Nghiên cứu thực trạng mối hại gỗ tại trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 38

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------

NÔNG THỊ QUÝ

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MỐI HẠI GỖ TẠI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Nông lâm kết hợp

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2011-2015

Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn
trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai xót tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm.
Xác nhận của GVHĐ
Đồng ý cho bảo vệ kết quả

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Người viết cam đoan

trước hội đồng khoa học
(Ký, ghi rõ họ và tên)

(Ký, ghi rõ họ và tên)

ThS. Nguyễn Thị Tuyên

Nông Thị Quý

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai xót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, ghi rõ họ và tên)


ii



DANH MỤC CÁC BẢNG

STT
1

2

3

4

5

6

7

Tên bảng
Bảng 4.1. Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.2. Một số loại gỗ được sử dụng trong công trình tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.3. Lịch sử phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong
các công trình xây dựng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.4. Thực trạng mối xuất hiện và phá hại gỗ trong các công
trình xây dựng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.5. Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các
công trình xây dựng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.6. Thực trạng công tác kiểm tra phòng trừ mối hại công

1

Hình 2.1. Quần thể mối

4

2

Hình 2.2. Mối chúa

6

3

Hình 2.3. Mối cánh

7

4

Hình 2.4. Mối lính

8

5

Hình 2.5. Mối thợ

8


Hình 4.6. Mối hại gỗ tại khoa chăn nuôi thú y trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên
Hình 4.7. Mối hại gỗ tại nhà thể thao Đại học Thái Nguyên
Hình 4.8. Các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình tại trường bị
mối, mọt, xén tóc, các chân cửa bị nấm mục

32

33

33
34
34

14

Hình 4.9. Phun thuốc phòng mối nền

41

15

Hình 4.10. Phun thuốc phòng mối tường

42

16

Hình 4.11. Phương pháp lây nhiễm



4

ĐHTN

Đại học Thái Nguyên

5

KT&PTNT

Kinh tế và phát triển nông thôn

6

NC&CGKHCN

Nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ

7

PTNLN

Phát triển Nông Lâm Nghiệp

8

QLTN

Quản lý tài nguyên

Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................17
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................... 17
3.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu ........................................................................ 17
3.3. Nội dung nghiên cứu ......................................................................................... 17


vii

3.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 17
3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu ........................................................................ 17
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ......................................................................... 18
3.4.3. Phương pháp phân tích, xử lý và tổng hợp số liệu ......................................... 19
3.4.4. Phương pháp đánh giá mức độ mối hại công trình ........................................ 19
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................................... 20
4.1. Lịch sử phòng trừ mối hại gỗ tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên ..... 20
4.1.2. Lịch sử phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình .......... 22
4.2. Thực trạng về mối hại gỗ trong các công trình ................................................. 24
4.2.1. Thực trạng mối xuất hiện và phá hại gỗ trong các công trình ....................... 24
4.2.2. Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình .............. 27
4.3. Kinh nghiệm phòng trừ mối của trường ........................................................... 35
4.4. Giải pháp và kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ tại các công trình ....................... 37
4.4.1. Giải pháp phòng trừ mối hại công trình ......................................................... 37
4.4.2. Kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại trường .... 38
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ...................................................................... 44
5.1. Kết luận ............................................................................................................. 44
5.2. Đề nghị .............................................................................................................. 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


gây hại ngày càng lớn. Tác hại mà chúng gây ra chủ yếu là: Phá hủy các cấu kiện


2

bằng gỗ trong các công trình, gây sụt lún nghiêm trọng cho nền móng các công
trình, phá hủy các tài liệu, sách vở, các vật liệu có nguồn gốc từ gỗ như: Bàn, ghế,
tủ giường, … Nhiều loài mối nhà chúng còn đục được cả vữa tường thông thường,
vì thế mối có thể lên gây hại được tất cả các tầng trên cao. Chính vì vậy việc nghiên
cứu mối từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm nhằm tìm ra các biện pháp hữu
hiệu phòng trừ theo từng đối tượng gây hại.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc với tổng diện tích là
189,705 km2 và dân số 330.707 người (năm 2010). Hiện nay trong thành phố có rất
nhiều các công trình xây dựng đang bị mối tấn công như: Móng nhà, cửa gỗ, khung
kính, tủ, bàn ghế, giấy tờ, ... gây ra tổn thất về tiền bạc, thời gian sửa chữa cũng như
gây ra tâm lý lo lắng không yên cho mọi người.
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một trong tám trường đại học
thuộc Đại học Thái Nguyên. Trường có diện tích rộng lớn với trên tổng diện tích là
102,85 ha, đã xây dựng được 27.058 m2 nhà các loại bao gồm nhiều khoa, các
phong ban, các khu giảng đường, khu ký túc xá với nhiều giấy tờ, tài liệu, sách vở
và nhiều cấu kiện được làm bằng gỗ có nguy cơ bị mối tấn công và phá hoại. Hiện
nay, trường đang có rất nhiều các cấu kiện bị mối tấn công như: Cánh cửa, chân
cửa, cửa sổ, cầu thang, tủ tài liệu, sách vở,… Gây ra tổn thất nặng nề về tiền của
cũng như tâm lý, làm mất thông tin, mất số liệu, gián đoạn công việc. Nếu để cho
mối tự do hoành hành không có biện pháp xử lý thì sẽ gây ra hậu quả nặng nề hơn.
Chính vì vậy việc phòng trừ mối là vấn đề cần thiết và được nhiều người quan tâm.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Lâm
nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Cùng với sự hướng dẫn tận tình
của cô giáo Nguyễn Thị Tuyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực
trạng mối hại gỗ tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.

mối phát hiện thấy mối phá hại các công trình xây dựng tại trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, bản thân cảm thấy có trách nhiệm hơn với ngành nghề của mình.
Sẽ thường xuyên học tập, nghiên cứu tìm ra những giải pháp mới trong việc phòng
trừ mối cho các công trình.


4

Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm của mối hại gỗ
Mối là một nhóm côn trùng, có họ hàng gần với gián. Đôi khi người ta gọi
chúng là kiến trắng nhưng thực tế chúng không có họ hàng với nhau, chúng chỉ có
mối quan hệ đều là côn trùng. Mối là nhóm côn trùng có “tính xã hội hóa” cao.
Khác với nhiều loại côn trùng đơn sinh, mỗi tổ mối là một “đơn vị sống” hoặc được
coi là một “xã hội” riêng biệt, trong mỗi tổ mối, tuỳ theo từng loài, có từ vài trăm
con đến vài trục triệu con.

Hình 2.1. Quần thể mối

Trên thế giới mối có trên 2.700 loài. Các loài có đặc điểm khác nhau. Chúng
khác nhau về cấu trúc tổ (có loài làm tổ nổi trên mặt đất, có loài làm tổ chìm, có loài
làm tổ trên cây), đặc điểm dinh dưỡng (có loài chuyên ăn gỗ khô, có loài chuyên ăn
gỗ ẩm, có loài chuyên ăn mùn), có loài đắp đường mui, có loài không đắp đường
mui khi đi kiếm ăn, có loài ăn bên ngoài có loài chuyên ăn bên trong gỗ.
Ở Việt Nam, hiện đã phát hiện 106 loài mối. Trong đó có một số nhóm loài
gây hại thường gặp là các giống: Coptotermes, Odototermes, Macrotermes,
Microtermes, Hypotermes, Cryptotermes. Giữa các loài chỉ có sự khác nhau về hình
thái, số lượng cá thể, cấu trúc,… song chúng đều sống trong quần thể. Mỗi quẩn thể
đều có sự phân công theo chức năng (Lê Văn Nông và cs) [5].

- Thực vật khô: Ruột của loài mối nhà tiêu hóa được chất xơ nên ngoài gỗ,
tre, nứa, tất cả các sản phẩm chế biến từ thực vật như giấy, vải,… đều bị chúng phá
hoại. Trên đường tìm đến nguồn thức ăn mối có thể đục qua nhiều loại vật liệu khác
nhau như cao su, xốp cách âm, đồng thời mang theo đất và độ ẩm làm máy móc
thiết bị bị hư hỏng.


6

Các loại mối khác nhau thường ăn chất xơ của gỗ ở trạng thái khác nhau.
Mối nhà thích ăn gỗ thông màu trắng còn tốt nguyên, một số loại mối đất lại thích
ăn những loại gỗ đã hơi bị mục,…
2.1.3. Hình thái và chức năng của mối
Mối là loại côn trùng có kích thước nhỏ, mềm, râu đầu hình chuỗi hạt, miệng
gặm nhai, bàn chân có 4 đốt, lông đuôi ngắn, mối có cánh hoặc không cánh.
Trong một tổ mối trưởng thành điển hình bao gồm các thành phần: Mối vua,
mối chúa, mối cánh, mối lính, mối thợ. Mỗi thành phần lại có đặc điểm hình thái và
đảm nhiệm các chức năng riêng.
* Mối vua, mối chúa
Mỗi đàn có một mối vua, mối chúa, cá biệt là 2 -3 mối vua, mối chúa. Chúng
có đặc điểm là đầu nhỏ, bụng to, bộ phận sinh dục phát triển. Do được chăm sóc đặc
biệt nên mối chúa có trọng lượng lớn hơn 300 lần trong lượng của mối lao động.
Mối vua làm nhiệm vụ thụ tinh cho mối chúa còn mối chúa làm nhiệm vụ sinh sản,
giao phối với mối chúa để duy trì nòi giống.
Mối chúa và mối vua thường không ra khỏi tổ, trừ trường hợp ngập úng
chúng thường rời tổ chính đến tổ phụ an toàn hơn song thường không ở ngay vị trí
gây hại (Lê Văn Nông và cs) [5].

Hình 2.2. Mối chúa



Hình 2.4. Mối lính

* Mối thợ
Mối thợ hay mối lao động cũng từ mối non trải qua 5 đến 7 lần lột xác mà
thành. Mối thợ chiếm khoảng 85% số cá thể trong đàn. Mối thợ có màu trắng sữa
đồng đều từ đầu đến bụng, cơ thể nhỏ, các chi phát triển. Chúng đảm nhiệm hầu hết
các công việc của tổ như: Kiếm thức ăn, xây dựng tổ nuôi mối chúa, mối non, mối
lính bằng thức ăn đã được chế biến qua đường ruột. Ngoài ra mối thợ cũng tham gia
chiến đấu khi mối tổ khác đến xâm lấn hoặc bị tấn công.
Ngoài ra trong tổ mối còn có các thành phần mối non và mối hậu bị để thay
thế trong trường hợp mối vua hoặc mối chúa chết.

Hình 2.5. Mối thợ

2.1.4. Sự chia đàn và hình thành tổ mối
Chia đàn là hình thức phát triển của mối. Một tổ mối trưởng thành hàng năm
thường sinh ra hàng trăm đến hàng vạn mối giống. Khi mối giống có cánh đã xuất


9

hiện, gặp điều kiện thời tiết thuận lợi mối thợ đục một lỗ vũ hóa ở trên đỉnh tổ cho
mối cánh bay ra chia đàn.
Thời kỳ bay giao hoan của một quần thể mối tùy vào chủng loại mối và vùng
phân bố. Ở nước ta mối thường chia đàn từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 8, nhưng
mạnh nhất vào các tháng 4, 5, 6 và 7. Cá biệt có một số loài chia đàn đến tháng 12,
có loài chia đàn vào lúc trời mưa dông, có loài chia đàn vào lúc xẩm tối hay ban đêm.
Hiện tượng mối vũ hóa và bay ra khi nhiệt độ môi trường từ 20 - 260C, độ
ẩm 85 - 92%. Mối cánh bay ra khỏi tổ lúc đầu lúc đầu bay vút lên cao chừng 30m

Mối là động vật thân nhiệt không ổn định nên mọi thay đổi của nhiệt độ môi
trường sống dù cao hay thấp cũng đều làm cho nhiệt độ cơ thể mối bị biến đổi.
Nhiệt độ thích hợp cho loài mối hoạt động là từ 20 – 300C và khi nhiệt độ tăng lên
đến 500C thì tất cả các loài mối đều chết. Mùa hè mối hoạt động nhiều hơn mùa
đông. Khi nhiệt độ không khí ngoài trời thay đổi ngoài khả năng tự điều tiết mối
còn dựa vào cấu trúc của tổ và phương thức khác để điều tiết nhiệt độ của tổ. Ngược
lại khi nhiệt độ của không khí tăng cao mối thường phân tán sang tổ phụ, đi kiếm ăn
xa, mở thêm nhiều hang thông khí. Nhờ đó mà nhiệt độ của tổ mối rất ổn định. Nếu
nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp thì hoạt động sống của mối giảm dần rồi
rơi vào trạng thái choáng váng, hôn mê nếu nhiệt độ tiếp tục giảm hoặc tăng thì mối
sẽ chết (Phạm Bình Quyền, 2006) [6] (Đặng Kim Tuyến, 2008) [8].
* Ảnh hưởng của độ ẩm
Đối với mối độ ẩm và nước không những dùng để phát triển cá thể mà còn
dùng để nhào đất để làm tổ, chế biến thức ăn mớm cho mối chúa, mối vua, mối con,
… Chính vì vậy thiếu nước mối không thể sống được. Các loài mối khác nhau cũng
yêu cầu về độ ẩm và nước khác nhau. Mối thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt, độ
ẩm thích hợp nhất cho mối hoạt động là từ 85 - 90%, nếu độ ẩm cao quá hoặc thấp
quá thì mối sẽ chết. Ngoài ra độ ẩm còn gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của
đàn mối vì độ ẩm ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của thực vật nguồn thức
ăn chính của mối. Đối với mối nếu cắt nguồn lấy nước thì chỉ sau hai ba ngày mối
sẽ chết (Phạm Bình Quyền, 2006) [6] (Đặng Kim Tuyến, 2008) [8].


11

* Ảnh hưởng của ánh sáng
Mối không phải là sinh vật sợ ánh sáng nhưng khi cường độ và phương thức
chiếu sáng đột ngột thì mối có phản ứng âm hoặc dương với ánh sáng. Ở nước ta về
mùa hè có loài mối nối đuôi nhau trên mặt đất rừng ngay cả lúc trời nắng hay có
loài mối ở trong bóng tối vẫn đắp đường mui. Vậy đường mui chỉ là phương tiện

Các loài thiên địch chủ yếu của mối như: Chim, cóc, thằn lằn, kiến, chuồn chuồn,
bọ ngựa,… Chúng gây hại trực tiếp đến mối làm ảnh hưởng đến sự sinh tồn, phát
triển và phân bố của mối.
Ngoài ra mối cũng bị nhiều loài sinh vật khác ký sinh như tuyến trùng, vi
khuẩn và nấm làm cho tổ mối bị diệt vong (Đặng Kim Tuyến, 2008) [8].
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên mối còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như:
Gió, các chất độc hóa học làm cho mối bị phá hại tổ hoặc bị chết.
2.2. Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới hiện đã phát hiện khoảng 2700 loài mối, ở Việt Nam đã phát
hiện 106 loài mối khác nhau. Hàng năm mối gây thiệt hại rất lớn cho các quốc gia
trên thế giới cũng như ở Việt Nam đặc biệt đối với các tài liệu lưu trữ quý hiếm, các
thư tịch cổ, các hiện vật bảo tàng có giá trị đặc biệt khi bị mối phà hoại thì không
thể tính được giá trị tổn thất. Ở Trung Quốc nhất là vùng Hoa Nam có đến 80% số
nhà cửa kho tàng, nhà lâu năm bị mối phá hại.
Mối có thể gây thiệt hại lớn nếu không được phát hiện. Hơn 2 triệu gia đình
yêu cầu phương pháp điều trị mối mỗi năm. Hơn 600.000 Mỹ bị thiệt hại mối tổng
cộng hơn 2.5 tỷ USD mỗi năm. Đó là thiệt hại lớn hơn cả các vụ cháy, bão và động
đất kết hợp.
Ở nước ta, loài mối thường gặp là mối gỗ khô (cryptotermes domestices),
một số loài mối còn có khả năng khoét đất tạo khoang rỗng trong lòng đất. Mối phá
hoại các công trình xây dựng, kho tàng, đê điều, cây trồng,… hiện nay là rất nghiêm
trọng. Tác hại của chúng đối với các đối tượng kinh tế chủ yếu là:
- Phá huỷ các đồ vật và các cấu kiện gỗ trong công trình.
- Phá huỷ hệ thống cáp điện ngầm và các thiết bị điện tử.
- Gây sụt lún cho nền móng công trình, vỡ đê đập thủy điện.
- Mối gây gãy, đổ, chết cây trồng.


13


14

(1955) khi nghiên cứu mối ở Thái Lan, của Roonwal (1962) khi nghiên cứu mối ở
Ấn Độ,… Các khoá định loại của các tác giả đã đặt tên, vẽ và mô tả chi tiết đặc
điểm cấu tạo hình thái đầu, hàm, môi, râu và các tấm lưng ngực của mối lính lớn
của loài Microtermes pakistanicus,… nhưng các đặc điểm về cấu trúc tổ, đặc điểm
phân bố và phân hoá các đẳng cấp của loài lúc đó chưa có tác giả nào đề cập
(Kumar Krishna and Frances M. Weesner, 1970) [12] [15].
Đến năm 1965, Ahmad bổ sung thêm vào khoá định loại năm 1955 của mình
các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài M.pakistanicus, góp phần rất lớn trong việc
phát hiện và phòng trừ loại mối gây hại này. Tuy nhiên loài Microtermes
pakistannicus cũng chỉ được nghiên cứu về các đặc điểm hình thái, sinh học và phân
bố trong tự nhiên (S.Dronnet, M.Ohresser, E.L. Lohou, J.L.Clement and
A.G.Bagneres, 2006) [14].
Các nghiên cứu của các tác giả về phòng trừ mối cũng đã bổ sung thêm nhiều
tư liệu về tỉ lệ các loại đẳng cấp trong tổ mối các loài hại cây công nghiệp, cây rừng,
và nhiều cây trồng khác (Leek. E. and Wood T.G, 1971) [13].
Trước đòi hỏi phải thống nhất cách đo đạc để phân loại, Roonwal đã đưa ra
bản thống nhất cách đo đạc mối vào năm 1969 (Kumar Krishna and Frances M.
Weesner, 1970) [12]. Hầu như tất cả các khoá định loại hiện nay nói chung, đối với
loài mối M. pakistanicus nói riêng đều dựa trên cơ sở so sánh về hình thái ngoài của
mối. Tuy nhiên sự khác biệt về hình thái giữa các loài nhiều khi không rõ rang dẫn
đến sự nhầm lẫn khi phân loại. Oshima (1914), Light (1921), Kemner (1930, 1933,
1934) nhầm lẫn loài M. Pakistanicus ở các vùng khác nhau nên đã cho nhiều tên
khác nhau. Về sau chính các tác giả này đã kiểm tra và đính chính lại chuyển thành
synonym Microtermes pakistanicus. Để khắc phục tình trạng đó, đã có một số công
trình nghiên cứu cấu trúc lớp biểu bì, cấu trúc ADN của loài mối này. Nhưng những
kết quả này chỉ cho phép tách ra được các nhóm loài chứ chưa tách ra được từng
loài (dẫn theo Nguyễn Tân Vương, 1997) [9].


việc phòng trừ giảm thiểu tác hại do chúng gây ra cho sản xuất nông, lâm nghiệp
đối với các tỉnh Tây Nguyên. Công trình này cho rằng cấu trúc tổ của loài có những


16

khác biệt về hình thái so với những nhận định của Vũ Văn Tuyển trước đó. Song
song với những nghiên cứu ở Miền Nam, cũng có những nghiên cứu sơ bộ về loài
mối này trải dài khắp các địa phương của Miền Bắc, Miền Trung.
Hiện nay Viện Khoa Học Thuỷ Lợi đang có những dự án kéo dài nghiên cứu
về loài mối này với số lượng lớn các thí nghiệm được bố trí, thực địa ở rất nhiều địa
bàn trên toàn quốc và đã ghi nhận được những kết quả bước đầu và có ý nghĩa về
đặc điểm sinh học, cấu trúc tổ và đặc biệt là loại thức ăn ưa thích của loài làm cơ sở
ban đầu để nghiên cứu ra các chế phẩm phòng chống loài đạt hiệu quả (Tạp chí
nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007) [10].
Công việc điều tra phân bố phân loại mối và các nghiên cứu sinh thái sinh
học và các kĩ thuật phòng trừ của các tác giả từ trước đến nay đã thu được những
kết quả nhất định làm cơ sở ban đầu cho việc phòng trừ và giảm thiểu các tác hại do
mối gây ra, nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, các loài mối gây
hại ngày càng phát triển mạnh mẽ, phổ rộng khắp mọi nơi, gây thiệt hại to lớn đến
nền kinh tế quốc dân của tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu về
mối mới nhất trong lúc này không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một quốc gia mà có
ý nghĩa trên toàn thế giới, cần phải phát triển mở rộng nhiều nghiên cứu mới về mối.
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng
Thành phố Thái Nguyên là một trong 8 trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
Trường có diện tích rộng lớn với trên tổng diện tích là 102,85 ha, đã xây dựng được
27.058 m2 nhà các loại bao gồm nhiều phòng ban, các khu giảng đường, khu ký túc
xá, các khu nghiên cứu với nhiều loại giấy tờ, tài liệu, sách vở và đặc biệt là có rất
nhiều các cấu kiện trong công trình được làm bằng gỗ có nguy cơ bị mối tấn công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status