XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CHUỖI CUNG CẤP THỰC PHẨM AN TOÀN TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC - Pdf 38

BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
––––––––––––––––––––––––

Dự thảo 2

ĐỀ ÁN
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH
CHUỖI CUNG CẤP THỰC PHẨM AN TOÀN
TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC
(Kèm theo Tờ trình số

/TTr-BNN ngày

tháng

năm 2012

của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Hà Nội, tháng

năm 2012
1


BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
––––––––––––––––

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Sản xuất nông nghiệp tăng mạnh cung cấp nguồn hàng nhiều và đều
đặn cho thị trường trong nước và giúp cho người tiêu dùng trong nước có thể
tiếp cận thực phẩm đa dạng, nhiều và rẻ. Thành công vượt bậc trong ngành
nông nghiệp không chỉ giúp Việt Nam tăng GDP trên 8% mà còn giúp giảm
đói nghèo
Việc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tạo cơ hội cho
Việt Nam phát triển thị trường sản phẩm mới như cà phê, hạt điều, rau, chè,
trái cây nhiệt đới và sản phẩm thịt lợn. Những mặt hàng này được sản xuất ở
Việt Nam rẻ hơn nhiều so với những nước láng giềng ASEAN. Nhưng, giá
2


thành vận chuyển tương đối cao và chi phí xử lý sau thu hoạch đã làm tăng
giá thành sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh của nhiều mặt hàng nông sản
của Việt Nam trong thị trường khu vực.
Số liệu thống kê về tình hình sản xuất và xuất khẩu nông lâm thủy sản
5 năm qua (2007 - 2011).
Đối tượng

Năm 2007
Sản
xuất
(ngàn
tấn)

Sản phẩm nông
sản có nguồn
gốc thực vật

6.967,60

3552,934

4.582,0

Kinh
ngạch
XK

Năm 2009
Sản xuất
(ngàn
tấn)

(triệu
USD)
8.919,0

-

4.510,0

Năm 2010

Kinh
ngạch
XK
(triệu
USD)

72902,2

5.016,0

Năm 2011
Sản
xuất
(ngàn
tấn)
98816,5

Kinh
ngạch
XK
(triệu
USD)
14.023,0

4250,0

-

5457,0

6.077,0

(Nguồn trích dẫn: Kết quả thực hiện hàng năm của ngành nông nghiệpcủa Trung tâm
Tin học và thống kê Bộ Nông nghiệp và PTNT)

1.2. Hiện trạng an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản;
An toàn thực phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng trong đồi sống xã
hội và là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước Việt Nam từ lâu đã đặc

nghiệp.
Số liệu kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản sản
xuất kinh doanh trong nước được các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn thực hiện năm 2011 cho thấy:
* Kết quả kiểm tra, đánh giá phân loại điều kiện sản xuất an toàn thực
phẩm cơ sở sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản trong thời gian qua theo
Thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT cho thấy, tỷ lệ cơ sở xếp loại C (không
đạt) cao, chiếm trung bình trên 50 % số cơ sở sản xuất, kinh doanh được
kiểm tra.
* Kết quả phân tích một số chỉ tiêu về an toàn thực phẩm:
- Tỷ lệ mẫu rau quả chứa tồn dư thuốc bảo vệ thực vật vượt quá giới hạn
cho phép là 4,43% (năm 2010 là 8,6%);
- Tỷ lệ mẫu thủy sản nhiễm hooc môn vượt quá giới hạn cho phép là
1,38 % (năm 2010 là 4,3%);
- Tỷ lệ mẫu thịt nhiễm hóa chất cấm, kháng sinh, hooc môn vượt quá
giới hạn cho phép là 0,36% (năm 2010 là 1,19%).
Qua số liệu thống kê nêu trên cho thấy, tình hình an toàn thực phẩm
nông lâm thủy sản từng bước đã được cải thiện, tuy nhiên, tỷ lệ mẫu vi phạm
một số mặt hàng còn tương đối cao, chưa đáp ứng yêu cầu của người tiêu
dung và thị trường. Một trong những nguyên nhân tồn tại như nêu trên đó là
việc kiểm soát an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản chưa thật sự theo chuỗi
giá trị sản phẩm, chưa thiết lập được nhiều các mô hình liên kết sản xuất từ
trạng trại đến sản xuất sản phẩm cuỗi cùng và áp dụng các nguyên tắc kiểm
soát nguy cơ về an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất sản
phẩm.
1.3. Hiện trạng về chuỗi sản xuất nông lâm thủy sản ở Việt Nam
Khái niệm về quản lý và kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi đã
được Việt Nam tiếp cận và triển khai thí điểm ở một số địa phương với 1 số
nhóm ngành hàng chủ lực và trọng điểm. Tuy nhiên, quản lý an toàn thực
phẩm theo chuỗi vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ, quy mô nhỏ cho nên chưa tác

dụng GPPs, kiểm tra giám sát, lấy mẫu kiểm nghiệm;
- Hình thành cơ cấu tổ chức (Tổ công tác) có sự tham gia của các bên
từ tỉnh (Sở NN và PTNT), huyện (Trạm Thú y, Phòng NN..) đến cơ sở tham
gia mô hình đảm bảo tính chất bền vững để triển khai thực hiện các hoạt động
của mô hình thí điểm.
- Kết quả phân tích mẫu một số chỉ tiêu về an toàn thực phẩm đối với
sản phẩm tại mô hình thí điểm đạt yêu cầu theo quy định.
Mặc dù đã đạt được một số kết quả như đã nêu ở trên, tuy nhiên việc
triển khai kiểm soát theo chuỗi mới đang ở giai đoạn tiếp cận, cần phải tiến
hành thử nghiệm nhiều hơn về quy mô và phạm vi thì việc triển khai nhân
rộng mới có những kết quả tốt. Trong quá trình thí điểm triển khai mô hình
cũng gặp một số khó khăn, cụ thể:
- Việc áp dụng các tài liệu kỹ thuật GPPs trong sản xuất vẫn gặp một
số khó khăn, đặc biệt là vấn đề ghi chép, cần có thêm thời gian áp dụng để
thay đổi thói quen và hành vi.

5


- Liên kết chuỗi giữa các cơ sở áp dụng GPPs trong toàn bộ chuỗi giá
trị ngành hàng cần được cũng cố, xây dựng nhằm đảm bảo các bên tham gia
mô hình đều có lợi, sản xuất có lãi, duy trì và mở rộng sản suất, kinh doanh.
- Các hoạt động kiểm soát an toàn thực phẩm chuỗi sản xuất sản phẩm
cần được phổ biến và triển khai kiểm soát dựa trên nguyên tắc phân tích nguy
cơ về an toàn thực phẩm.
- Các mô hình thí điểm cần có sự giám sát, thanh tra của cơ quan nhà
nước nhằm duy trì việc áp dụng GPPs sau khi được chứng nhận.
- Thiếu nguồn lực đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô của mô hình thí
điểm và nhân rộng tới khu vực chưa có mô hình thí điểm.
- Quy mô sản xuất rau/trái cây và thịt tại Việt Nam còn nhỏ lẻ khi so



- Chưa hình thành nhiều các liên kết ổn định giữa người sản xuất và
người tiêu thụ, liên kết tổ hợp tác xã;
- Chưa có sự tham gia giám sát của cộng đồng trong toàn bộ chuỗi sản
xuất;
- Chưa tuyên truyền và vận động mạnh mẽ về lợi ích của việc kiểm
soát an toàn thực phẩm theo chuỗi và trách nhiệm của các bên có liên quan
(chất lượng cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, lợi nhuận đem lại);
- Thiếu cơ chế chính sách tạo động lực cho phát triển sản xuất kinh
doanh nông lâm thủy sản an toàn, chất lượng cao (tạo phân khúc thị trường,
phá triển hệ thống phân phối nông lâm thủy sản…).
- Các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất các
sản phẩm nông nghiệp an toàn dẫn đến đầu ra cho sản phẩm an toàn còn ít, từ
đó tác động đến tâm lý và các quyết định của người sản xuất dẫn đến việc
thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về sản xuất sản phẩm an toàn còn nhiều
hạn chế. Hiện tại, việc quản lý trồng, chăm sóc và chất lượng của các sản
phẩm nông thủy sản an toàn còn bị buông lỏng, không kiểm soát; chưa có
một quy trình thống nhất và cơ chế khuyến khích sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm an toàn, nên đã không thu hút được các doanh nghiệp và người nông
dân cùng nhiệt tình tham gia hưởng ứng sản xuất sản phẩm nông thủy sản an
toàn.
- Đầu tư hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông thủy sản
an toàn còn hạn chế; một số tỉnh, thành phố có đề án, dự án nhưng đến nay
chưa được UBND phê duyệt. Một số tỉnh, thành phố chỉ đạo triển khai chưa
quyết liệt; mối quan hệ giữa các ngành nông nghiệp- thương mại – y tế chưa
chặt chẽ, thường xuyên để hỗ trợ người làm tốt, phát hiện xử lý tổ chức, cá
nhân làm chưa tốt. Đối với việc kiểm tra giám sát: chưa phân định rõ trách
nhiệm kiểm tra giám sát, thiếu cả nhân lực, vật lực và chưa được thực hiện
thường xuyên trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm

đến nay được xác định là đã cơ bản thực hiện kiểm soát an toàn thực phẩm
theo chuỗi đối với hầu hết các loại sản phẩm thực phẩm sản xuất và đưa ra
tiêu thụ ở Nhật Bản và xuất khẩu.
Việc kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi ở Nhật Bản được hình
xuất phát từ đề xuất thiết lập chuỗi các nhà sản xuất kinh doanh theo nhóm
ngành hàng của các hội nghề nghiệp. Tất cả các nhà sản xuất kinh doanh
tham gia chuỗi sản xuất thực phẩm an toàn phải đăng ký là hội viên của hội
nghề nghiệp và họ phải tuân thủ đầy đủ các quy định của hiệp hội, chính
sách, pháp luật của nhà nước.
Các nhà sản xuất kinh doanh tham gia chuỗi sản xuất sản phẩm an toàn
phải hội tụ đủ các yêu cầu về điều kiện cần thiết như: quy mô sản xuất, sản
lượng tiêu thụ, các yếu tố cơ bản về đảm bảo an toàn thực phẩm được đánh
giá công nhận, cam kết tự nguyện tham gia. Bên cạnh sự kiểm soát của hiệp
hội, các hội viên tự giám sát lẫn nhau trong việc chấp hành các quy định đã
cam kết, đặc biệt là các nội dung về an toàn thực phẩm để giữ uy tín của hiệp
hội và toàn bộ chuỗi sản xuất sản phẩm. Hiệp hội cũng giữ vai trò là đầu mối
kết nối chuỗi liên kêt dọc thông qua các hiệp hội với nhau như tổ chức các
cuộc gặp, hội nghị giữa các nhà sản xuất chế biến với các đơn vị cung ứng,
thu mua tiêu thụ sản phẩm.
Để quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi hiệu quả cần có cơ chế chính
sách về quy hoạch sản xuất tập trung. Để tham gia sản xuất hàng hóa đưa ra
tiêu thụ trên thị trường, nhà sản xuất/ hợp tác xã sản xuất cần có đăng ký và
hội tụ đủ các yêu cầu tối thiếu về quy mô sản xuất. Việc sản xuất tập trung/
quy mô sản xuất tối thiếu mới đưa vào chương trình giám sát, đảm bảo hiệu
quả chi phí trong việc tổ chức quản lý và kiểm soát. Yêu cầu này cũng giúp
cho các nhà sản xuất cần phải liên kết với nhau để sản xuất hoặc tham gia các
tổ hợp sản xuất.
8



thực phẩm. Các tổ chức, hiệp hội này phối hợp rất mật thiết với các cơ quan
chức năng quản lý nhà nước để thực thi tốt việc kiểm soát an toàn thực phẩm
theo chuỗi thông qua các liên kết dọc và liên kết ngang.
Việc triển khai quản lý an toàn thực phẩm theo mô hình chuỗi được
triển khai theo từng bước: đánh giá lựa chọn vùng, ngành hàng và làm thí
điểm; quá trình triển khai được thủ nghiệm và điều chỉnh nhiều lần; sau đó có
tổng kết đánh giá, đặc biệt là đưa ra những kết quả đạt được như: thẩm tra,
phân tích các yếu tố về an toàn thực phẩm theo yêu cầu, đem lại lợi ích chung
cho cộng đồng, lợi ích của các nhà sản xuất, kinh doanh; những nhà sản xuất
kinh doanh tham gia chuỗi cũng nhận được những chính sách của chính phủ
nhà nước ở trung ương và địa phương (chính sách về thuế, chính sách về
quảng bá sản phẩm ….). Sau đó tổng kết đánh giá và phổ biến nhân rộng mô
9


hình. Nhiều mô hình triển khai hiệu quả chỉ cần thông tin các địa phương
khác đến nghiên cứu, học tập kinh nghiệm.
Việc triển khai mô hình quản lý theo chuỗi của Indonesia, Malaysia
cũng có nhiều nét tương tự như Nhật Bản, đặc biệt là về phương pháp và cách
thức tổ chức triển khai.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý an toàn thực phẩm của Nhật Bản
và một số nước như đã nêu trên, việc áp dụng những kinh nghiệm vào thực tế
Việt Nam là khả thi trong giai đoạn tới nhằm có những cải thiện rõ rệt về an
toàn thực phẩm, hướng tới nền sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam bền vững
và phát triển.
1.5. Tính cấp thiết xây dựng và phát triển các mô hình chuỗi cung
cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, việc xây dựng và phát triển các
mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn là giải pháp
yêu cầu tất cả các nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ đầy đủ các

Trong các văn bản về chủ trương, định hướng, phát triển kinh tế xã hội
của Nhà nước và Chính phủ có liên quan đến sản xuất nông lâm thủy sản đều
đề cập đến vấn đề quản lý theo chuỗi, nhằm thúc đẩy sản xuất, phát triển bền
vững, đảm bảo an ninh lương thực và an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe
người tiêu dùng, cụ thể các văn bản liên quan dưới đây sẽ là căn cứ để xây
dựng đề án:
- Nghị quyết số 34/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khóa XII
về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, ATTP;
- Chỉ thị số 08-CT/TW của Ban Bí thư ngày 21 tháng 10 năm 2011 về
"Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩm trong
tình hình mới".
- Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12; Luật Chất lượng sản
phẩm hàng hóa; Luật Tiêu chuẩn và Qui chuẩn kỹ thuật và các Nghị định
hướng dẫn thi hành;
- Nghị định 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 và Nghị định số
75/2009/NĐ-CP ngày 10/9/2009 của Chính phủ sửa đổi Điều 3 Nghị định số
01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn;
- Quyết định số 20/QĐ- TTg ngày 4/1/2012 của Chính phủ phê duyệt
Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn
2030;
- Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều Luật An toàn thực phẩm;
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chính
phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
- Quyết định số 809/QĐ-TTg ngày 30/5/2011 phê duyệt đề án “Tăng
cường năng lực quản lý chất lượng nông lâm thủy sản và muối giai đoạn
2011-2015”.

Góp phần cải thiện an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản thông qua
đổi mới tổ chức sản xuất và phương thức quản lý an toàn thực phẩm nông
lâm thủy sản theo Luật An toàn thực phẩm.
2. Mục tiêu cụ thể (đưa ra các chỉ số cụ thể)
- Các cơ chế chính sách, quy định về quản lý theo chuỗi đầy đủ và phù
hợp.
- 52 mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn
được xây dựng và thử nghiệm thành công được triển khai tại 7 vùng sinh thái
trên cả nước;
- 63 địa phương/ vùng sản xuất được nhân rộng.
3. Nhiệm vụ
3.1. Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất kinh doanh và
phương thức quản lý an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản.
- Tổ chức đánh giá thực trạng về hệ thống các văn bản pháp lý, quy
định, chính sách về tổ chức quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi do cấp
trung ương và địa phương ban hành.
12


- Xây dựng các mẫu biểu điều tra, khảo sát thực trạng tổ chức sản xuất
kinh doanh nông lâm thủy sản, các mô hình liên kết chuỗi thực phẩm nông
lâm thủy sản ở các địa phương.
- Tổ chức các đoàn công tác đi khảo sát, đánh giá thực địa về tổ chức
sản xuất kinh doanh và phương thức quản lý an toàn thực phẩm nông lâm
thủy sản tại một số địa phương trọng điểm và có lựa chọn.
- Đưa ra các khuyến nghị và giải pháp để triển khai tổ chức quản lý an
toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản.
3.2. Nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức chuỗi sản xuất kinh doanh gắn
với quản lý thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn của một số nước có điều
kiện tương tự ở Việt Nam.

- Đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung về cơ chế, chính sách, quy
định để kiểm soát, quản lý hiệu quả và nhân rộng mô hình chuỗi cung cấp
thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn;
- Xây dựng dự thảo các văn bản quy định;
- Tổ chức lấy ý kiến của các bên có liên quan;
- Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành;
3.5. Tổng kết, đánh giá và phổ biến nhân rộng.
- Tổ chức đánh giá, tổng kết việc triển khai các mô hình thí điểm, đánh
giá kết quả đạt được, tồn tại, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và giải pháp
triển khai áp dụng và nhân rộng mô hình;
- Phổ biến các quy định, chính sách về triển khai chuỗi liên kết thực
phẩm an toàn đến các đối tượng liên quan;
- Tổ chức các đoàn công tác của các địa phương đi thăm quan thực tế
mô hình kiểm soát theo chuỗi hiệu quả để học tập kinh nghiệm và nhân rộng;
- Xây dựng các sản phẩm truyền thông tuyên truyền trên các phương
tiện thông tin đại chúng;
- Quảng bá và xúc tiến thương mại sản phẩm kiểm soát an toàn thực
phẩm theo chuỗi từ các mô hình.
4. Giải pháp thực hiện đề án
4.1. Về cơ chế chính sách, pháp luật của nhà nước
Rà soát, đánh giá hệ thồng các văn bản quy phạm pháp luật, đề xuất sửa
đổi những điểm chưa phù hợp; xây dựng các văn bản QPPL, cơ chế chính
sách còn thiếu về các nội dung:
- Sản xuất tập trung;
- Liên kết theo chuỗi (dọc, ngang);
- Quy định về đảm bảo ATTP;
- Quy định về kiểm soát, kiểm tra và xử lý.
4.2. Về quy hoạch vùng sản xuất;
- Tăng cường vai trò của UBND các cấp trong đảm bảo ATTP: phân
công trách nhiệm về quy hoạch vùng sản xuất nông lâm thủy sản an toàn theo

VSATTP;
b. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra
- Tăng cường phối hợp giữa các đơn vị thuộc Bộ NN&PTNT và giữa
Bộ NN&PTNT và các Bộ, ngành liên quan;
- Thành lập và triển khai hoạt động của hệ thống thanh tra VSATTP
trong nông nghiệp từ trung ương đến địa phương; tăng cường phối hợp
- Xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo về chất lượng, VSATTP;
thực hiện truy xuất nguyên nhân sản phẩm rau, quả, chè và thịt không đảm
bảo ATTP;
- Thực hiện kiểm tra, thanh tra về VSATTP đối với rau, quả, chè và
thịt trong toàn bộ quá trình sản xuất: từ khi trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch,
đánh bắt, giết mổ động vật, sơ chế, bao gói, bảo quản, vận chuyển đến khi
sản phẩm được đưa ra thị trường.
- Tăng cường kiểm tra, thanh tra đối với các yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất: phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực
vật, chất kích thích tăng trưởng, hoá chất, phụ gia bảo quản, sơ chế.

15


4.5. Về xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm;
- Xây dựng liên kết giữa khu vực sản xuất và khu vực phân phối, bán lẻ
trong các chuỗi ngành hàng; tạo dựng lòng tin vào hệ thống tiêu chuẩn và
chứng nhận nông sản đảm bảo VSATTP;
- Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành, lĩnh vực sản
xuất; tăng vai trò chủ động của hiệp hội doanh nghiệp trong hoạt động đảm
bảo VSATTP, xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm, thông tin VSATTP;
4.6. Về khoa học công nghệ;
- Nghiên cứu công nghệ mới, tiên tiến của các nước trong sản xuất chế
biến thực phẩm sạch để phổ biến ứng dụng triển khai trong nước.

phẩm sản phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn (gà, lợn);
Hợp phần 2. Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm có nguồn gốc thực vật (rau, quả);
Hợp phần 3. Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm thủy sản (tôm nước lợ, cá tra).
1.1. Giai đoạn 1 (2012-2015): Xây dựng áp dụng thí điểm, kiểm
chứng hoàn thiện mô hình
a. Nội dung giai đoạn 1 (theo từng hợp phần)
- Khảo sát, đánh giá hiện trạng về tổ chức sản xuất kinh doanh, liên kết
dọc, ngang; hiện trạng, phương thức quản lý an toàn thực phẩm.
- Đánh giá các mô hình liên kết chuỗi sản xuất kinh doanh gắn với
quản lý an toàn thực phẩm đã được triển khai trong thời gian qua.
- Đề xuất giải pháp về tổ chức lại sản xuất kinh doanh, cải thiện điều
kiện sản xuất, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản
phẩm;
- Xây dựng các mô hình thí điểm chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm
thủy sản an toàn;
- Triển khai áp dụng thí điểm kiểm chứng, hoàn thiện mô hình;
- Tổng kết đánh giá mô hình;
b. Thời gian triển khai: 2013 – 2015
c. Kinh phí dự kiến: 84 tỷ, trong đó:
- Hợp phần 1: 28 tỷ
- Hợp phần 2: 28 tỷ
- Hợp phần 3: 28 tỷ
1.2. Giai đoạn 2 (2016-2020): Phát triển mô hình chuỗi cung cấp
thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn.
a. Nội dung dự án
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, đào tạo, tập huấn xây dựng và áp
dụng mô hình tại các địa phương
- Kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, phát triển

a. Nội dung Dự án:
- Rà soát, đánh giá hiện trạng các văn bản quy định về cơ chế, chính
sách, quy định về tổ chức sản xuất, kinh doanh theo chuỗi gắn với quản lý
ATTP theo chuỗi nông lâm thủy sản;
- Tổ chức đi học hỏi kinh nghiệm các nước có điều kiện tương đồng
với Việt Nam về tổ chức sản xuất kinh doanh theo chuỗi gắn với quản lý
ATTP nông lâm thủy sản;
- Đề xuất sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, quy định về quản lý
ATTP theo chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản;

18


- Tổ chức các hội thảo xin ý kiến góp ý;
- Tham vấn các cơ quan có liên quan;
- Lấy ý kiến các tổ chức, đối tượng có tác động;
- Hoàn thiện và trình cấp thẩm quyền ban hành/ phê duyệt.
b. Thời gian triển khai: 2012 – 2015
c. Kinh phí dự kiến: 10 tỷ
d. Phân công thực hiện:
- Chủ trì: Cục QLCL NLS&TS
- Phối hợp: Vụ Pháp chế, Cục Thú y, Cục BVTV, Cục Chăn nuôi; Cục
Trồng trọt, Cục Chế biến, Thương mại Nông Lâm thủy sản và Nghề muối, Sở
NN&PTNT các tỉnh/ thành phố,Hiệp hội ngành hàng liên quan.
Dự án 1 và Dự án 2 triển khai đồng thời và hỗ trợ cho nhau. Nghiên
cứu đề xuất cơ chế chính sách, văn bản pháp luật để tổ chức xây dựng và áp
dụng thử tại các mô hình thí điểm; kiểm chứng, đánh giá chính thức và trình
cấp thẩm quyền ban hành dự án 1 giai đoạn 1 phục vụ phát triển mô hình
trên diện rộng (dự án 1 giai đoạn 2).
PHẦN III

- Hỗ trợ của quốc tế: chiếm 30%;
- Ngân sách nhà nước cấp: chiếm 50%
- Vốn của địa phương/ tổ chức, cá nhân: chiếm 20%
PHẦN IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Thời gian thực hiện
Đề án được triển khai thực hiện từ năm 2012 đến 2020 tại cấp trung
ương và tại các địa phương trong cả nước.
2. Địa điểm triển khai:
Giai đoạn thử nghiệm: Triển khai tại 7 tỉnh của 7 vùng sinh thái trên
phạm vi toàn quốc;
Giai đoạn phát triển và nhân rộng: 63 tỉnh/ thành phố trực thuộc trung
ương trên phạm vi toàn quốc.
3. Phân công trách nhiệm
3. 1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ trì, phối
hợp với các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan liên quan để chỉ đạo, xây
dựng lộ trình chi tiết, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ của Đề
án; tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao chủ trì trong Đề án.
3. 2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cân đối, bố trí kinh phí thực hiện Đề án
theo đúng tiến độ, hiệu quả; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn kiểm tra, giám sát thực hiện Đề án.
3. 3. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, các địa phương nghiên cứu về định biên vị trí việc làm, chỉ tiêu
biên chế cho các cơ quan quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm
thủy sản và muối ở Trung ương và địa phương; nghiên cứu việc tổ chức xây
20


dựng, cơ chế hoạt động của lực lưọng kiểm soát và cơ chế chính sách khuyến


21


Phụ lục

BẢNG KHÁI TOÁN KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
TT

Nhiệm vụ/ dự án

Nội dung chi phí

Thời gian
thực hiện

Khái toán kinh phí (Tỷ đồng)
Ngân sách Ngân sách
Dự án
TW
ĐP/DN
Quốc tế

Tổng

Dự án 1: Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn
1
Giai đoạn 1: Thử nghiệm
1.1


5,6

8,4

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo 2016 - 2020
dục, đào tạo, tập huấn

63

31,5

12,6

18,9

Hợp phần 1. Xây dựng mô
hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm có nguồn gốc
động vật trên cạn (gà, lợn);

- Khảo sát, đánh giá hiện trạng

Hợp phần 2. Xây dựng mô
hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm có nguồn gốc
thực vật (rau, quả);

- Triển khai áp dụng thử nghiệm
kiểm chứng, hoàn thiện mô hình;




TT

Nhiệm vụ/ dự án

Nội dung chi phí

Thời gian
thực hiện

Khái toán kinh phí (Tỷ đồng)
Ngân sách Ngân sách
Dự án
TW
ĐP/DN
Quốc tế

Tổng

2.2

Hợp phần 2. Xây dựng mô
hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm có nguồn gốc
thực vật (rau, quả);

2016 - 2020

63

- Rà soát, đánh giá hiện trạng các 2013 - 2015
văn bản quy định về cơ chế,
chính sách, quy định;

10

7

-

3

- Tổ chức đi học hỏi kinh nghiệm
các nước có điều kiện tương đồng
với Việt Nam (Trung Quốc, Hàn
Quốc);
- Xây dựng các dự thảo cơ chế,
chính sách, quy định về quản lý
ATTP theo chuỗi cung cấp thực
phẩm nông lâm thủy sản.
- Tổ chức các hội nghị góp ý dự
thảo văn bản trước khi trình cấp
có thẩm quyền ban hành.

2




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status