MỤC LỤC
1
A.
MỞ BÀI
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang biến đổi từng ngày, cố gắng
hoàn thiện để hòa mình vào xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự tồn tại của các tổ
chức xã hội ngày càng có ý nghĩa không thể thiếu được. Sự đóng góp của các tổ
chức xã hội trong quản lý hành chính nhà nước là hết sức cần thiết, là điều kiện
quan trọng đối với công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam. Chính vì vậy em xin
lựa chọn đề tài “Phân tích vai trò của tổ chức xã hội trong quản lý hành chính nhà
nước” để tìm hiểu và nghiên cứu.”
B.
NỘI DUNG
I. Lý luận chung
1. Khái niệm và đặc điểm của tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt
Nam có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và điều lệ, không vì lợi
nhuận nhằm đáp ứng lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lí
nhà nước, quản lí xã hội.1
Mỗi tổ chức xã hội có những hoạt động, điều lệ khác nhau nhằm duy trì sự
tồn tại, phát triển và mục đích của tổ chức. Song, các tổ chức đều tồn tại những đặc
điểm chung sau đây:
- Các tổ chức xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện của những thành
các hoạt động cụ thể. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này không được trái
pháp luật. Nhà nước đặt ra các quy định về các tổ chức xã hội ( quy chế pháp lý
hành chính của tổ chức xã hội) nhằm tạo ra các đảm bảo về tư tưởng, tổ chức, pháp
lý và vật chất cho tổ chức và hoạt động của họ.
3
- Các tổ chức xã hội hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên. Đây là đặc điểm để phân biệt tổ
chức xã hội với tổ chức kinh tế. Các tổ chức xã hội có vai trò giáo dục và tuyên
truyền ý thức pháp luật cho nhân dân, đây là mục đích mà các điều lệ và hoạt động
của tổ chức xã hội hướng tới. Đồng thời, tổ chức xã hội còn đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của các thành viên tham gia, đòi hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phải bảo vệ. Một số tổ chức được thành lập và hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu
về văn hóa, xã hội của các thành viên hay để trao đổi kinh nghiệm, sở thích ( Hội
vui tuổi già, hội những người yêu thể thao…). Các tổ chức xã hội có thể làm kinh
tế để gây quỹ hoạt động, nhưng đây không phải hoạt động chính của tổ chức xã
hội.
2. Phân loại tổ chức xã hội
Dựa vào tính chất hoạt động của các tổ chức xã hội, ta có thể phân chia tổ chức xã
hội thành những loại cơ bản gồm:
-
Tổ chức chính trị;
Các tổ chức chính trị - xã hội;
Các tổ chức xã hội – nghề nghiệp;
Các hội được thành lập theo dấu hiệu riêng;
Tổ chức tự quản phục vụ lợi ích cộng đồng.
nhà nước trao quyền còn cho phép các tổ chức xã hội thực hiện hoạt động quản lý
(giám sát xã hội). Tuy nhân dân không trực tiếp tham gia quản lý hành chính Nhà
nước nhưng các tổ chức xã hội là đại diện của nhân dân như Mặt trận tổ quốc Việt
Nam, công đoàn,… lại có thể thay mặt nhân dân quản lý hành chính nhà nước.
- Ngoài ra các tổ chức xã hội có quyền tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp
luật, đặc biệt là trong lĩnh vực mà tổ chức xã hội đó hoạt động. Ví dụ như hiệp hội
5
trọng tài có quyền tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Luật trọng tài thương mại,
đoàn luật sư có quyền tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Luật luật sư,…
2. Vai trò riêng của mỗi tổ chức xã hội trong quản lý hành chính nhà nước
2.1. Vai trò của tổ chức chính trị
Hiện nay ở Việt Nam chỉ có 1 đảng chính trị được tồn tại và hoạt động hợp
pháp là Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam hoạt đọng với mục
đích chính trị là mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kêt dân tộc lý liên minh giữa giai
cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, nhằm đạt mục
tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh.
- Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn định hướng cho sự phát triển
của toàn xã hội trong từng thời kì phát triển, trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là
trong quản lí hành chính nhà nước.
- Đảng vạch ra những phương hướng và nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho việc xây
dựng và hoàn thiện nhà nước (quản lí hành chính nhà nước).
- Đảng đề ra những quy định và chính sách về công tác cán bộ; phát hiện lựa chọn,
bồi dưỡng những đảng viên ưu tú và những người ngoài Đảng có phẩm chất và
năng lực giới thiệu với cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua
cơ chế bầu cử, tuyển chọn để bố trí vào làm việc trong các cơ quan nhà nước và
các tổ chức chính trị-xã hội, hay nói cách khác, Đảng cung cấp nguồn nhân lực cho
quản lí hành chính nhà nước.
7
đoàn thể quần chúng khác chăm lo và bảo vệ quyền lợi của thế hệ trẻ, đề xuất với
Đảng và nhà nước các chính sách, quan điểm phát huy năng lực và tạo điều kiện
cho thế hệ trẻ Việt Nam phát triển toàn diện.
- Hội cựu chiến binh Việt Nam: tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền, phát huy
dân chủ góp phần giữ ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh; tham gia
thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; góp phần tích cực vào
việc giáo dục thế hệ trẻ và tham gia vào hoạt động đối ngoại của Đảng và nhà
nước.
Như vậy các tổ chức chính trị-xã hội là chỗ dựa của chính quyền nhân dân,
với vai trò hội tụ sức mạnh toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị, góp phần
ổn định chính trị từ trung ương đến địa phương tạo điều kiện để nhà nước thực
hiện việc quản lí hành chính nhà nước, quản lí xã hội.
2.3. Vai trò của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp
Tổ chức xã hội – nghề nghiệp là tập hợp tự nguyện của những cá nhân, tổ
chức cùng thực hiện các hoạt động nghề nghiệp, được thành lập nhằm hỗ trợ các
thành viên trong hoạt động nghề nghiệp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
thành viên. Một số các tổ chức xã hội nghề nghiệp có thể kể đến như Hiệp hội
trọng tài, Hội nhà văn Việt Nam, Hội nhà báo Việt Nam,…
Ngoài những vai trò chung đối với quản lý hành chính nhà nước như đã nêu
ở trên, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp còn có 1 số các vai trò đặc thù. Đối với
vấn đề giải quyết việc làm, các tổ chức này bảo đảm cho mọi thành viên tham gia
hội có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm. Qua đó hạn chế
thất nghiệp, ảnh hưởng tiêu cực tới xã hội đồng thời giới thiệu được những người
phù hợp vào từng công việc cụ thể, nâng cao được năng suất lao động. Đối với bảo
tồn và phát triển văn hoá dân tộc, các tổ chức như Hội nhà văn Việt Nam, Hội nhà
8
biến danh sách các ửng cử viên, giúp đỡ Ủy ban bầu cử suốt tiến trình của cuộc
bầu cử.
Tổ hòa giải là “tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở để
hoạt động hòa giải” (Khoản 5 Điều 2 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013). Với cơ sở
pháp lý là Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013, tổ hòa giải được nhân dân cử ra, thực
hiện chức năng của mình là thực hiện hòa giải, kịp thời giải quyết các tranh chấp,
xích mích nhỏ trong cộng đồng dân cư, giúp nhân dân xây dựng nếp sống văn hóa,
tuân thủ pháp luật. Ngoài ra, tổ hòa giải còn phối hợp với Ban công tác Mặt trận,
Chi hội phụ nữ, Chi đoàn thanh niên, Chi hội cựu chiến binh, Chi hội nông dân,
Chi hội người cao tuổi, các tổ hòa giải và tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động
của mình; có quyền kiến nghị với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Uỷ
ban nhân dân cấp xã về hoạt động hòa giải ở cơ sở, các điều kiện cần thiết cho hoạt
động hòa giải ở cơ sở. Như vậy, có sự phối hợp giữa cơ quan hành chính nhà nước,
giữa các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương với tổ hòa giải trong hoạt động.
Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, với nhiệm vụ “giám sát
việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực
hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở” (Điều 66 Luật thanh tra năm 2010). Thanh tra
nhân dân có quyền kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp
luật khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và giám sát việc thực hiện kiến
nghị đó; kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước khắc phục sơ hở,
thiếu sót được phát hiện qua việc giám sát; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân và người lao động, biểu dương những đơn vị, cá nhân có thành tích. Như
vậy, tổ chức thanh tra nhân dân với chức năng giám sát và kiến nghị góp phần
10
không nhỏ trong việc đảm bảo minh bạch của hoạt động cơ quan nhà nước ở cơ sở,
12