Đánh giá thực trạng chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật rò hậu môn tại trung tâm kỹ thuật cao (KTC) và tiêu hóa hà nội - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rò hậu môn là những nhiễm khuẩn khu trú bắt nguồn từ hốc hậu môn
trực tràng, nhiễm khuẩn này dẫn tới tụ mủ, mủ lan theo tuyến Hermann Desfosses tạo thành ổ áp xe nằm trong khoang giữa cơ thắt trong và ngoài, từ
đây lan ra xung quanh theo lớp cơ dọc, dài phức hợp để vỡ ra ngoài da cạnh
hậu môn hoặc vỡ vào trong lòng trực tràng gây ra các thể rò hậu môn khác
nhau. Áp xe và rò hậu môn là hai giai đoạn của một quá trình bệnh lý [1].
Rò hậu môn là một bệnh lý thường gặp vùng hậu môn trực tràng, đứng
thứ hai sau bệnh trĩ, chiếm 24,25% các bệnh lý vùng hậu môn trực tràng [2].
Có rất nhiều phương pháp điều trị như: kết hợp y học cổ truyền và y học
hiện đại [3], nghiên cứu dùng keo sinh học, hóa chất bơm vào đường rò của
Abel, Cintron, Hjoitruo [4]…… Tuy nhiên, hiệu quả nhất vẫn là điều trị bằng
can thiệp ngoại khoa phẫu thuật [5].
Theo tác giả Parks (1976), Denis (1979), Goliger (1980) nếu mổ đúng kỹ
thuật, chăm sóc tốt, tỷ lệ khỏi bệnh có thể đạt 90%. Tỷ lệ rò tái phát trên thế
giới khoảng 25% [6], ở Việt Nam tỷ lệ đó khoảng 2,5 đến 35% [7].
Ngày nay, phương pháp điều trị rò hậu môn luôn được các phẫu thuật
viên thường xuyên nghiên cứu, cải tiến, áp dụng những tiến bộ mới để đem lại
hiệu quả điều trị ngày một tốt hơn nhưng nếu thiếu đi công tác chăm sóc hậu
phẫu của điều dưỡng hoặc theo dõi, chăm sóc của điều dưỡng không tốt thì kết
quả chung của cuộc phẫu thuật sẽ bị hạn chế. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu: “Đánh giá thực trạng chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật rò hậu môn tại
Trung tâm Kỹ thuật cao (KTC) và Tiêu hóa Hà Nội” với hai mục tiêu sau:
1.

Khảo sát thực trạng công tác chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật rò
hậu môn tại Trung tâm KTC và Tiêu hóa Hà Nội”.

2.




3

1.1.2. Giai đoạn rò
• Triệu chứng cơ năng
- Người bệnh đến bệnh viện vì một lỗ rò chảy dịch, mủ từng đợt ở cạnh
hậu môn sau chích mổ áp xe ở cạnh hậu môn hoặc do ổ áp xe ở cạnh hậu môn
tự vỡ hoặc người bệnh bị rò hậu môn đã mổ nhiều lần nhưng không khỏi.
- Một số người bệnh kèm theo ngứa hậu môn dai dẳng hoặc thấy phân
và hơi xì qua chỗ rò [8].
Theo Trịnh Hồng Sơn [14], Nguyễn Xuân Hùng [15], Nguyễn Sơn Hà [16]
thì 100% BN giai đoạn rò đến viện vì chảy dịch, mủ cạnh hậu môn.
•Triệu chứng thực thể [8]
- Thăm khám: nhìn thấy một lỗ rò đang chảy dịch, mủ, nằm ở vùng da
lành hoặc trên sẹo mổ cũ ở cạnh hậu môn: có thể có một hoặc nhiều lỗ ngoài.
Nếu có hai lỗ rò ngoài nằm ở hai bên so với đường giữa thì đó là rò móng
ngựa. Sờ nắn thấy 1 đường xơ cứng dưới da hướng về phía đường hậu môn.
- Soi hậu môn có thể thấy lỗ rò nguyên phát.
- Bơm hơi từ lỗ ngoài thấy hơi xì ra ở hốc hậu môn là dấu hiệu chắc
chắn nhất.
- Bơm chất màu (xanh methylene) từ lỗ ngoài thấy xanh methylen
chảy ra từ hốc hậu môn, ngoài tác dụng tìm lỗ rò còn để xác định đường rò và
túi cùng khi mổ.
1.2. Phân loại rò hậu môn
•Phân loại theo tính chất đường rò [36]:
- Rò đơn giản: Chỉ có 1 lỗ trong, 1 lỗ ngoài và 1 đường rò nối thông lỗ
trong và lỗ ngoài.
- Rò phức tạp: đường rò nhiều ngóc ngách phức tạp, có nơi phình to
thành một túi lớn, có nhiều đường rò thông với nhau và vòng sang bên kia của

qua không phát hiện được vì một bên ổ áp xe chưa vỡ ra ngoài da. Nghiên cứu
của Đỗ Đình Công gặp 11% [19], Nguyễn Văn Xuyên gặp 19,8% [21].


5

-Rò đôi: có hai lỗ nguyên phát, rất hiếm gặp.
-Rò tam: là loại rò có ba lỗ ngoài thông với ba lỗ trong bằng những
đường rò độc lập.
-Rò hình chữ Y: là loại rò có một lỗ nguyên phát, lúc đầu có một đường
rò duy nhất, sau đó chia thành hai đường khi xuyên qua cơ thắt.
-Rò tái phát: sau mổ từ 6 – 8 tuần xuất hiện lỗ rò hoặc ổ áp xe trên nền
sẹo mổ cũ.
- Thể rò phức tạp khác: rò hậu môn do lao, rò có liên quan đến bệnh viêm
ruột và HIV, phụ nữ với đường rò ở phía trước, rò trực tràng âm đạo, rò hậu
môn trên bệnh nhân có tiền sử mất tự chủ hậu môn, rò hậu môn thứ phát sau
điều trị tia xạ tại chỗ…
1.3. Phương pháp phẫu thuật rò hậu môn
Ngày nay có rất nhiều các phương pháp phẫu thuật rò hậu môn như:
phương pháp mở ngỏ hoàn toàn, phương pháp đặt seton, phương pháp mổ nội soi,
phương pháp đóng lỗ trong – thắt đường rò (LIFT)…..Tùy theo mỗi phẫu thuật và
mức độ phức tạp của vết mổ mà có các cách chăm sóc vết mổ khác nhau.
1.4. Chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật rò hậu môn
Chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật rò hậu môn có vai trò rất quan
trọng, quyết định đến quá trình hồi phục cũng như hạn chế biến chứng xảy ra
bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì
hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá
nhân, ngủ, nghỉ, chăm sóc tâm lý, hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi
trường bệnh viện cho BN.
1.4.1. Chăm sóc tinh thần.

• Chăm sóc vệ sinh cá nhân (VSCN).
Chăm sóc VSCN hàng ngày cho người bệnh bao gồm vệ sinh răng
miệng, vệ sinh thân thể, hỗ trợ đại tiểu tiện và thay đồ vải tùy theo phân cấp
chăm sóc mà NVYT thực hiện, hỗ trợ hoặc hướng dẫn người bệnh và người
nhà của người bệnh [38].


7

• Chăm sóc dinh dưỡng.
Ngoài việc chăm sóc vết thương sau mổ, người bệnh rò hậu môn cần có
chế độ dinh dưỡng tốt để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, giúp vết thương
lành lại nhanh chóng. Người bệnh ăn chế độ ăn bình thường 24h sau mổ.
- Ăn đủ chất dinh dưỡng, vitamin: ăn thực phẩm giàu đạm (thịt nạc,
thịt bò, nấm….), ăn nhiều thực phẩm giàu vitamin như đậu xanh, dư, củ cải,
trái cây, các loại rau xanh.
- Nhuận tràng: khoai lang, chuối, đu đủ, củ cải, rau lang, rau sam,
mùng tơi, rau dền đỏ…
- Uống nhiều nước.
- Không nên ăn nhiều dầu mỡ, đồ cay (ớt, tiêu).
- Không dùng các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá…
• Chăm sóc phục hồi chức năng.
- Người bệnh sau mổ cần được vận động sớm để phòng các biến chứng
do nằm lâu như viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, huyết khối…
- Phối hợp với khoa lâm sàng và vật lý trị liệu, phục hồi chức năng để
đánh giá, tư vấn, hướng dẫn và thực hiện luyện tập, phục hồi chức năng cho
người bệnh [38].
• Theo dõi, đánh giá người bệnh và phát hiện biến chứng.
Điều dưỡng viên phối hợp với bác sĩ điều trị để đánh giá phân cấp chăm
sóc và theo dõi phù hợp với từng BN để phát hiện sớm những dấu hiệu bất

THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ ĐAU Ở NGƯỜI LỚN VAS
* Mô tả:
- Thước dài 10cm, cố định ở 2 đầu.
- Bắt đầu với hình

biểu hiện cảm xúc "KHÔNG ĐAU".

- Mức điểm từ 1 - 3 với hình
- Mức điểm từ 4 - 6 với hình
- Mức điểm từ 7 - 10 với hình

biểu hiện cho cảm xúc "ĐAU NHẸ".


biểu hiện cho cảm xúc "ĐAU VỪA".


biểu hiện cho cảm xúc "ĐAU DỮ

DỘI".
* Sử dụng:
- Bệnh nhân được nằm nghỉ tại nơi yên tĩnh.
- Bệnh nhân được giải thích cách đánh giá đau bằng thước VAS.


9

- NVYT yêu cầu bệnh nhân tập trung và họ tự kéo thước để tự đánh giá
mức đau của mình.
- NVYT đọc mức đau của bệnh nhân.

Độ I: Không chủ động giữ được khí nhưng vẫn giữ được phân lỏng và
phân rắn.
Độ II: Không kìm được khí và phân lỏng nhưng vẫn kìm được phân rắn
Độ III: Không kìm được khí, phân lỏng và phân rắn.
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Xuyên [33], tình trạng cơ thắt
bình thường là 98/107 BN (chiếm 91,6%), mất tự chủ độ 1 có 6/107 bệnh
nhân (chiếm 5,6%), mất tự chủ độ 2 có 3/107 BN (chiếm 2,8%) trong đó
những bệnh nhân mất tự chủ hậu môn đều là rò xuyên cơ thắt cao.
+ Rò tái phát sau phẫu thuật: Tái phát sau phẫu thuật là tình trạng sau
mổ rò hậu môn từ 6 – 8 tuần khi sẹo mổ đã liền mà vẫn còn xuất hiện lỗ dò chảy
dịch, chảy mủ hoặc ổ áp xe [11], [34]. Kết quả của Nguyễn Bá Sơn [35] tái phát
có 5/96 chiếm 5,1%.
+ Thời gian liền sẹo vết mổ: Đặc điểm của vết mổ rò hậu môn là mất
một diện tích da và vết mổ thường để ngỏ, thường xuyên tiếp xúc với vi
khuẩn từ lòng trực tràng, nên so với các phẫu thuật khác thì thời gian liền sẹo
của mổ rò hậu môn thường dài hơn [1], [33].


11

Kết quả của Trần Thị Tranh [28], thời gian liền sẹo trung bình của phẫu
thuật mở ngỏ là 6,37 ± 2,23 tuần, ngắn nhất là 2 tuần, dài nhất 12 tuần. Theo
Sygut A.và cộng sự [32], nghiên cứu 407 bệnh nhân từ năm 1992 – 2004, kết
quả thời gian lành vết thương trung bình là 12,1 ± 4,2 tuần, ngắn nhất là 2 tuần
và dài nhất là 47 tuần.
• Hướng dẫn khi ra viện
- Giữ vệ sinh sạch sẽ vùng hậu môn và vùng tầng sinh môn.
- Ăn uống bình thường, hạn chế ăn các chất gia vị như: hạt tiêu, ớt…
- Ngâm hậu môn hàng ngày.
- Biết cách chăm sóc vết thương tại nhà.

- Bệnh nhân không tuân thủ hướng dẫn của nhân viên y tế.
- Bệnh nhân không tái khám định kỳ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả tiến cứu
- Cỡ mẫu: thuận tiện, tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia trong thời
gian nghiên cứu.
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá
Thu thập số liệu theo một mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất thông qua
hỏi bệnh, quan sát, đánh giá, chăm sóc, tham khảo hồ sơ bệnh án, gọi điện
trực tiếp, khám lại sau mổ theo hẹn.


13

2.2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu
1. Thông tin bệnh nhân: tuổi, giới, tiền sử phẫu thuật rò hậu môn, tiền sử
bệnh lý nội khoa, phương pháp phẫu thuật.
2. Thực trạng chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật rò hậu môn:
- Chăm sóc tinh thần, phỏng vấn BN về các vấn đề: giải thích tình
trạng bệnh và phương pháp điều trị, giải đáp băn khoăn thắc mắc, chăm sóc,
tiện nghi phòng bệnh chia làm 2 mức độ “có”, “không”.
- Chăm sóc về thể chất: bằng quan sát, đánh giá quy trình của NVYT
và phỏng vấn BN
+ Chăm sóc vết mổ thông qua các yếu tố: chuẩn bị dụng cụ, chuẩn bị BN,
số lần thay băng, nguyên tắc thay băng chia làm 2 mức độ “có”, “không”.
+ Thực hiện y lệnh và chăm sóc cơ bản: thông qua các yếu tố đo
DHST , thực hiện thuốc theo y lệnh, chế độ dinh dưỡng, chế độ vận động,
thay đồ vải chia làm 2 mức độ “có”, “không”.
3. Kết quả chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật rò hậu môn

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu 30 bệnh nhân rò hậu môn và phẫu thuật tại Trung tâm kỹ
thuật cao và Tiêu hóa Hà Nội từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 10 năm 2018 được thể
hiện qua các bảng và biểu đồ sau:

3.1. Đặc điểm bệnh nhân
3.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới
Bảng 3.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Tuổi

Số BN

Tỷ lệ %

≤ 20

1

3,3

21 - 40

14

46,7

41- 60

15


16

Nhận xét:
Tỷ lệ phẫu thuật Rò hậu môn ở nam giới là 83%, ở nữ giới là 17%
Tỷ lệ nam/nữ: 5/1

3.1.2. Tiền sử
Bảng 3.2. Tiền sử phẫu thuật rò hậu môn
Số lần

Số BN

Tỷ lệ %

0 lần

24

80

1 lần

5

16,7

2 lần

1


17

Nhận xét:
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 26 BN (chiếm 86,7%) tiền sử khỏe mạnh.
1 BN (chiếm 3,3%) mắc bệnh Crohn và 3 BN (chiếm 10%) mắc bệnh khác gồm có
1 BN mắc bệnh Bazadow, 1 BN mắc bệnh Gout, 1 BN mắc bệnh Trĩ.

3.1.3. Cách thức phẫu thuật
Bảng 3.3. Các phương pháp phẫu thuật RHM
Phương pháp phẫu thuật

Số BN

Tỷ lệ (%)

Phẫu thuật kinh điển

19

63,4

Phẫu thuật nội soi

10

33,3

Phẫu thuật LIFT

1

9 BN (30%) được thay băng 1 lần/ngày trong quá trình nằm viện. 100% BN được thông
báo, chuẩn bị trước khi thay băng. 100% NVYT chuẩn bị dụng cụ đầy đủ trước khi thay
băng. Có 1 trường hợp thay băng không tuân thủ nguyên tắc chiếm 3,3%.

Biểu đồ 3.5. Thực trạng THYL và chăm sóc cơ bản tại bệnh viện
Nhận xét:


19

100% BN được đo DHST và thực hiện y lệnh thuốc đầy đủ hàng ngày theo chỉ
định. 100% BN được hướng dẫn vận động sớm. Có 28 BN (93,3%) được hướng
dẫn chế độ dinh dưỡng sau mổ, và 2 BN (6,7%) không được hướng dẫn chi tiết.
100% BN được cung cấp suất ăn tại giường. Có 23 BN (76,7%) tuân thủ chế độ ăn
của bác sĩ còn lại 7 BN (23,3%) không tuân thủ. 100% BN được thay đồ vải đúng
lịch và kịp thời ngay khi cần.

3.3. Kết quả chăm sóc BN sau phẫu thuật RHM tại Trung Tâm KTC và tiêu
hóa Hà Nội.

Biểu đồ 3.6. Phân bố tình trạng đau theo thang điểm Vas
Nhận xét:
Tỷ lệ BN không đau và đau nhẹ sau mổ chiếm cao nhất 73,3%. 26,7% số
BN đau mức độ vừa. Không có BN nào đau dữ dội sau mổ.
Bảng 3.4. Tỷ lệ dùng giảm đau sau phẫu thuật
Sử dụng giảm đau

Số BN

Tỷ lệ %


Bảng 3.5. Tỷ lệ các biến chứng sớm sau mổ.


20

Biến chứng sớm sau mổ

Số bệnh nhân (n)

Tỷ lệ (%)

Bí tiểu

1

3.3

Băng ép

2

6.7

Khâu cầm máu

0

0


< 3 ngày

3

10

3- 5 ngày

26

86,7

>5 ngày

1

3,3

Tổng

30

100

Trung bình

3,5 ± 1,43

Ngắn nhất – Dài nhất



CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm bệnh nhân
4.1.1. Đặc điểm vể tuổi, giới.
• Tuổi: Trong 30 BN nghiên cứu, tuổi trung bình là 39,83 ± 10,29 thấp nhất
là 20 và cao nhất là 56. Lứa tuổi thường gặp nhất là 21 – 60 tuổi chiếm 96,7%.
Theo Nguyễn Hoàng Hòa [28], tuổi trung bình là 41,38 ± 13,87, độ tuổi
mắc bệnh là 21 – 60 tuổi chiếm 85,6%.
Theo Nguyễn Thị Phương [37], tuổi trung bình là 40, tuổi thấp nhất là
19, tuổi cao nhất là 65, độ tuổi mắc nhiều nhất là 30-49 chiếm 58%.
Theo Trịnh Hồng Sơn [1], tuổi trung bình 35, độ tuổi mắc nhiều nhất là
21 – 60 chiếm 86%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với những thống kê của các
tác giả khác cho thấy rò hậu môn gặp nhiều nhất ở độ tuổi lao động. Vì lứa
tuổi này chiếm phần đông trong xã hội, hay mắc nhiều bệnh ở vùng hậu môn
như: trĩ, polyp, nứt kẽ hậu môn, các tuyến ở hậu môn hoạt động mạnh mẽ dễ
lan truyền vi khuẩn giữa các tuyến với nhau tạo điều kiện cho bệnh RHM phát
sinh [39].
• Giới: Nghiên cứu có 25 BN nam và 5 BN nữ, tỷ lệ nam/nữ là: 5/1. Kết
quả của chúng tôi phù hợp với các tác giả trong và ngoài nước.
Theo Nguyễn Thế Hiệp [40] tỷ lệ nam/nữ là 6,45/1. Theo Nguyễn Mạnh
Nhâm [41] tỷ lệ nam/nữ là 4,2/1.
Tác giả Nagendranath C. và CS [42], nghiên cứu 68 BN rò hậu môn, có
tỷ lệ nam/nữ là 6,55/1. Tác giả Lewis R. và CS [43] cho rằng sở dĩ RHM xảy
ra ở nam nhiều hơn ở nữ là vì tần suất mắc các bệnh về hậu môn trực tràng
như: trĩ, nứt kẽ hậu môn, viêm đại tràng…. ở nam nhiều hơn nữ.


23

24

4.2. Thực trạng chăm sóc BN sau phẫu thuật RHM.
4.2.1. Chăm sóc về tinh thần.
Bệnh tật làm thay đổi tâm lý người bệnh có tác động hai chiều tới sự
thành công của cuộc phẫu thuật. Tâm lý ổn định, an tâm và tin tưởng vào điều
trị có thể giúp phục hồi nhanh hơn, ngược lại bệnh nhân quá lo lắng làm ảnh
hưởng xấu đến quá trình điều trị. Hiện nay sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
giúp công tác khám, chữa bệnh ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó vấn đề
giao tiếp, chăm sóc, giáo dục sức khỏe đóng vai trò rất quan trọng trong việc
chăm sóc, phục vụ sức khỏe bệnh nhân. Muốn điều trị và chăm sóc người
bệnh được tốt, cán bộ y tế không chỉ khám bệnh chẩn đoán và điều trị mà còn
phải quan tâm tới những diễn biến tâm lý của người bệnh ngay từ khi họ bước
chân tới khám bệnh và cả quá trình nằm điều trị vì chữa bệnh cho con người
phải chú ý tới tâm hồn của con người, phải biết người bệnh lo lắng, buồn
phiền như thế nào. Họ tin tưởng ở cán bộ y tế như thế nào? Có như vậy mới
đúng nghĩa điều trị và “Chăm sóc toàn diện”[44].
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 100% BN được giải thích rõ ràng về
tình trạng bệnh và phương pháp điều trị. 100% BN được giải đáp những băn
khoăn thắc mắc kịp thời vì luôn có bác sĩ điều trị trực tại khoa. 100% BN
được NVYT chăm sóc ân cần, thái độ nhẹ nhàng, động viên, an ủi và 100%
người bệnh được nằm phòng bệnh sạch sẽ, tiện nghi, thuận lợi, đảm bảo an
toàn. Sở dĩ có tỷ lệ cao như vậy vì Trung tâm KTC và Tiêu hóa Hà Nội được
xây dựng với tiêu chí: “Mang tiêu chuẩn Châu Âu đến với Hà Nội”.
4.2.2. Chăm sóc về thể chất
• Theo dõi DHST: Theo dõi dấu hiệu sinh tồn mạch nhiệt độ, mạch, nhịp
thở, huyết áp của người bệnh để phát hiện những dấu hiệu bất thường của
người bệnh, giúp cho chẩn đoán bệnh và xử trí kịp thời những tai biến có thể
xảy ra.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status