ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi mật là một bệnh bệnh lý về đường tiêu hóa thường hay gặp nhất với tỷ lệ
mắc dao động từ 0,1 – 61,5% trên toàn thế giới, số người bị sỏi mật chiếm 10,7%
dân số, gặp chủ yếu ở nữ giới, đặc biệt là phụ nữ tiền mãn kinh.
Ở châu Âu – Mỹ: sỏi ống mật chủ hình thành phần lớn là do sỏi túi mật di
chuyển xuống, thành phần chủ yếu là Cholesterol. Tính chất của sỏi: cứng, màu
vàng nâu, mặt gồ ghề. Tỷ lệ nữ nhiều hơn nam gấp 4 lần, thường xảy ra trên những
người phụ nữ béo ít vận động.
Ở Châu Á: sỏi đường mật phần lớn do giun chui lên đường mật gây nhiễm
khuẩn đường mật, sỏi mật ở châu Á chủ yếu là sỏi ở ống mật chủ và sỏi ở trong gan.
Sỏi có màu nâu đen dễ vỡ, tỷ lệ nam và nữ tương đương; gặp ở mọi lớp người, lứa
tuổi hay gặp là trung niên.
Ở Việt Nam, theo Giáo sư Tôn Thất Tùng: Sỏi túi mật chiếm 10,8% - 11,4%,
sỏi ống mật chủ và sỏi trong gan chiếm sấp xỉ 80%, ngược lại ở Châu Âu sỏi túi
mật chiếm 63,8%. (7)
Sỏi ống mật chủ trường hợp không gây tắc, nhiễm trùng sẽ không có triệu
chứng, tuy nhiên khi bị tắc và gây nhiễm trùng thường rất nặng nề nếu không được
điều trị kịp thời dễ có những biến chứng có thể gây tử vong.
Hiện nay phương pháp điều trị sỏi ống mật chủ chủ yếu là phẫu thuật như lấy
sỏi qua phẫu thuật nội soi ổ bụng, phẫu thuât nội soi mở ống mật chủ lấy sỏi…
Phương pháp mở ống mật chủ lấy sỏi – đặt dẫn lưu Kehr là phẫu thuật kinh
điển đã áp dụng hơn một thế kỷ qua với những kết quả khả quan nhằm mục đích lấy
hết sỏi đường mật, tạo lưu thông tốt cho mật ruột. Trong thời đại khoa học kỹ thuật
tiên tiến hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của phẫu thuật nội soi, phẫu
thuật ít xâm hại đã được áp dụng nhiều trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Phương
pháp này có ưu điểm là lấy được sỏi cho mọi đối tượng, an toàn và không cần trang
thiết bị hiện đại. Tuy nhiên phương pháp này vẫn còn có các nhược điểm là hậu
phẫu nặng nề và đường mổ dài, có nguy cơ dính ruột cao. Kết quả phẫu thuật phụ
thuộc rất nhiều vào công tác kỹ thuật, chỉ định cũng như chăm sóc người
bệnh….Đặc biệt là công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật đóng vai trò rất
1
1. Giải phẫu gan và đường mật
1.1. Gan
Gan người trưởng thành thường nặng 1,4 - 1,6 kilôgam, mềm, có màu đỏ sẫm.
Gan là một cơ quan nội tạng lớn nhất và đồng thời là tuyến tiêu hóa lớn nhất trong
cơ thể. Gan nằm ngay dưới cơ hoành ở phần trên, bên phải của ổ bụng. Gan nằm về
phía bên phải của dạ dày và tạo nên giường túi mật.
Gan được cung cấp máu bởi hai mạch chính ở thùy phải: động mạch gan và
tĩnh mạch cửa (tĩnh mạch gánh). Động mạch gan thường bắt nguồn từ động mạch
thân tạng. Tĩnh mạch cửa dẫn lưu máu từ lách, tụy và tiểu tràng nhờ đó mà gan có
thể tiếp cận được nguồn dinh dưỡng cũng như các sản phẩm phụ của quá trình tiêu
hóa thức ăn. Các tĩnh mạch gan dẫn lưu máu từ gan và đổ trực tiếp vào tĩnh mạch
chủ dưới.
1.2. Đường mật
Được cấu tạo bởi các tiểu quản mật. Các tiểu quản này sẽ hội lưu với nhau tạo
thành ống mật. Các ống mật sẽ đổ về ống gan trái hoặc ống gan phải. Hai ống gan
này cuối cùng sẽ hợp nhất thành ống gan chung. Ống cổ túi mật nối túi mật vào ống
gan chung và hình thành ống mật chủ.
Mật có thể đổ trực tiếp từ gan vào tá tràng thông qua ống mật chủ hoặc tạm
thời được lưu trữ trong túi mật thông qua con đường ống cổ túi mật. Ống mật chủ
và ống tụy đổ vào tá tràng ở bóng Vater.
Hình 1: Giải phẫu đường mật
3
Gan được cung cấp máu bởi hai mạch chính ở thùy phải: động mạch gan và
tĩnh mạch cửa (tĩnh mạch gánh). Động mạch gan thường bắt nguồn từ động mạch
thân tạng. Tĩnh mạch cửa dẫn lưu máu từ lách, tụy và tiểu tràng nhờ đó mà gan có
thể tiếp cận được nguồn dinh dưỡng cũng như các sản phẩm phụ của quá trình tiêu
hóa thức ăn. Các tĩnh mạch gan dẫn lưu máu từ gan và đổ trực tiếp vào tĩnh mạch
mật. Yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo sỏi ống mật chủ.
4 . Yếu tố ảnh hưởng đến tạo sỏi ống mật chủ
Ngoài hai chất chính cholesterol gây sỏi cholesterol và sắc tố bilirubin gây sỏi
đường mật có một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo sỏi mật nhất là sỏi mật
choleterol như:
- Mập phì: là nguy cơ đáng ngại cho sỏi mật nhất là phụ nữ. Người ta giả định
rằng mập phì có khuynh hướng làm giảm số lượng muối mật bài tiết, do đó cũng
làm tăng hàm lượng cholesterol. Mập phì cũng làm giảm sự tổng xuất túi mật.
- Estrogen: lượng estrogen thặng dư do thai nghén, do uống thuốc kích thích
tố, hay do uống thuốc ngừa thai cũng được giả định làm tăng lượng cholesterol
trong máu và làm giảm chuyển động của túi mật. Cả hai điều kiện này đều dễ gây
nên sỏi mật.
- Chủng tộc: người Mỹ thổ dân trong cơ thể chứa di thể có khuynh hướng làm
tiết nhiều cholesterol trong mật.Tỷ lệ người bị sỏi mật cao nhất là những người này.
- Phái tính: đàn bà thường bị sỏi mật nhiều hơn. Số đàn bà độ tuổi từ 20 đến
60 có nhiều triển vọng bị sỏi mật nhiều hơn đàn ông.
- Tuổi tác: những người trên 60 tuổi dễ bị sỏi mật hơn.
- Bệnh tiểu đường: những người thường có lượng fatly acids triglyce – rides
cao. Những chất này có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi mật.
- Xuống cân quá nhanh: khi cơ thể cố gắng biến dưỡng chất béo trong thời
gian xuống cân quá nhanh, nó có thể gây bệnh gan mãn tính, bệnh đường ruột, sỏi
đường mật …
5
5. Dấu hiệu lâm sàng:
Sự có mặt của sỏi trong lòng ống mật chủ thường không có biểu hiện lâm sàng
để tạo nên bệnh cảnh trầm trọng ngay, nhưng sớm muộn cũng gây ứ đọng nước
dịch mật và nhiễm trùng đường mật.
5.1. Triệu chứng cơ năng: Tam chứng Charcot.
máu kéo dài.
- Xét nghiệm nước tiểu : có nhiều sắc tố mật và muối mật.
- X quang:
+ Chụp bụng không chuẩn bị thấy bóng gan, bóng túi mật to.
+ Chụp đường mật qua da, chụp đường mật ngược dòng qua soi tá tràng
xác định số lượng sỏi, vị trí sỏi.
Siêu âm, chụp Citi Scanner: xác định số lượng, vị trí sỏi, hình sỏi.
Hình 3 : Vị trí sỏi ống mật chủ
6.Biến chứng:
- Thấm mật phúc mạc: do thành ống mật chủ giãn, túi mật căng to làm thành
túi mỏng, nước mật đem theo cả vi khuẩn thấm vào ổ bụng.
- Viêm phúc mạc mật: vi khuẩn ở nước dịch mật vào ổ bụng gây viêm phúc mạc.
- Viêm đường mật có mủ và áp xe gan đường mật: tắc mật gây ứ đọng mật và
nhiễm khuẩn, trên mặt gan có nhiều ổ áp xe nhỏ rải rác, mủ thối, vi khuẩn thường
gặp là Ecoli, trực khuẩn mủ xanh.
- Viêm mủ túi mật hoại tử: thủng túi mật các tạng xung quanh hoặc mạc nối
dính chặt tạo thành đám cứng ở hạ sườn phải, hoặc bục ra gây viêm phúc mạc.
- Chảy máu đường mật: do áp xe hoại tử nhu mô gan làm cho các nhánh động
mạch hoặc tĩnh mạch trong gan thông thương với đường mật.
7. Phương pháp phẫu thuật sỏi ống mật chủ
Trong thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện nay có rất nhiều phương pháp
điều trị sỏi ống mật chủ với mục đích chính là: lấy sỏi và tạo sự lưu thông đường
mật xuống ruột và dẫn lưu, chống ứ đọng.
Có rất nhiều phương pháp phẫu thuật để lấy sỏi như:
7
- Mở ống mật chủ lấy sỏi dẫn lưu Kehr.
- Lấy sỏi qua đường tự nhiên.
8.2. Chẩn đoán và can thiệp điều dưỡng
Người bệnh không nằm đúng tư thế sau phẫu thuật.
Mục tiêu: Người bệnh nằm đúng tư thế sau phẫu thuật
Tư thế nằm của người bệnh:
+ Khi người bệnh chưa tỉnh: cho nằm ngửa đầu tối đa.
+ Khi người bệnh tỉnh: cho nằm tư thế Fowler, nghiêng về phía có ống dẫn lưu.
Biến loạn dấu hiệu sinh tồn do nguy cơ chảy máu sau phẫu thuật.
Mục tiêu: Người bệnh ổn định dấu hiệu sinh tồn sau phẫu thuật.
Chăm sóc dấu hiệu sinh tồn.
Tùy theo tình trạng người bệnh, giai đoạn bệnh, tùy vào loại phẫu thuật người
điều dưỡng theo dõi dấu hiệu sinh tồn trong ngày đầu 30 phút hay 60 phút/lần và
thời gian theo dõi có thể 12 giờ hay 24 giờ sau phẫu thuật. Những ngày tiếp theo
nếu dấu hiệu sinh tồn bình thường theo dõi ngày 2 lần.
+ Chăm sóc về hô hấp: luôn luôn giữ thông đường thở bằng cách đặt CanuynMayo đề phòng tụt lưỡi, hút đờm dãi (nếu có), cho người bệnh nằm nghiêng đầu về
một bên tránh chất nôn trào ngược vào đường hô hấp. Theo dõi người bệnh thở đều
hay không đều, theo dõi biến chứng ngạt bằng cách theo dõi số lần thở/1 phút, biên
độ thở. Nếu số lần thở ≥ 30 lần/phút hoặc ≤ 15 lần/phút thì phải báo lại với thầy
thuốc. Theo dõi liệt cơ hô hấp do thuốc giãn cơ hoặc tái tác dụng của thuốc giãn cơ
(bình thườngsau phẫu thuật nếu hết tác dụng của thuốc dãn cơ, người bệnh sẽ nâng
đầu lên khỏi mặt giường và giữ tư thế đó trong vòng 30 giây). Nếu có biểu hiện liệt
cơ hô hấp người bệnh sẽ thở yếu hoặc ngừng thở, lúc đó phải tiến hành cấp cứu
ngay, báo cáo lại với thầy thuốc. Theo dõi hoạt động hô hấp do đau vết mổ, người
bệnh không dám hít thở sâu, theo dõi phù nề thanh quản do đặt ống nội khí quản
khó khăn gây nên, biểu hiện người bệnh sẽ thở rít. Người điều dưỡng cần báo cáo
với thầy thuốc để dùng thuốc giảm phù nề.
+ Chăm sóc về tuần hoàn: Theo dõi xem mạch có đập đều hay không đều, số
lần mạch đập/ 1 phút. Đo huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu. Nếu trong quá trình
Cách theo dõi ống Kehr:
+ Ống Kehr phải nối với một ống vô trùng đưa vào một chai vô khuẩn hoặc
túi vô khuẩn để thấp hơn vị trí ống mật.
+ Theo dõi nước mật: thường 03 ngày đầu người bệnh chưa có nhu động ruột
lượng nước mật chảy qua Kehr khoảng 300 - 500ml/ngày. Khi có nhu động ruột
lượng mật giảm dần. Lúc đầu nước mật còn bẩn, nhiều bùn mật hoặc máu, mủ; ở
những ngày sau nước mật có màu vàng trong. Đối với trường hợp có nhiều bùn mật
cần bơm rửa Kehr để tránh tắc.
10
+ Bơm rửa đường mật: bằng huyết thanh mặn đẳng trương ấm, bơm với áp lực nhẹ.
Rút ống dẫn lưu Kehr:
+ Kehr để từ 12 – 15 ngày sau phẫu thuật.
+ Chỉ được rút khi có chỉ định của bác sỹ.
+ Rút Kehr khi đường mật thông.
Phương pháp kiểm tra đường mật thông:
+ Trước khi rút cần chụp đường mật qua Kehr bằng chất cản quang xem
đường mật thông không?
+ Kẹp Kehr thử 24 - 48 giờ: nếu người bệnh không đau, không sốt vùng hạ
sườn phải là tốt.
- Chăm sóc ống dẫn lưu khác, sonde dạ dày, sonde niệu đạo- bàng quang:
Các ống dẫn lưu phải được nối xuống túi vô khuẩn hoặc chai vô khuẩn có
đựng dung dịch sát khuẩn, để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng. Cho người bệnh nằm
nghiêng về bên có ống dẫn lưu để dịch thoát ra được dễ dàng, tránh làm gập, tắc
ống dẫn lưu. Theo dõi về số lượng, màu sắc, tính chất của dịch qua ống dẫn lưu ra
ngoài. Bình thường ống dẫn lưu ổ bụng ra số lượng dịch ít dần và không hôi, nếu
ống dẫn lưu ra dịch bất thường, ra máu cần báo cáo ngay với thầy thuốc. Thay băng
chân ống dẫn lưu hàng ngày.
+ Ống dẫn lưu dưới gan: mục đích là để dẫn lưu dịch dưới gan.thường được
Chăm sóc dinh dưỡng:
Đối với trường hợp người bệnh chưa có trung tiện cần đảm bảo dinh dưỡng
bằng truyền dịch, đạm hoặc truyền máu để tránh suy kiệt. Khi người bệnh đã trung
tiện được cần cho ăn thức ăn nhẹ, dễ tiêu. Hạn chế mỡ nếu người bệnh có kèm theo
cắt túi mật.
Người bệnh vệ sinh không tốt do không tự vệ sinh được.
Mục tiêu: người bệnh vệ sinh cá nhân tốt.
Chăm sóc vệ sinh: Hướng dẫn người bệnh/người nhà vệ sinh cá nhân, vệ sinh
thân thể hàng ngày, thay ga trải giường.
Người bệnh thiếu kiến thức về bệnh
Mục tiêu: người bệnh có kiến thức để tự chăm sóc bản thân.
Giáo dục sức khỏe cho người bệnh.
Hướng dẫn cho người bệnh sau khi xuất viện:
+ Giữ vệ sinh ăn uống, tẩy giun định kỳ.
+ Vệ sinh môi trường.
+ Không ăn gỏi cá.
12
+ Giáo dục cho người bệnh khi có các triệu chứng phát hiện sớm, đi khám
ngay khi có dấu hiệu sỏi tái phát.
Để đề phòng sỏi tái phát người bệnh cần chú ý tránh các nguyên nhân gây ra như:
+ Nhịn ăn sáng, lười vận động, ăn ít rau, ăn nhiều mỡ.
+ Các bệnh gây viêm nhiễm, giun chui ống mật.
II. CƠ SƠ THỰC TIỄN
1- Chăm sóc người bệnh sau tán sỏi
Có nhiều phương pháp lấy sỏi sót sau mổ: mổ lại, lấy sỏi qua đường hầm
- Khi sỏi đường mật, có cho nước vào đường mật và xuống ruột nên sau thủ
thuật, thông thường người bệnh sẽ đi tiêu lỏng 2–3 lần nhưng người bệnh tự hết mà
không cần dùng thuốc.Một số ít người bệnh có thể ói ra dịch trong.
- Bình thường, ống dẫn lưu sẽ ra dịch mật liên tục vào túi nhựa.Nếu ống dẫn
lưu không ra mật kèm đau, tức hay sốt nên báo điều dưỡng. Cần thay băng chân ống
dẫn lưu mỗi ngày.
- Lấy sỏi mật qua đường hầm Kehr có thể được làm nhiều lần cho đến khi
hết sỏi, trung bình 2–3 lần.Mỗi lần làm cách nhau 2–3 ngày.Người bệnh có thể về
nhà giữa các lần lấy sỏi. Khi đã được lấy sạch sỏi và rút ống dẫn lưu, xuất viện,
người bệnh có thể ăn uống bình thường và dùng thuốc theo toa.
2.2- Theo dõi:
Tái khám lần đầu tiên sau khi xuất viện 1 tháng, lần thứ hai sau ba tháng và
các lần sau mỗi sáu tháng. Mỗi lần tái khám, người bệnh được khám lâm sàng và
siêu âm bụng kiểm tra.
2.2.1. Đau vết mổ:
Đánh giá mức độ đau theo thang điểm đau, vị trí đau. Nếu người bệnh đau lan
lên vai thì nên cho người bệnh nằm tư thế Fowler hay ngồi dậy. Giải thích cho
người bệnh yên tâm.Nếu người bệnh đau vết mổ nên hướng dẫn người bệnh dùng
gối tỳ vào bụng khi ngồi dậy để giảm đau.
Khuyến khích người bệnh ngồi dậy đi lại sớm giúp người bệnh dễ chịu hơn.
2.2.2. Hệ thống dẫn lưu Kehr không đạt hiệu quả, gây loét da và đặt lâu ngày
- Sau khi mổ sỏi đường mật, phẫu thuật viên thường đặt Kehr để giải áp đường
mật, theo dõi (màu sắc, lượng mật ra hàng ngày, chảy máu đường mật...), làm nòng
(nong ống mật chủ bị hẹp), điều trị (bơm rửa ống mật chủ, tán sỏi sót sau mổ), tán
sỏi sau mổ.
14
- Dẫn lưu Kehr luôn được chảy ra ngoài liên tục ngay sau mổ. Quan sát chân
dẫn lưu có thấm dịch mật không? Điều dưỡng nên thay băng ngay nếu thấm dịch
2.4. Người bệnh lo lắng do mang dẫn lưu Kehr về nhà
- Trong những trường hợp người bệnh không thể lấy hết sỏi trong khi mổ, hay
do hẹp đường mật cần để lại nong đường mật thường phẫu thuật viên sẽ để lại Kehr
và cho người bệnh về nhà. Điều dưỡng hướng dẫn người bệnh chăm sóc da xung
quanh chân ống dẫn lưu. Vẫn tắm rửa vệ sinh sạch sẽ nhưng sau đó lau khô chân da
và băng lại. Ống dẫn lưu có thể cột lại, nếu thấy căng tức thì mở ra cho dịch mật
chảy ra ngoài, sau đó có thể cột lại.Hướng dẫn người bệnh khi có dấu hiệu sốt, đau
bụng hay vàng da tái phát thì nhập viện ngay.
- Hướng dẫn người bệnh uống nhiều nước giúp lượng dịch mật ra dễ dàng
hơn. Người bệnh nên tái khám theo lời dặn để bác sĩ tán sỏi qua Kehr, hay rút theo
dõi nếu hẹp đường mật.
2.5. Dẫn lưu dưới gan và dẫn lưu túi mật có tính cách phòng ngừa
Chăm sóc da sạch sẽ tránh nhiễm trùng. Theo dõi số lượng, màu sắc, tính chất
dịch ra. Nếu dịch dẫn lưu ra màu vàng thì điều dưỡng nên theo dõi rò mật sau mổ,
ghi vào hồ sơ và báo bác sĩ. Dẫn lưu này thường là dẫn lưu phòng ngừa nên bác sĩ
sẽ cho y lệnh rút sớm nếu dịch dưới 50ml/24 giờ.
2.6. Người bệnh vàng da niêm, ngứa do sắc tố mật ngấm qua da
Cho người bệnh uống nhiều nước, vệ sinh da sạch, tránh trầy da do gãi ngứa,
cắt ngắn móng tay. Thực hiện thuốc kháng dị ứng, theo dõi xét nghiệm Bilirubin.
Người bệnh vàng da thì nước tiểu sẽ vàng do nước tiểu có bilirubin; do đó người
bệnh sẽ ngứa và nguy cơ nhiễm trùng cao. Điều dưỡng chăm sóc bộ phận sinh dục
sau khi đi tiểu như rửa sạch, lau khô ngay, thay quần lót thường xuyên, tránh mặc
quần quá dày hay quá chật.
2.7. Bệnh lý làm người bệnh ăn kém ngon
Người bệnh nên vệ sinh răng miệng sạch sẽ, hạn chế thức ăn béo, nhiều dầu
mỡ trong thời gian đầu sau mổ. Cho người bệnh uống nhiều nước.Theo dõi các dấu
hiệu đau bụng, khó tiêu, nặng bụng. Vệ sinh trong ăn uống, uống thuốc kháng giun.
3. Theo dõi biến chứng sau mổ
3.1. Chảy máu sau mổ: qua dẫn lưu, thường dẫn lưu không có máu. Nếu trong
tra siêu âm đường mật định kỳ. Giáo dục người bệnh xuất viện còn mang ống dẫn
lưu Kehr về cách chăm sóc ống Kehr, sinh hoạt, tái khám…
III. LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ là một bệnh viện đa khoa hạng I, với quy mô
1500 giường bệnh ( được Sở Y tế giao chỉ tiêu), với gần 1500 cán bộ, 20 phòng
chức năng và 29 khoa lâm sàng , số người bệnh điều trị nội trú trung bình là : từ
1500 - 1800 người bệnh/ ngày.
17
Khoa Ngoại Tổng Hợp là một trong những khoa lớn của bệnh viện với chỉ tiêu
là 50 giường bệnh, thực kê là 55 giường, với đội ngũ Bác sỹ là :10, Điều dưỡng
viên là :13 ( trong đó có 05 cử nhân điều dưỡng đại học. 02 cao đẳng, 06 trung học )
1- Thực trạng qua chăm sóc 10 người bệnh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ có
đặt ống dẫn lưu Kehr tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú
Thọ chúng tôi thấy
1.1- Chăm sóc dấu hiệu sinh tồn:
Dấu hiệu sinh tồn được theo dõi tùy theo tình trạng người bệnh, giai đoạn
bệnh, tùy vào loại phẫu thuật. Người điều dưỡng theo dõi dấu hiệu sinh tồn trong
ngày đầu 30-60phút/ lần và thời gian theo dõi có thể 12 giờ hoặc 24 giờ sau phẫu
thuật. Những ngày tiếp theo nếu dấu hiệu sinh tồn bình thường theo dõi ngày 2 lần.
- Ở chuyên đề này tôi nhận thấy dấu hiệu sinh tồn của người bệnh thực sự
chưa được theo dõi đúng quy định. Trong 12 giờ đầu dấu hiệu sinh tồn được theo
dõi đầy đủ các chỉ số về huyết áp, mạch, nhịp thở, nhiệt độ. Tuy nhiên những ngày
sau dấu hiệu sinh tồn được theo dõi ngày 01 lần và chỉ được chú trọng đến các chỉ
số về huyết áp và nhiệt độ, còn chỉ số mạch, nhịp thở không được chú trọng.
- Các chỉ số sinh tồn người điều dưỡng chưa thực hiện đúng quy trình như
thông báo và để người bệnh nghỉ 15 phút trước khi thực hiện quy trình ảnh hưởng
đến độ chính xác của các chỉ số.
gây viêm phúc mạc, tràn vào vết mổ sẽ gây nhiễm trùng lâu liền vì trong dịch mật
có các axit mật.
- Chỉ định rút ống dẫn lưu Kehr
+ Thường được để lưu từ 10-12 ngày sau phẫu thuật.
+ Chỉ được rút khi có chỉ định của bác sĩ.
+ Rút Kehr khi đường mật thông.
Trên thực tế người bệnh thường chỉ điều trị 9 ngày tại bệnh viện, người bệnh
phải mang ống dẫn lưu về và được hẹn khám lại. Nếu người điều dưỡng không có
19
đầy đủ kiến thức để tư vấn cho người bệnh cách chăm sóc ống dẫn lưu tại nhà tốt sẽ
gây các biến chứng như : tắc ống, tụt ống, dịch mật trào ngược gây trợt loét chân
ống dẫn lưu....
1.2.2- Chăm sóc ống dẫn lưu ổ bụng, ống dẫn lưu dưới gan:
Hình 5: Chăm sóc ống dẫn lưu ổ phúc mạc
- Người điều dưỡng thực hiện đúng quy trình.
- Không có tình trạng trào ngược.
1.2.3. Chăm sóc sonde dạ dày, sonde niệu đạo bàng quang:
Hình 6: Chăm sóc sonde dạ dày, sonde niệu đạo – bàng quang
- Người điều dưỡng thực hiện đúng quy trình.
20
- Không có nhiễm trùng ngược dòng do được chăm sóc đúng quy trình đảm
bảo vô khuẩn, vệ sinh tốt, chỉ định rút sớm.
1.3. Chăm sóc vết mổ.
1.5. Chăm sóc vận động:
- Vận động đúng sau phẫu thuật sẽ giúp cho người bệnh tránh được nhiều
biến chứng như: viêm phổi, viêm đường hô hấp...
- Kết quả thu được trong chuyên đề này là vận động của người bệnh không
được sự giúp đỡ của người điều dưỡng mà chủ yếu là do người nhà đảm nhiệm,
người điều dưỡng chỉ hướng dẫn người nhà người bệnh tập vận động mà không trực
tiếp làm vì vậy không được giám sát việc vận động của người bệnh đạt được kết quả
gì, người bệnh có thực hiện đúng theo hướng dẫn hay không ảnh hưởng đến chất
lượng chăm sóc người bệnh.
1.6. Chăm sóc vệ sinh
- Kết quả vệ sinh trong chuyên đề này là người bệnh đến điều trị được Bệnh
viện cho mượn đầy đủ quần áo, chăn màn, được thay đổi quần áo hàng ngày theo
quy định nhưng việc vệ sinh cá nhân cho người bệnh lại do người nhà người bệnh
đảm nhiệm, những người bệnh có chỉ định đặt sonde niệu đạo bàng quang nếu
không vệ sinh tốt bộ phận sinh dục sẽ gây nhiễm khuẩn ngược dòng ảnh hưởng tới
sức khỏe người bệnh, người bệnh không được vệ sinh thân thể sạch sẽ gây nhiễm
trùng vết mổ đặc biệt là những người bệnh có ống dẫn lưu kehr, dẫn lưu dưới gan, ổ
bụng....
22
1.7. Sự hài lòng của người bệnh.
- Sỏi ống mật chủ là một bệnh dễ tái phát vì vậy việc tư vấn cho người bệnh
về cách phát hiện bệnh, nhận thức đúng trong ăn uống, sinh hoạt, chế độ dùng
thuốc, tái khám đúng hẹn là hết sức có ý nghĩa. Tuy nhiên trong chuyên đề tôi thấy
người điều dưỡng:
- Trong chăm sóc người bệnh người điều dưỡng chưa chú trọng đến chăm
sóc tinh thần cho người bệnh, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế, chưa đi sâu vào tâm tư
nguyện vọng của người bệnh để giúp người bệnh thoải mái về tinh thần.
- Số lượng người bệnh mỗi ngày một đông, người bệnh chưa được tư vấn
đầy đủ, chưa có phòng tuyên truyền riêng để người bệnh tiếp cận với nhân viên Y tế
để hiểu về bệnh và chia sẻ những thắc mắc của mình.
- Sự hiểu biết của người bệnh và người nhà về chăm sóc người bệnh sau mổ
sỏi ống mật chủ còn hạn chế, do vậy người bệnh cần được cung cấp kiến thức về tự
chăm sóc sau mổ đề phòng các biến chứng.
- Đội ngũ điều dưỡng chăm sóc người bệnh còn quá trẻ, chưa có nhiều kinh
nghiệm trong việc chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật.
IV. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẢ THI
1. Đối với bệnh viện
- Cần phát động và tổ chức thực hiện chương trình vệ sinh bàn tay cho người
điều dưỡng.
- Tổ chức đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho điều dưỡng. Cập nhật
kiến thức mới cho điều dưỡng trong công tác chăm sóc, tư vấn cho người bệnh.
- Thường xuyên tập huấn kỹ năng giao tiếp, tư vấn sức khỏe cho điều dưỡng.
2 . Đối với khoa/ Trung tâm
- Điều dưỡng trưởng cần giám sát chặt chẽ việc thực hiện các quy trình theo
dõi dấu hiệu sinh tồn của điều dưỡng viên, việc ghi chép vào bảng phiếu theo dõi và
thường xuyên họp điều dưỡng rút kinh nghiệm cho các điều dưỡng viên.
- Điều dưỡng trưởng phải tăng cường giám sát việc thực hiện quy trình của
điều dưỡng viên.
- Thường xuyên lồng ghép tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh vào các
buổi họp Hội đồng người bệnh cấp khoa.
3. Đối với điều dưỡng viên
- Phải nâng cao ý thức tự giác, lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, có tinh
thần trách nhiệm trong việc thực hiện chăm sóc người bệnh, không giao phó cho
người nhà người bệnh, phải tự mình kiểm tra số lượng dịch/ chất thải, màu sắc ghi
vào hồ sơ, bảng theo dõi trước khi hướng dẫn người nhà người bệnh đổ chất thải đi.
24