NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ
TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP BỆNH VIÊN ĐA KHOA
TỈNH QUẢNG TRỊ NĂM 2011
Cn. Nguyễn Thị Tính
Cn. Trần Thị Vân
ĐD. Lê Thị Thiệp
.
Hướng dẫn khoa học: BSCKII Trần Quốc Tuấn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn vết mổ là biến chứng thường gặp, là vấn
đề được quan tâm hàng đầu tại mọi cơ sở y tế. Từ khi Pasteur
phát hiện được vi khuẩn người ta dần dần thấy rõ vi khuẩn
chính là nguyên nhân rất quan trọng gây ra nhiễm khuẩn ngoại
khoa làm phẫu thuật thất bại, kéo dài ngày điều trị, gia tăng phí
tổn bệnh viện, kết quả phục hồi chức năng kém hay hỏng hoàn
toàn, nhiều khi gây ra tàn tật hoặc tử vong. Nhiễm khuẩn vết
mổ (NKVM) là loại nhiễm khuẩn bệnh viện hay gặp nhất trong
các bệnh ngoại khoa .
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Bệnh viện Việt Đức, Nguyễn Mạnh Nhâm (1991),
qua nghiên cứu 1098 trường hợp mổ (từ 1/6/1991 đến
31/7/1991) có tỷ lệ NKVM chung là 22,6%, trong đó NKVM
của mổ theo kế hoạch (mổ phiên) là 19,5%, mổ cấp cứu là
27,2%. Tại bệnh viện trung ương Huế trước năm 2006, tỉ lệ
nhiễm trùng sau mổ là 10%, nay chỉ còn 4,2%.Nghiên cứu của
Phạm Thuý trinh tại khoa ngoại tổng hợp bệnh viện đại học y
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2 Phương pháp nghiên cứu :
Đây là nghiên cứu tiến cứu
Các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được điều trị , mổ xẻ, chăm sóc vết mổ
bởi các bác sỹ và điều dưỡng của khoa ngoại tổng hợp, theo 1 quy trình chung.
- Các bệnh nhân nhập viện điều trị đều được hướng dẫn các nội quy bệnh viện
đảm bảo cho công tác chống nhiễm khuẩn bao gồm:
+Không nấu ăn trong bệnh viện
+ Người nhà thăm nuôi theo giờ giấc quy định của bệnh viện, khi thăm
nuôi phải mặc áo choàng theo quy định
+ Không được tham gia vào các thao tác y tê ( chăm sóc toàn diện)
+Bỏ rác sinh hoạt vào nơi qui định
+Giữ dìn vệ sinh toilet chung sạch sẽ
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Người nhà thăm nuôi phải mặc áo choàng theo quy định
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-Về môi trường bệnh viện ( Khoa)
+Vệ sinh khoa phòng đảm bảo 24/24 ( bởi vệ sinh công nghiệp)
+Luôn đôn đốc nhăc nhở người bệnh và gia đình đảm bảo vệ sinh
chung
+Các hệ thống thoát nước được đảm bảo không tắc nghẽn
+vệ sinh ngoại cảnh sạch đẹp ,đảm bảo chấm dứt tình trạng thùng
rác không có nắp đậy
Bộ dụng cụ thay băng
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-Kỹ thuật thay băng rửa vết thương: Các thao tác tháo băng cũ ,rửa vết thương,
băng vết thương cần được tiến hành nhẹ nhàng,không gây đau đớn cho bệnh
nhân cũng như tổn thương cho vết thương. Tất cả các động tác đều tiến hành
bằng dụng cụ, không sờ tay trực tiếp vào vết thương
* Tháo băng cũ:
+Băng cũ thường dính vào vết thương nhiều hay ít,do đó phải tháo bỏ từ
từ từng lớp, tránh kéo trực tiếp lên vết thương
+Nếu dịch, máu thấm vào băng mà khô thì phải tưới nước muối sinh lý
hay nước cất cho ẩm rồi tháo băng ra.
+Những trường hợp tháo vòng băng khó khăn thì dùng kéo cắt các vòng
băng ở vị trí xa vết thương,rồi tháo dần từng lớp.
+Băng gạc tháo ra cho ngay vào thùng bẩn
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Rửa và băng vết thương
+Đối với vết thương sạch( mép vết thương sạch,các chân chỉ
không có dấu hiệu sưng tấy, nóng ,đỏ ,đau, không sốt)
.Dùng dung dịch sát khuẩn rửa bên ngoài chỗ da lành
.Chính giữa vết thương dùng betadine hoặc dung dịch dễ bay
hơi để rửa
.Rửa bằng cách thấm nhẹ, không nên cọ sát mạnh làm chảy
máu các tổ chức ở vết thương
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
dưới các điều kiện vô khuẩn (ngoại trừ can thiệp vào đường hô hấp, tiêu hoá, tiết
niệu và sinh dục). Vết thương sạch, gọn khâu kín da thì đầu và không dẫn lưu.
+Phẫu thuật sạch có thể bị ô nhiễm (clean-contaminated operation): Là những
vùng mổ sạch nhưng có can thiệp vào các cơ quan có vi khuẩn ký sinh nhưng
chưa gây bệnh hoặc vết thương có dẫn lưu.
+ Phẫu thuật bị nhiễm bẩn (contaminated operation): Là các vết mổ, vết thương
lúc đầu sạch nhưng trong quá trình phẫu thuật tiếp xúc với các tạng rỗng có vi
khuẩn ký sinh hoặc làm chảy nhiều dịch ra ngoài từ các tạng này hoặc có những
sai sót lớn về kỹ thuật vô khuẩn khi mổ.
+ Phẫu thuật bẩn (dirty operation): Là các vết thương, chấn thương cũ và có biểu
hiện nhiễm ùng tại vùng mổ, vết mổ ngay trước khi phẫu thuật.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Bệnh nhân được cắt chỉ sau 1 tuần và tái khám sau 1 tháng.Bệnh nhân có thể
chăm sóc hoàn toàn ở bệnh viện hay cho xuất viện sớm khi ổn định nhất là các
trường hợp mổ nội soi hẹn 1 tuần đến cắt chỉ và tái khám sau 1 tháng. Vết mổ
được xem là nhiễm khuẩn khi trong vòng 1 tháng sau mổ có các biểu hiện :
sưng , nóng, đỏ , đau, vết mổ có dịch hay mủ .(thứ tự từ nhẹ đến nặng của nhiễm
trùng vết mổ như sau)
+ Chân nốt chỉ khâu da nhiễm đỏ
+Vết mổ nhiễm đỏ không có dịch
+ Vết mổ nhiễm đỏ có dịch
+ Vết mổ nhiễm đỏ có mủ
+ Vết mổ toác rộng
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.Thu thập và xử lý số liệu
-Tất cả các bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu được theo dõi
4.1.2 Tỷ lệ nhiễm khuẩn theo giới
Giới
Nam
Nữ
Tổng
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1.3 Tỷ lệ nhiễm khuẩn theo bệnh phối hợp
bệnh phối hợp
Nhiễm khuẩn
Không nhiễm khuẩn
Tổng
Có
Không
Tổng
4.1.4.Tỷ lệ nhiễm khuẩn theo mùa
Nhiễm khuẩn
Mùa
Xuân (1-3)
Hạ (4-6)
Thu (7-9)
Đông (10-11)
Không nhiễm khuẩn
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1.7. Tỷ lệ nhiễm khuẩn theo cách thức phẫu thuật
Cách thức PT
Nhiễm khuẩn
Không nhiễm khuẩn
Tổng
Mổ mở
Mổ nội soi
Tổng
1.8. Tỷ lệ nhiễm khuẩn theo cách chăm sóc vết mổ.
Nhiễm khuẩn
Cách chăm sóc
100% tại bệnh viện
Kết hợp BV và ĐP
Tổng
Không
khuẩn
nhiễm
Tổng