Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tại xã đông hưng, thành phố thanh hóa, tỉnh thanh hóa - Pdf 38

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của Tiểu luận này hoàn toàn được
hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Thị Ánh Vân. Các số liệu và kết quả có được
trong Tiểu luận là hoàn toàn trung thực.


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn các bác, các anh chị công tác tại xã
Đông Hưng đã cung cấp thông tin, tài liệu tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện Tiểu luận. Cảm ơn TS. Bùi Thị Ánh Vân, người hướng đã hướng
dẫn tận tình giúp đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành Tiểu luận.
Em xin chân thành cảm ơn


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
S

TÊN VIẾT TẮT

TÊN ĐẦY ĐỦ

TT
1

CBCC

CÁN BỘ CÔNG CHỨC

2
3

Hồ Chí Minh đặt ra từ rất sớm khi chăm lo nâng cao phẩm chất của đội ngũ cán
bộ công chức của chính quyền mới cho đến nay vẫn mang nhiều giá trị thực tiễn.
Công tác cán bộ của chúng ta hôm nay vẫn định hướng theo những tư tưởng của
Người. Những văn bản pháp quy về cán bộ công chức Nhà nước đã kế thừa và
cụ thể hoá nhiều quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những nỗ lực nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức từ khâu lựa chọn, tuyển dụng đến việc
huấn luyện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao
của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.
Cán bộ, công chức là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và
củng cố chính quyền vững mạnh. "Độ bền của chuỗi xích phụ thuộc vào độ bền
của mắt xích yếu nhất"[2,Tr225]. Từng chi tiết hoạt động tốt là điều kiện quan
trọng bảo đảm cho cả hệ thống bộ máy hoạt động tốt. Nâng cao chất lượng của
đội ngũ cán bộ công chức cả về phẩm chất và năng lực là một công tác quan
trọng bên cạnh việc tạo ra những cơ chế hoạt động hiệu quả để nâng cao được
chất lượng của bộ máy chính quyền trong vai trò quản lý và điều hành hoạt động
của cả xã hội, giữ vững sự nghiêm minh của luật pháp, trật tự kỷ cương, công
bằng xã hội.
Chính quyền cấp cơ sở là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền Nhà
nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, đảm bảo cho các
chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước được triển khai thực hiện trong
đời sống. Vì vậy đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng, đảm bảo “Vừa hồng,
vừa chuyên” hết lòng phụng sự nhân dân, giữ gìn đoàn kết cơ sở, tăng uy tín
của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân. Việc nâng cao chất lượng cho cán bộ,
công chức cấp xã góp phần xây dựng độ ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững
mạnh, đủ khả năng thực thi chức năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ
5


quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức, để thực hiện trọng trách “công

Mở đầu
Nội dung
7


-Chương 1: Cơ sở lý luận về cán bộ, công chức cấp cơ sở
-Chương 2:Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã
Đông Hưng
-Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ công chức xã
Đông Hưng.
Kết luận

8


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ
1.1. Quan niệm về chính quyền cấp cơ sở
Theo quy định của Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn). Là một cấp cuối cùng trong hành
chính bốn cấp;xã, phường, thị trấn được xác định là cấp cơ sở. Vì vậy cấp xã
chính là nền tảng của hệ thống chính trị, đóng vai trò thiết thực trong việc xây
dựng chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, là yếu
tố quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta. Chính quyền cấp
xã bao gồm hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, trong đó HĐNN “là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
được làm chủ của nhận dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiêm
trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. Còn ủy ban nhân dân
do HĐNN bầu, là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước hội đồng nhân dân cùng

Đông Hưng là một xã thuộc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá,
Việt Nam. Xã Đông Hưng có diện tích: 436,06 ha. Dân số năm 2006 là 3.723
người.
Điều kiện tự nhiên:
+ Vị trí địa lý: Xã Đông Hưng nằm ở phía Tây TP Thanh Hóa
Phía Bắc giáp Phường An Hoạch - TP Thanh Hóa
Phía Nam giáp xã Đông Vinh TP Thanh Hóa và xã Đông Quang - huyện
Đông Sơn.
Phía Đông giáp Phường Quảng Thắng - TP Thanh Hóa.
Phía Tây giáp xã Đông Văn - huyện Đông Sơn
Là một xã quan trọng của Thành phố Thanh Hóa, có ưu thế đặc biệt về vị
trí giao thông với một mạng lưới giao thông đồng bộ bao gồm đường sắt, đường
bộ thuận lợi cho việc giao lưu phát triển với các xã.
+ Địa hình: Là một xã Đồng bằng, đất đai không đồng đều, có các dẫy
núi đá đan xen lẫn nhau, có sông Nhà Lê nằm ở phía Đông giáp danh giữa xã
Đông Hưng và Phường Quảng Thắng.
+ Địa chất: Có nhiều loại tài nguyên đất đá. Có nguồn đá vôi rồi rào và
10


phong phú với trữ lượng hàng triệu m3…
+ Thổ nhưỡng: thuộc loại đất nhiều màu mở thích hợp với trồng cây lúa
nước (đất thịt và đất pha cát)
+ Khí hậu: Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa
+ Dân tộc: Dân tộc Kinh là chủ yếu (Chỉ có một vài nhân khẩu là dân tộc
tày và mường)
+ Dân cư: Sống tập trung
Lịch sử truyền thống văn hóa:
Trước đây xã Đông Hưng theo quảng dư địa chí, năm 280 - 420 vùng
này có tên gọi là xã Yên Hoạch gắn liền với tên của dãy núi Yên Hoạch. Xãc

chi bộ, trong đó có 2 chi bộ nhà trường là: Chi bộ trường Tiểu học và chi bộ
trường mầm non.
Kinh tế
Xã Đông Hưng còn có tên tuổi với nghề chế tác các tượng bằng đá (ngày
nay tuy không còn nhiều nghệ nhân theo nghề nhưng những bức tượng còn lại
của Đông Hưng là minh chứng cho một thời hoàng kim trước đây). Ngày nay
Đông Hưng phát triển theo hướng các công ty xây dựng cơ sở hạ tầng cho
Thanh Hóa và cung cấp một lượng lớn đá ốp lát tới các thị trường trong và ngoài
nước.
Sản xuất nông nghiệ từng bước ổn định, diện tích lúa 2 vụ tăng, đảm bảo
cung cấp lương thực cho toàn xã và các xã lân cận, diện tích rau màu, cây ăn quả
phát triển.
1.3. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ,công chức cấp cơ sở
Cán bộ, công chức cấp cơ sở là một bộ phận không thể thiếu trong đội
ngũ cán bộ, công chức nước ta. Mọi hoạt động của chính quyền cơ sở đều do
cán bộ, công chức cấp cơ sở thực hiện. Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết
định đối với sự nghiệp cách nghiệp cách mạng. Nghị quyết quyết hội nghị Trung
ương 3 (khóa VIII) khẳng định trong công cuộc đổi mới đất nước thì: “Cán bộ
cũng có vai trò cực kì quan trọng hoặc thúc đấy hoặc kìm hãm tiến trình đổi
mới”. Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí
nền tảng cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương
đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong thực tế. Pháp luật của Nhà
nước có được thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không hiệu quả một phần
quyết định là ở cơ sở. Cấp cơ sở trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong
trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần
12


quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn.
Do địa bàn hoạt động, chất công việc và nhiệm vụ được giao nên người

13


sở pháp lý quan trọng để tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công
chức cấp cơ sở hiệu quả nhất.
Pháp lệnh cán bộ,công chức năm 1998,sửa đổi, bổ sung năm 2003;
Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính
phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn;
Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính
phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn;
Thông tư số 03/2004/TT-BNV của Bộ Nội vụ ngày 16 tháng 01 năm 2004
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP của Chính phủ về cán bộ,
công chức xã, phường, thị trấn;
Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ về việc quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn.
Thông tư liên tịch số 34/2004/TTLT/BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 14
tháng 05 năm 2004 của Bộ Nội vụ-Bộ Tài chính-Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 121/2003/NĐ-CP của Chính phủ về
chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.
1.5. Chất lượng cán bộ, công chức
Chất lượng cán bộ, công chức không hoàn toàn giống với chất lượng của
các loại hàng hóa, dịch vụ, bởi con người là một thực thể phức tạp.
TheoHồ Chí Minh, Người cho rằng người cán bộ, công chức có chất
lượng thì phải hội tụ đủ các tiêu chuẩn đức và tài, phẩm chất và năng lực, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách, phương pháp công tác tốt trong đó
phẩm chất, đạo đức là yếu tố hàng đầu. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải
luôn rèn luyện người cán bộ, đảng viên có đủ đức và đủ tài, vừa hồng và vừa
chuyên. Người luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ cán bộ, đảng viên để
họ thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiêm, liêm, chính, chí, công, vô

hiện đại hóa đất nước trong điều kiện đẩy mạnh việc xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế.
Song, so với yêu cầu sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đối với sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã hiện nay là một nhiệm vụ cấp bách đang đặt ra.

15


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC
TẠI XÃ ĐÔNG HƯNG
2.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức xã Đông Hưng
2.1.1. Đặc điểm đội ngũ cán bộ, công chức ở xã Đông Hưng
Về nguồn cán bộ: Đội ngũ cán bộ công chức xã được hình thành thừ 2
nguồn chủ yếu là nguồn tại chỗ và hưu trí. Theo số lượng của Văn phòng Thống
kê xã, có 85% cán bộ, công chức của xã thuộc nguồn tại chỗ. Đó là những người
trưởng thành từ phong trào của địa phương, bộ đội xuất ngũ đượcbầu cử vào
HĐND.
Về giới tính
Cán bộ, công chức của xã có sự chênh lệch về giới. Số lượng cán bộ, công
chức nam có 13/22 người (chiếm 59,1%); số lượng cán bộ, công chức nữ là 9/22
người (chiếm 40,9%). Tỉ lệ cán bộ, công chức nữ của xã đã tăng lên so với
những năm trước. Cán bộ, công chức nữ thường làm công tác vận động, tuyên
truyền trong các đoàn thể, hội như: Hội Phụ nữ, và các công tác chuyên môn
như Văn hóa – Xã hội.
Về độ tuổi
Theo thống kê (năm 2015) có 2/22 người trên 30 tuổi (chiếm 9,1%)
7/22 người trong độ tuổi từ 31 – 45 (chiếm 31,8%)
13/22 người trong độ tuổi từ 46 – 60 (chiếm 59,1%)

-Về trình độ chuyên môn:
Trình độ chuyên môn có 5 mức độ là: Chưa đào tạo, trung cấp, cao đẳng,
đại học, sau đại học. Trong xã có 6/22 người chưa qua đào tạo, chiếm 27,2%; có
4/22 người đạt trình độ trung cấp, chiếm 18,2%; 1/22 người đạt trình độ cao
đẳng, chiếm 4,5 %; có 17/22 người đạt trình độ đại học, chiếm 77,2%; chưa có
cán bộ, công chức nào có trình độ sau đại học.
2.2. Một số nhận xét, đánh giá
Thứ nhất, trình độ học vấn của cán bộ, công chức của xã là khá cao (Tốt
nghiệp THPT là 77,3 % ) so với mặt bằng xã hội, đặc biệt ở vùng nông thôn.
Đây là tiền đề thuận lợi cho việc thu, lĩnh hội các kiến thức khác cũng như việc
tiếp nhận và triển khai tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ chỉ mới tốt nghiệp trình độ THCS
17


– là trình độ coi là phổ cập giáo dục. Hạn chế này ảnh hưởng đến chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức của xã.
Thứ hai, các kiến thức phục vụ trực tiếp cho công việc chuyên môn hay kĩ
năng quản lí hành chính ở trình độ còn thấp đặc biệt là trình độ quản lí hành
chính chưa qua bồi dưỡng kiến thức quản lí nhà nước. Cán bộ, công chức đặc
biệt là công chức chuyên môn chưa có trình độ tin học phục vụ công tác chuyên
môn và chưa có cán bộ, công chức nào có trình độ về ngoại ngữ. Với thực trạng
này đội ngũ cán bộ, công chức của xã gặp không ít khó khăn trong hoạt động
quản lí nhà nước cũng như tự học để nâng cao trình độ.
Tóm lại, với thực trạng như trên thì vấn đề nâng cao trình độ đội ngũ cán
bộ, công chức của xã đang đặt ra khá cấp thiết.
2.3. Đánh giá thực trang đội ngũ cán bộ, công chức xã Đông Hưng
2.3.1. Về thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức xã Đông Hưng.
Căn cứ nghị định số 92/2009/NĐ-CP của chính phủ, hiện nay UBND xã
Đông Hưng có 22 người, ngoài ra UBND xã Đông Hưng còn có những người

18,2 81,8%
%
100%

22,8
%

Tổng


cấp

Chuyên môn

Trung Chưa
cấp
qua
đào
tạo

4,5% 72,7%

0%


cấp

Trung
cấp



19


Bảng 2. Thực trạng trình độ cán bộ chuyên trách xã Đông Hưng
Học
vấn
THCS

Chuyê
n môn
THPT Thạc


26,4%
100%

63,6%
100%

Tổng

0%

Lý luận chính trị
Đại
học

Cao
đẳng

trình độ của trưởng các đoàn thể cấp cơ sở theo khoản 3, điều 6 của Quyết định
04/2004/QĐ – BNV
“Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên ở khu vực đồng
bằng, tốt nghiệp tiểu học trở lên ở khu vực miền núi…Lý luận chính trị: Có trình
độ sơ cấp và tương đương trở lên.Chuyên môn, nghiệp vụ: Đã được đào tạo, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ lĩnh vực công tác mà cán bộ đang đảm nhiệm
tương đương trình độ sơ cấp trở lên”.
Ta thấy mức độ đạt chuẩn của nhóm này như sau:
-Trình độ học vấn: 100%
- Trình độ lý luận chính trị: 77.3%
-Trình độ chuyên môn: 100%
“Tỷ lệ nhóm Trưởng các đoàn thể đạt 100% về trình độ học vấn là tỉ lệ
20


tuyệt đối. Đạt được mức độ như vậy bởi Nhà nước quy định trình độ học vấn đối
với chức danh này chỉ là tốt nghiệp THCS. Tuy nhiên ngày nay, tốt nghiệp
THCS mới chỉ được coi là tốt nghiệpTHCS mới chỉ được coi là xóa mù chữ.
Mặc dù mặt bằng dân trí nước ta còn thấp, đặc biệt ở vùng nông thôn, nhưng
việc quy định tiêu chuẩn trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ, trưởng các đoàn
thể như trên không phù hợp so với vị trí công tác của họ. Đây là một nguyên
nhân sẽ khiến cho trình độ của cán bộ trưởng các đoàn thể của xã Đông Hưng
nói riêng và đoàn thể cấp cơ sở nói chung bị hạn chế”.[4]
Trình độ lý luận chính trị và trình độ chuyên môn chưa cao. Mặc dù hoạt
động của họ không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân
dân nhưng chất trong hoạt động của họ lên quan trực tiếp đến hiệu quả của các
đoàn thể trong xã. Vì vậy việc nâng cao trình độ của đội ngũ trưởng các đoàn thể
của xã là rất cầp thiết.
2.3.2.2. Nhóm công chức chuyên môn
Theo thống kê thực trạng trình độ công chức xã Đông Hưng như sau


Đại
học

9.1%

90,9%

54,5%

9,1%

45,5%

0%

9,1%

9,1%

81,8%

Tổng

100%

100%

100%


Nhìn chung, phần lớn các loại quyết định, chỉ thị mà UBND xã ban hành
trong thời gian qua đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cũng
có một số quyết định được ban hành chưa phù hợp với điều kiện cụ thể của xã,
cho nên khi triển khai gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả của quyết
định hành chính. Do vậy, các quyết định quản lý hành chính Nhà nước do
22


UBND xã ban hành phải xem xét tình hình cụ thể của địa phường, phải tính đến
tính khả thi, phía đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý.
Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo
Qua cho thấy công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
có nhiều chuyển biến và ngày càng tiến bộ hơn. Cán bộ, công chức của xã đã có
nhận thức đứng đắn về ý nghĩa vaftaamf quan trọng của việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo, nên đã tập trung chỉ đạo đề ra nhiều chủ trương, biện pháp để tổ
chức thực hiện có hiệu quả hơn. Qua các kỳ họp HĐND và tiếp xúc cử tri, việc
đối thoại trực tiếp đã góp phần làm rõ trách nhiệm của các cấp đối với những
mặt còn hạn chế, động viên và tạo lòng tin trong nhân dân, phát huy quyền làm
chủ, thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi của công dân tại địa phương.
Như vậy, hiệu quả thực thi công vụ tức là chất lượng giải quyết công việc
là thước đo, là biểu hiện quan trọng để đánh giá năng lực của người cán bộ công
chức nói chung và đặc biệt là đối với cấp xã, phải trực tiếp giải quyết công việc
của người dân.
2.3.4. Phương pháp và kỹ năng giải quyết công việc
Đối với Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND xã với chức trách lãnh đạo, chỉ đạo
tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND xã. Để làm tốt điều đó, Chủ
tịch, Phó chủ tịch HĐND xã cần phải có phương pháp chủ tọa điều hành kỳ họp,
chủ trì trong việc tham gia xây dựng nghị quyết HĐND; phương pháp tổ chức
giám sát, kiểm tra thực hiện nghị quyết; phương pháp tiếp dân; phương pháp
điều hòa phối hợp hoạt động đối với đại biểu HĐND, với UBND, UBMTTQ

có sức khỏe tốt hơn nên có thể đảm bảo chất lượng hoạt động công vụ của xã.
Về thâm niên công tác, gắn với độ tuổi của cán bộ công chức. Đội ngũ
cán bộ, công chức của xã chưa được trẻ hóa, độ tuổi phổ biến nhất của xã là từ
46-60 tuổi chiếm 54,5% số cán bộ, công chức hiện có. Độ tuổi từ 31-45 chiếm tỷ
lệ ít hơn, chiếm 36,4%, dưới 30 tuổi chỉ chiếm tỷ lệ rất ít, chỉ 9.1%. Tương
đương với độ tuổi ấy, thâm niên từ 5-10 năm, chiếm 84%, dưới 5 năm chiếm
16%.
2.4. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, bất cập của đội ngũ
cán bộ, công chức xã Đông Hưng
Những hạn chế về trình độ được đề cập ở trên rất cơ bản và cấp bách đối
với đội ngũ cán bộ, công chức của xã hiện nay. Xét trên nhiều phương diện thì
hạn chế này không chỉ mang yếu tố khách quan mà còn mang yếu tố chủ quan.
24


2.4.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, hạn chế, yếu kém về lề lối làm việc, trình độ, kinh nghiệm của
cán bộ, công chức chủ yếu thể hiện trên các nội dung sau: ý thức, trách nhiệm và
việc chấp hành các quy định của pháp luật trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ
của một bộ phận cán bộ, công chức còn chưa cao, chưa tự giác chấp hành và
thực hiện các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết công việc; năng
lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ, công chức còn
chưa đáp ứng được yêu cầu công việc trong tình hình mới; công tác phối hợp
trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn còn chưa kịp thời và hiệu quả chưa
cao; một số cán bộ công chức còn chưa thực sự nhiệt tình và có trách nhiệm
trong việc phục vụ nhân dân.
Thứ hai, về nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém là do hiện nay, tại
một số cơ quan, đơn vị, biên chế không đủ để thực hiện nhiệm vụ, bên cạnh đó,
chất lượng của một bộ phận cán bộ, công chức còn chưa đáp ứng yêu cầu công
việc; việc quản lý cán bộ, công chức tại một số cơ quan, đơn vị giải quyết việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status