủ tục hành
chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức. Đây là văn bản
pháp lý đầu tiên, cơ sở quan trọng cho việc cải cách thủ tục hành chính.
Trên tinh thần thực hiện các Nghị quyết, văn bản của Đảng và nhà nước, các
địa phương đã khẩn trương ban hành các văn bản về cải cách thủ tục hành chính.
Trong đó, nội dung quan trọng là thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên
thông vào giải quyết thủ tục hành chính cho công dân, tổ chức. Với việc đưa bộ
phận một cửa, một cửa liên thông vào hoạt động đã nâng cao chất lượng phục vụ
của các cơ quan hành chính nhà nước, quy về một đầu mối, một cửa, một dấu.
Giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cũng như tránh phải đi lại nhiều lần, gặp gỡ nhiều
phòng ban để liên hệ giải quyết thủ tục hành chính. Điều này đã nhận được sự ủng
hộ và tin tưởng của nhân dân vào chính quyền.
Tĩnh Gia là một huyện miền biển phía Nam của tỉnh Thanh Hóa trong đó có
khu kinh tế Nghi Sơn là một trong những khu kinh tế trọng điểm của cả nước.
Nguyên Bình là xã nằm giáp trung tâm huyện có vị trí địa lý thuận lợi nằm dọc
quốc lộ 1A, đường sắt Bắc-Nam, và tập trung đông dân cư khu Kinh tế Nghi Sơn
tái định cư. Ở đây đang thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia
đầu tư, do đó việc cải cách thủ tục hành hính cũng như đưa cơ chế một cửa vào
giải quyết thủ tục hành chính cho cong dân, tổ chức là một yêu cầu cần thiết. Ngày
17 tháng 11 năm 2006 của UBND tỉnh Thanh Hoá đã ban hành Quyết định số
1
vụ trọng tâm và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội
2
của tỉnh những năm qua và đưa ra những định hướng cơ bản cụ thể nhằm thực hiện
mục tiêu cải cách hành chính.
Đoàn Thị Hằng, (2010), “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
tại UBND thị xã Tam Điệp – Thực trạng và giải pháp đổi mới”.Đề tài đã nêu ra
những nguyên tắc xây dựng và thực hiện TTHC. Nêu ra thực trạng cải cách TTHC
theo cơ chế một cửa từ đó khắc phục những khó khăn và phát huy mặt tích cực
trong công cuộc cải cách TTHC theo cơ chế một cửa.
Những nghiên cứu trên đã góp phần quan trọng trong việc phân tích lý luận
và thực tiễn về cải cách hành chính, TTHC và cải cách TTHC theo cơ chế một cửa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác cải cách TTHC theo cơ chế một cửa tại
UBND xã Nguyên Bình. Đồng thời tham khảo những quy trình xử lý và giải quyết
TTHC ở những địa phương khác để có cái nhìn tổng quát hơn về công tác cải cách
TTHC trong thực tế.
Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian : Cải cách TTHC trong giai đoạn từ năm 2011 đến tháng 6 năm
2016.
- Không gian : Tập chung nghiên cứu TTHC hướng tới hoàn thiện các
TTHC.
- Phạm vi nghiên cứu : UBND xã Nguyên Bình.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu.
Trên cơ sở khảo sát , đánh giá thực trạng và vai trò của cải TTHC, nhằm
đưa ra những giải pháp, kiến nghị phát huy những mặt tích cực và khắc phục
những hạn chế trong cải cách hành chính tại UBND xã Nguyên Bình.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu
của đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác cải cách thủ tục hành chính và cải cách
thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa.
Chương 2. Thực trạng cải cách thủ tục hành chính tại UBND xã Nguyên
Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa trong những năm gần đây.
Chương 3. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm sớm áp dụng cải cách thủ
tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia,
tỉnh Thanh Hóa.
4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ
MỘT CỬA
1.1. Một số khái niệm liên quan
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về TTHC. TTHC theo nghĩa
tiếng việt là “cách thức tiến hành công việc theo một trình tự hay một luật lệ đã
quen”, theo từ điển từ ngữ và hán việt, nhà xuất bản TP.HCM. TTHC theo cuốn
đại từ điển tiếng việt của NXB văn hoá thông tin năm 1998 là“cách thức tiến hành
một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan nhà
nước”. Theo đó hoạt động quản lý nhà nước đều được tiến hành theo những thủ
tục nhất định. Theo quy định tại Điều 1, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính Phủ về “ Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương ” thì khái niệm thủ tục hành chính, cơ chế
một cửa được hiểu là:
Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức giải quyết công việc của các cơ
quan hành chính nhà nước có thẩm quyền để giải quyết công việc cụ thể giữa các
cơ quan hành chính nhà nước với nhau và giữa các cơ quan hành chính nhà nước
Cùng với việc thiết lập một hệ thống quản lý mới, Lênin xúc tiến việc cải
cách hành chính để đảm bảo cho bộ máy nhà nước vận hành thông suốt, Lênin coi
trọng việc cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm bớt những khâu xét
duyệt giấy tờ không cần thiết. Người đặc biệt lưu ý tới việc soạn lại các quy định
thật cơ bản thiết thực đã tính toán chính xác để thi hành có hiệu quả.
Để cải cách nền hành chính nhà nước, Lênin còn nhấn mạnh đến những vấn
đề thên chốt như công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tinh thần trách
nhiệm và đạo đức công vụ, đấu tranh chống lại các hành động quan liêu, tham
những, sách nhiễu.
1.2.2.Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong
việc xây dựng nền hành chính quốc gia thực sự hiện đại và hoạt động có hiệu quả.
Ngay từ buổi đầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
tiến hành xây dựng một nền hành chính phù hợp với yêu cầu mới.
Người yêu cầu “phải xây dựng một nền hành chính của dân, do dân và vì
dân”. Giảm thiểu những sách nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc hành
6
chính. Thủ tục hành chính phải phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc theo
đúng công việc, song cũng cần phù hợp với trình độ người dân.
Người lênn án mọi hành vi của quyền, lộng quyền của cán bộ khi giải quyết
công việc của nhân dân. Người yêu cầu “ cán bộ, đảng viên phải là những công bộc
trung thành và tận tình của nhân dân”.
1.2.3. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách thủ tục
hành chính.
Tại đại hội lần thứ VII của Đảng ( 6/1991 ) đã đánh dấu bước đổi mới, phát
triển về tư duy cải cách nền hành chính nhà nước trong sự nghiệp đổi mới đất
nước. Đảng đã đặt trọng tâm vào cải cách nền hành chính nhà nước và đổi mới hệ
thống chính trị. Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII (1/1995) đã ra nghị
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9001:2008 trong
giải quyết công việc của các cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ.
Nội dung cơ bản của kế hoạch là:
Cải cách thể chế.
Cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách tổ chức bộ máy
Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Cải cách hành chính công.
Nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo điều hành cải cách hành chính.
Tổ chức thực hiện. Trách nhiện của các cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể
trong bộ. Trách nhiệm của thủ tướng các cơ quan, đơn vị thuộc và trục thuộc Bộ.
trách nhiệm của Vụ Tổ chức cán bộ. Vụ cải cách hành chính. Trách nhiệm của văn
phòng Bộ. Trách nhiệm của vụ pháp chế. Trách nhiệm của Vụ kế hoạch tài
chính….
Cơ chế một của, và một cửa liên thông thực hiện ở 5 cấp tỉnh: Công an tỉnh,
Cục thuế tỉnh, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Kho
bạc Nhà nước tỉnh đã thực hiện cơ chế một cửa (trong đó có Công an tỉnh, Cục
thuế tỉnh thực hiện cơ chế một cửa liên thông).
Ở huyện áp dụng trong các lĩnh vực: cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cho hộ kinh doanh, giấy phép xây dựng…
Ở xã: cấp giấy phép xây dựng nhà ở, đất đai hộ tịch…
8
Tiểu kết chương 1
Cải cách thủ tục hành chính là một bộ phận quan trọng trong cái cách nền
hành chính quốc gia.Yêu cầu đặt ra là phải đạt được những yêu cầu trong
quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan nhà nước với nhau và
giữa các cơ quan nhà nước với tổ chức,công dân
được cơ cấu cây lúa nước và việc tưới tiêu tương đối chủ động.
Xã Nguyên Bình có dãy núi đá Thổ Sơn, núi Năng, núi Nguyền và dãy núi
Bộc là nguồn nguyên liệu quý trong kiến thiết cơ bản, có hai cồn cát lớn khoảng
20ha chủ yếu là xây dựng và sản xuất thuỷ tinh.
Nhân dân xã Nguyên Bình thuần tuý làm nông nghiệp chủ yếu là sản xuất
cây lúa, cây lạc, khoai lang và trồng rau sạch. Ngoài ra còn phát triển thêm nghề
như đục đá, thợ mộc, thợ hồ và kinh doanh dịch vụ.
Theo số liệu thống kế đến năm 2011 xã Nguyên Bình có 2.214 hộ với 9.677
nhân khẩu; trong đó có 4.712 nhân khẩu là nam giới, nữ giới chiếm 4.965 nhân
khẩu và độ tuổi từ 14 tuổi trở lên chiếm 8.358 người. Tổng số đất đai 3.206,4ha
trong đó có 640 ha đất canh tác. Hợp tác xã nay khoán cho nhóm sản xuất và người
10
lao động, có 953,4 ha trồng cây lâm nghiệp với diện tích khoảng 1.800ha rừng. Xã
Nguyên Bình có ba đường quốc lộ xuyên qua dọc theo hướng Bắc – Nam là đường
quốc lộ số 1A, đường xe lửa Hà Nội – Sài Gòn và một đường chiến lược. Ngày
nay trong công cuộc đổi mới nhờ những điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên thuận lợi có sẵn cùng với sự quan tâm của Đảng và nhà nước, Đảng bộ chính
quyền và nhân dân xã Nguyên Bình đang vươn mình đứng lên đạt nhiều thành tựu
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hoá – xã hội – chính trị.
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế và xã hội
Những năm vừa qua nhờ có sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, nhà nước cũng
như sự quan tâm của cấp trên và sự cố gắng của chính quyền, nhân dân địa phương
mà Nguyên Bình đã có những bước tiến vượt bậc trong phát triển kinh tế - xã hội.
100% trẻ em trong độ tuổi theo học đều được đến trường, tỉ lệ học sinh thi đỗ vào
các trường Đại học, Cao đẳng tăng cao và số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp
Trung học phổ thông theo học tạo các trường trung cấp nghề lớn.. Hệ thống kênh
mương tưới tiêu phục vụ sản xuất và hệ thống điện, đường giao thông hầu như đã
được hoàn thiện đến từng thôn xóm. Cùng với đó là việc áp dụng những tiến bộ
thực hiện phối hợp các ban ngành, đoàn thể, trường học, thôn xóm trên địa bàn
thực hiện biện pháp giúp bảo vệ tài sản của Nhà nước, tập thể, công dân…,
Cơ cấu tổ chức của UBND xã Nguyên Bình:
Lãnh đạo UBND xã Nguyên Bình gồm: 01 Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch chịu
trách nhiệm phụ trách hai lĩnh vực kinh tế và văn hoá – xã hội.
Gồm có 08 phòng ban chức năng là các cơ quan tham mưu cho Lãnh đạo
UBND và quản lý về chuyên môn sau:
1.Văn phòng – Thống kê UBND xã:
02 người.
2.Địa chính – xây dựng:
02 người.
3.Tư pháp - hộ tịch:
01 người.
4.Trưởng Công an:
01 người.
5.Văn hoá – xã hội:
01 người.
6.Tài chính - Kế toán:
02 người.
hành chính. Công dân, tổ chức cũng không mất nhiều thời gian để đi qua rất nhiều
phòng ban sau đó mới có thể đến được phòng giải quyết thủ tục quan trọng sau
cùng. Mà việc đi lại “ nhiều cửa” có một số trường hợp không đạt kết quả vì “ mỗi
cửa” hướng dẫn một khác, có những lúc giữa các phòng giải quyết không đồng
nhất, gây mâu thuẫn lẫn nhau. Công dân muốn làm cho các cửa của cơ quan hành
chính “thông suốt” được với nhau đòi hỏi tiêu tốn rất nhiều tiền của, công sức, thời
gian, hay còn gọi là “phí bôi trơn” để các TTHC được giải quyết kịp thời. Nhiều
lúc họ còn phải sử dụng đến nhiều mối quan hệ ngoài công vụ mới có thể giải
quyết được. Thực tế không phải công dân, tổ chức nào cũng có đủ điều kiện và tự
nguyện làm “ công việc” này. Rõ ràng từ chỗ họ được phục vụ thì giờ họ đang phải
đi cầu xin dịch vụ từ các nhà quản lý nên nhiều khi vì nhiều lý do khác nhau mà
người dân chấp nhận bỏ ra một khoản “ phí bôi trơn” để sớm được giải quyết thủ
13
tục. Từ đó tạo ra sự bất bình đẳng trong việc được cung ứng dịch vụ công của
người dân. Khi CCMC được triển khai thực hiện đã khắc phục cơ bản tình trạng
bức xúc này. Nó trả về đúng bản chất của sự phục vụ, cơ quan nhà nước phải tự
làm công việc của mình, không được đùn đẩy những việc của mình về phía người
dân, đẩy khó khăn về phía người dân, phải coi việc phục vụ nhân dân là quyền và
nghĩa vụ của mỗi cán bộ, công chức nhà nước. Khi triển khai việc thực hiện
CCMC trong giải quyết thủ tục hành chính, cơ quan hành chính phải kiện toàn bộ
máy của mình, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công chức. Bởi vì, họ phải đảm
nhận và thực hiện chức năng thực sự của mình qua cơ chế mới, không còn chuyện
công dân làm thay cho cơ quan nhà nước như trước đây. Về thời gian giải quyết
của từng thủ tục hành chính được quy đinh cụ thể và công khai theo hướng ngày
càng rút ngắn cũng là cơ sở tăng tính trách nhiệm và hiệu quả làm việc của CBCC.
Để thực hiện tốt những quy định này phải xác định rõ bản chất pháp lý của
CCMC. Một cửa tức là công việc tập trung về một đầu mối có trách nhiệm chính
thực hiện thông qua sự phối hợp với các “cửa” khác. Không thể nhầm lẫn giữa việc
của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các công việc liên quan đến công dân,
tổ chức tạo thành hệ thống quy phạm thủ tục, buộc các cơ quan nhà nước cũng như
các CBCC và công dân, tổ chức phải tuân theo trong quá trình giải quyết công
việc. Về mặt nguyên tắc, để tiến hành quản lý có hiệu quả, cơ quan hành chính
phải đảm bảo tuân thủ một cách nghiêm túc những quy tắc, đó chính là những quy
định về trình tự, cách thức giải quyết các thủ tục. Xét trong nội bộ của bộ máy
hành chính nhà nước, CCMC trước hết là do các cơ quan nhà nước xây dựng và
công bố để thực giúp cho việc giải quyết thủ tục được rút ngắn, thuận tiện hơn và
đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm thực thi các thủ tục đó.
Nếu CCMC khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý, sẽ tạo khả năng sáng
tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua, đem lại hiệu
quả thiết thực cho quản lý nhà nước. Do vậy, khi được xây dựng hợp lý và vận
dụng tốt vào đời sống nó sẽ tạo ra mối quan hệ tốt giữa nhà nước và nhân dân.
Thời gian qua từ thực tế của việc thực hiện CCMC tại các địa phương, ý
nghĩa cũng như tầm quan trọng của cải cách thủ tục hành chính đã được nhìn nhận,
đánh giá đúng mức hơn. Ở những nơi CCMC vận dụng không hợp lý do căn bệnh
cửa quyền, quan liêu chưa được khắc phục, thì nhìn chung việc giải quyết công
việc đều không có hiệu quả cao, hoặc bị ách tắc hoặc nhiều khi rất trì trệ. Trái lại, ở
15
những nơi thực hiện giảm nhẹ các thủ tục hành chính, tập trung vào một cửa để
giải quyết yêu cầu của dân thì ở đó hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nâng cao
rõ rệt. Công việc được giải quyết nhanh chóng, thuận lợi. ở những nơi đó lòng tin
của người dân vào cơ quan nhà nước đã bắt đầu đươc khôi phuc, củng cố. Đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay, khi ở nước ta đang tiếp tục công cuộc cải cách nền hành
chính nhà nước và xây dựng nhà nước ta trở thành nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, thì việc thực hiện CCMC tại các cơ quan hành chính nhà nước nói
chung và tại UBND xã Nguyên Bình nói riêng lại càng có vai trò quan trọng. Đảng
và nhà nước ta đang đề ra các biện pháp nhằm cải cách thủ tục hành chính để
- Chỉ thị số 21/CT-UBND ngày 07/10/2009 về việc tăng cường chỉ đạo thực
hiện bộ thủ tục hành chính đã công bố và rà soát thủ tục hành chính của Chủ tịch
UBND tỉnh;
- Quyết định số 3190/QĐ-UBND ngày 30/6/2009 của UBND tỉnh Thanh
Hóa về việc công bố bổ sung thủ tục hành chính vào Bộ thủ tục hành chính chung
áp dụng tại cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Thực hiện Quyết định của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa trong giải
quyết thủ tục hành chính tại UBND xã, phường, thị trấn hầu hết các địa phương
trong cả nước đã thực hiện CCMC vào giải quyết các TTHC, tạo điều kiện thuận
lợi cho công dân và tổ chức khi cần liên hệ thực hiện thủ tục cũng như rút ngắn
thời gian và tiết kiệm chi phí cho người dân. Nhưng do điều kiện của địa phương
còn nhiều khó khăn, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được những yêu cầu của
công việc nên hiện nay việc thực hiện CCMC trong giải quyết các TTHC hàng
ngày vẫn chưa được áp dụng tại UBND xã Nguyên Bình. Hiện nay, tại UBND xã
Nguyên Bình việc giải quyết các TTHC cho công dân, tổ chức vẫn đang áp dụng
theo mô hình cũ đó là nhiều khâu, nhiều cấp trung gian gây khó khăn, mất thời
gian cũng như chi phí đi lại cho công dân trong quá trình liên hệ giải quyết thủ tục.
2.2.3. Thực trạng giải quyết thủ tục hành chính tại UBND xã Nguyên
Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
Do những điều kiện nhất khó khăn về cơ sở vật chất nhất định nên trước đây
việc nhiều cán bộ làm chung một phòng làm việc hay cán bộ kiêm nhiệm nhiều
việc vẫn đang diễn ra như văn phòng UBND và phòng Tư pháp - Hộ tịch làm việc
và giải quyết công việc chung trong một phòng làm việc. Việc quản lý hồ sơ giấy
tờ của từng phòng ban gặp khó khăn do phòng làm việc chật hẹp, tạo ra tâm lý làm
17
việc không thoải mái cho cán bộ cũng như công dân khi đến giao dịch. Nhưng việc
thiếu phòng làm việc này cũng một phần nào đó đã cho chúng ta thấy việc giải
quyết các TTHC của cán bộ, công chức và người dân đã dần hình thành như cơ chế
biết TTHC của mình cần thực hiện được thì phải làm như thế nào. Tất cả những
câu hỏi này đều tập trung về văn phòng và cán bộ văn phòng thường xuyên phải
hướng dẫn cho người dân đến liên hệ giải quyết TTHC này thì phải tới những
phòng ban nào và gặp những ai. Ví dụ: “ Khi công dân thực hiện TTHC trong lĩnh
vực chứng thực thì hầu hết tất cả các công dân đến thực hiện thủ tục đều vào Văn
phòng UBND xã trước tiên. Họ nói vào xin dấu chứng thực, vì thói quen trước đây
họ cũng chỉ phải vào văn phòng xin dấu chứng thực, sau đó xin chữ ký và quay lại
đóng dấu là xong, được thực hiện tại 2 phòng làm việc. Vì thế cán bộ văn phòng lại
phải hướng dẫn công dân chuyển hồ sơ qua phòng Tư pháp - Hộ tịch đóng dấu
chứng thực. Sau đó tiếp tục chuyển hồ sơ sang phòng Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch
UBND ký rồi lại chuyển về văn phòng đóng dấu và nộp lệ phí để nhận hồ sơ của
quá trình thực hiện TTHC mà những phòng này không được bố trí gần nhau. Do
trình độ dân trí của một bộ phận nhân dân còn hạn chế nên nhiều lúc cán bộ văn
phòng đã giải thích nhưng họ vẫn chưa hiểu rõ quy trình thực hiện như thế nào và
thắc mắc, gây mất thời gian giải quyết công việc của cán bộ”. . .
Bảng 2.1. Kết quả giải quyết hồ sơ trong lĩnh vực Tư pháp – Hộ tịch.
Năm
Đăng ký khai sinh
Hồ sơ
Hồ sơ hoàn trả
Hồ sơ
tiếp
Đúng
Trễ
tiếp
Đúng
Trễ
5
320
hẹ
312
hẹn
7
1
3
1
376
372
2
2
469
467
0
2
516
513
3
0
235
230
3
2
283
283
0
được đời sông của nhân dân điạ phương nên cán bộ văn phòng hầu như không bao
giờ thu nhiều như các văn bản quy định thu lệ phí của công dân. Đây là cách làm
vừa có tình, vừa có lý nhưng cần công khai cho người dân biết mức thu phí được
quy định như thế nào.Và để cho họ biết họ đang được cán bộ văn phòng thu theo
đúng quy định.
2.2.4. Kết quả đã đạt được và những tồn tại, hạn chế trong việc giải
quyết thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh
Gia, tỉnh Thanh Hóa
2.2.4.1. Kết quả đạt được
Cùng với UBND các xã, phường, thị trấn khác trên cả nước thì UBND xã
Nguyên Bình trong những năm vừa qua đã và đang làm tốt những công việc thuộc
chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của mình được giao. Với một địa phương chủ
yếu là sản xuất nông nghiệp thì đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Vì thế
20