VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ LI NA
VĂN HÓA KINH DOANH CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN
THÔNG QUÂN ĐỘI (VIETTEL)
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ MINH CHÂU
HÀ NỘI 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VŨ LI NA
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH ................. 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của văn hóa kinh doanh ............................... 6
KD
Kinh doanh
OTT
(Over The Top) là giải pháp cung cấp
nội dung cho người sử dụng dựa trên
nền tảng Internet
SXKD
Sản xuất, kinh doanh
VH
Văn hóa
VHKD
Văn hóa kinh doanh
VNPT
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt
Nam
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
nền tảng VH cho riêng mình.
Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel (Viettel) được thành lập theo
Quyết định thành lập DN nhà nước số 336/QĐ - QP ngày 27/07/1993 của Bộ
Quốc phòng và số 43/2005/QĐ - TTg ngày 02/05/2005 của Thủ tướng Chính
phủ với ngành nghề kinh doanh (KD) chính là các dịch vụ bưu chính viễn
thông (BCVT), ngoài ra còn KD trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ thông
tin... Viettel là DN tiên phong ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế
giới vào KD dịch vụ viễn thông và đã trở thành DN viễn thông đầu tiên của
Việt Nam cung cấp dịch vụ di động tại nước ngoài. Mục tiêu của Viettel là trở
thành nhà khai thác dịch vụ BCVT hàng đầu tại Việt Nam và có tên tuổi trên
thế giới. Hiện nay Viettel đã xây dựng được mạng lưới đồng loạt tại 64/64
tỉnh, thành phố với 3300 trạm phát sóng (bằng 1,5 lần sự phát triển của các
DN khác trong vòng 13 năm) phủ sóng ra hầu hết các vùng biên giới, hải đảo,
vùng sâu, vùng xa, tạo nên ưu thế cạnh tranh của DN (chỉ tính ở dịch vụ di
động đã gần đạt 10 triệu khách hàng). Viettel đặt mục tiêu phấn đấu có
khoảng 12 triệu khách hàng thường xuyên. Mới đây nhất, trong chương trình
1
khảo sát để tìm ra top 200 DN Việt Nam hàng đầu của Liên Hợp Quốc,
Viettel đã lọt vào top 10 DN hàng đầu Việt Nam.
Thành công của Viettel có được do nhiều nguyên nhân, trong đó không
thể không kể đến vai trò của VHKD. Trong những năm qua Viettel đã nỗ lực
tạo dựng cho mình một lưng vốn khá lớn VHKD bao gồm: slogan, logo, tầm
nhìn thương hiệu, triết lý kinh doanh, chuẩn mực đạo đức...Và quan trọng hơn
nữa là việc Tập đoàn đã phát huy các giá trị của VHKD vào thực tế hoạt động
của Tập đoàn.
Tuy nhiên, xây dựng và phát huy VHKD trong quá trình phát triển là
một công việc lâu dài. Để duy trì, phát triển và phát huy các giá trị của VHKD
Ngoài ra còn có một số luận án, luận văn nghiên cứu về VHKD ở các
trường Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Ngoại thương…
Nói tóm lại, trong những năm gần đây, các nghiên cứu về VHKD tại
Việt Nam đã xuất hiện nhưng chưa nhiều. Đa phần các côn trình nghiên cứu
đã có thường tập trung vào việc phân tích VHKD ở dạng chung, chưa có công
trình nghiên cứu riêng biệt cho Viettel. Do đó, đề tài “Văn hóa kinh doanh
của Viettel” hy vọng sẽ đem lại những đóng góp nhất định cho hoạt động
nghiên cứu về VHKD tại Viettel.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài luận văn là xây dựng cơ sở lý luận và căn cứ
thực tiễn hình thành và phát triển VHKD của Viettel, qua đó tìm kiếm giải
pháp củng cố, phát triển VHKD phù hợp với định hướng phát triển tập đoàn
Viettel trong những năm tới.
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, quá trình nghiên cứu đề tài luận văn
đã thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về VHKD.
- Phân tích đánh giá thực trạng VHKD tại Viettel trong thời gian gần đây.
- Đề xuất giải pháp nhằm củng cố, phát triển VHKD của Viettel trong
thời gian tới.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là VHKD của Viettel đặt trong môi
trường kinh tế thị trường hội nhập hiện nay ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu trong luận văn giới hạn như sau:
Về nội dung: Nội hàm VHKD của Viettel chủ yếu được xem xét theo các
khía cạnh: triết lý KD, đạo đức KD, văn hóa doanh nhân, văn hóa DN và một
vài yếu tố khác.
Về thời gian: Thời gian khảo sát VHKD của Viettel giới hạn trong giai
Chương 3: Giải pháp củng cố, phát triển văn hóa kinh doanh của
Viettel
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của văn hóa kinh doanh
1.1.1. Khái niệm văn hóa kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm phức tạp, hiện chưa đạt tới sự thống nhất
nhận thức chung. Cho đến nay vẫn còn hơn 400 khái niệm khác nhau về VH.
Sở dĩ có các khái niệm khác nhau về VH là do cách tiếp cận khác nhau [7].
Theo Edward Burrwett Tylor (1871), văn hoá bao gồm mọi năng lực
và thói quen, tập quán của con người với tư cách là thành viên của xã hội.
Trong định nghĩa này, văn hoá bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng,
phong tục, tập quán, nghi thức, quy tắc, thể chế, chuẩn mực, công cụ, kỹ
thuật, công trình nghệ thuật (hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc) và những yếu tố
khác có liên quan đến con người [8] .
Các nhà kinh điển Mác – Lênin cho rằng, VH là tổng hoà những giá trị
vật chất và tinh thần cũng như các phương thức tạo ra chúng, kỹ năng sử dụng
các giá trị đó vì sự tiến bộ của loài người cùng sự truyền thụ các giá trị đó từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Hình thức khởi đầu và nguồn gốc đầu tiên làm
hình thành và phát triển VH là lao động của con người, phương thức thực hiện
lao động và kết quả của lao động [8].
Theo Unessco: "VH phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống
động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn
ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế
kỷ nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối
thói, tập tục mà một cộng đồng người cùng tuân theo một cách rất tự nhiên,
không ép buộc.
Tính dân tộc: VH tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận chung của từng
dân tộc mà người dân tộc khác không dễ gì hiểu được
8
Tính chủ quan: Cùng một sự việc nhưng có thể được hiểu và đánh giá
khác nhau bởi những người có những nền VH khác nhau.
Tính khách quan: VH thể hiện tính chủ quan của từng dân tộc nhưng
không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của mỗi người, được chia sẻ và truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác. VH tồn tại khách quan ngay cả với các thành
viên trong cộng đồng. Chúng ta chỉ có thể học hỏi các nền VH, chấp nhận nó
chứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình.
Tính kế thừa: Là sự tích tụ từ hàng trăm ngàn năm của các hoàn cảnh.
Sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian làm cho vốn VH của cả một dân tộc thêm
giàu có, phong phú và tinh khiết hơn. Mỗi thế hệ đều cộng thêm đặc trưng
VH của mình vào nền VH dân tộc trước khi truyền lại cho thế hệ sau.
Tính học hỏi: VH không chỉ được truyền từ đời này qua đời khác mà
còn phải do học hỏi mới có được. Đa số kiến thức mà một người có được là
do học hỏi hơn là bẩm sinh sẵn có.
Tính tiến hóa: VH không bao giờ tĩnh lại mà luôn thay đổi, nó luôn tự
điều chỉnh cho phù hợp với trình độ và thực tế. Trong qúa trình hội nhập và
giao thoa với các nền VH khác, nó có thể tiếp thu các giá trị tiến bộ hoặc tích
cực từ những nền VH khác[8].
Tuy nhiên, KD cũng là một hoạt động có những nét khác biệt so với
các hoạt động khác như chính trị, pháp luật, gia đình...nên ngoài đặc trưng
trên, VHKD có những nét đặc trưng riêng phân biệt với VH các lĩnh vực
khác. Điều này được thể hiện rõ ở hai đặc trưng sau của VHKD:
Nâng cao năng lực cạnh tranh của DN.
Các nhà nghiên cứu cho rằng một DN có VHKD tốt đẹp sẽ tạo lợi thế
cạnh tranh cho chính DN đó. Bởi vì VHKD của DN đó tạo được sự thống
nhất hành động trong đơn vị, giảm thiểu được rủi ro, tăng cường phối hợp và
giám sát lẫn nhau, thúc đẩy động cơ làm việc tích cực của mọi thành viên, tạo
dựng quan hệ tốt đẹp với khách hàng và đối tác, nhờ đó mà tăng hiệu suất và
10
hiệu quả hoạt động của DN, tăng sức cạnh tranh của DN trên thị trường. Đặc
biệt trong môi trường toàn cầu hóa như hiện nay, các DN Việt Nam bước vào
thời kỳ phải cạnh tranh bằng vốn tri thức, bằng tài nguyên con người. Để
tránh tình trạng “chảy máu chất xám” DN nên xây dựng VHKD làm nền tảng
để gắn kết con người, biến mỗi DN thành một thành trì kinh tế vững chắc,
hoàn thành sứ mệnh của chính mình. Một môi trường làm việc tốt với đời
sống VH cao sẽ tạo điều kiện cho tài năng phát triển, nâng cao năng lực cá
nhân, nhân tài và phát triển tinh thần đoàn kết của các thành viên[3].
Tạo bản sắc riêng cho DN.
Các giá trị VHKD của DN giúp nhận biết sự khác nhau giữa DN này
với DN khác, giúp DN xây dựng tên tuổi của mình. Sự khác biệt đó cũng tạo
ra những tài sản vô hình như: sự trung thành của nhân viên, bầu không khí
làm việc ấm cúng giúp đẩy nhanh tiến độ trong quá trình thảo luận và ra các
quyết định quản lý, sự tin tưởng của nhân viên vào các quyết định và chính
sách của DN, tinh thần đồng đội trong mọi công việc của DN...
Các giá trị VHKD của DN góp phần làm giảm những mâu thuẫn trong DN.
VHKD góp phần xây dựng không khí đoàn kết trong đội ngũ nhân viên.
Các nhà VH đều thống nhất cho rằng, VHKD có vai trò tích cực trong việc
khuyến khích sự gắn kết xã hội trong DN. Việc tạo ra một nền VH chung sẽ tạo
ra được sự thống nhất trong quan điểm nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn và lợi ích
chung cho hành động của các thành viên.
Triết lý KD trong DN tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: có thể là
một văn bản, một câu khẩu hiệu hoặc một bài hát; cũng có thể không được thể
hiện dưới dạng vật chất mà chính là những giá trị niềm tin trong các thành
viên của DN. Tuy nhiên, nội dung cơ bản của triết lý KD trong DN, tựu chung
lại, gồm ba phần chính là sứ mệnh của DN, các phương thức hành động và
các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp đặc thù cho DN.
Sứ mệnh kinh doanh
12
Sứ mệnh là các mục tiêu cơ bản của DN: Một văn bản triết lý KD
thường bắt đầu bằng việc nêu ra sứ mệnh của DN hay chính là tôn chỉ, mục
đích hoạt động của DN. Đây là phần nội dung có tính khái quát cao, mô tả
DN là ai, DN làm những gì, làm vì ai và làm như thế nào.
Phương thức hành động
Sau khi nêu lên mục tiêu cơ bản cho DN mình, DN sẽ phải tiếp tục đề
ra các phương thức hành động. Các phương thức hành động này trả lời cho
câu hỏi DN sẽ thực hiện sứ mệnh và đạt tới các mục tiêu của nó như thế nào,
bằng nguồn lực và phương tiện gì. Tuy mỗi DN có phương thức hành động
riêng, song nội dung của nó thường bao gồm: Hệ thống các giá trị của DN và
các biện pháp quản lý trong DN. Trong đó, hệ thống các giá trị của DN là
những niềm tin căn bản thường không được nói ra của những người làm việc
trong DN. Các biện pháp và phong cách quản lý trả lời cho câu hỏi: "DN hoàn
thành sứ mệnh kinh doanh bằng con đường nào? Với nguồn lực gì?"
Các nguyên tắc
Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động
kinh doanh đặc thù của DN cũng là một phần không thể thiếu trong triết lý
DN. Các văn bản triết lý DN thường đưa ra nguyên tắc chung hướng dẫn việc
giải quyết những mối quan hệ giữa DN và xã hội nói chung cũng như cách
Đạo đức kinh doanh trong kế toán tài chính
Trong lĩnh vực kế toán tài chính các vấn đề về đạo đức cũng có thể nảy
sinh từ mối quan hệ với bên ngoài và bên trong.
Trong mối quan hệ với bên ngoài, công việc kế toán có nhiệm vụ chuẩn
bị và cung cấp những thông tin và số liệu về tình trạng tài chính và hoạt động
tài chính của DN, … Những số liệu này có thể sử dụng cho việc tính thuế,
phục vụ cho việc ra quyết định và lựa chọn đầu tư, đánh giá kết quả hoạt động
của DN, xác minh giá trị tài sản của DN. Những số liệu nay, nếu được làm sai
lệch có chủ ý, có thể dẫn đến những quyết định sai lầm. Để hạn chế những sai
14
lầm, nhiều quy định và văn bản pháp lý đã được định ra làm cơ sở cho việc
kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tài chính. Tuy nhiên những người làm kế
toán, nếu thiếu ý thức hoặc vô đạo đức, có thể lợi dụng những khe hở trong hệ
thống luật pháp để luồn lách vụ lợi.[13]
Trong mối quan hệ bên trong đơn vị, công việc kế toán bao gồm công
việc chuẩn bị và cung cấp nguồn tài chính cần thiết, kịp thời cho các hoạt
động tác nghiệp. Ở nhiều DN, nhiệm vụ này không được nhận thức và quán
triệt một cách đúng đắn. Bộ phận tài chính ở một số DN có thể lạm quyền và
đóng vai trò ra quyết định tác nghiệp chứ không phải là một đơn vị chức
năng. Về chức năng, việc phê duyệt của bộ phận chịu trách nhiệm về tài chính
chỉ nhằm khẳng định tính hợp thức của các đề án tài chính và xác minh nguồn
chi chứ không phải phê duyệt một quyết định của một người hay đơn vị của
một cấp chức năng khác. Sự lạm quyền có thể làm đảo lộn mối quan hệ quyền
hạn – trách nhiệm trong cơ cấu tổ chức và làm cho hệ thống tổ chức và quản
lý trở nên kém hiệu lực, do vi phạm nguyên tắc “cân đối giữa quyền hạn và
chức năng trong quản lý”. Một vấn đề đạo đức khác liên quan trực tiếp đến tư
cách đạo đức của người làm công tác quản lý tài sản và tiền của một DN là ở
chỗ: do nắm chắc các quy định về quản lý tài chính, đồng thời là người có khả
Đạo đức doanh nhân
Đạo đức doanh nhân là một thành tố quan trọng tạo nên VH doanh
nhân. Có thể hình dung một số tiêu chuẩn không thể thiếu đối với đạo đức của
các doanh nhân như sau:
Thứ nhất, tính trung thực thể hiện ở sự nhất quán giữa nói và làm, danh
và thực. Tính cách này sẽ khiến các doanh nhân không có xu hướng dùng thủ
đoạn xấu xa để kiếm lời, ngược lại, họ coi trọng công bằng, chính đáng và
đạo lý trong KD.
Thứ hai, tôn trọng con người thể hiện từ việc coi trọng nhu cầu, sở
thích và tâm lý khách hàng, tôn trọng nhân viên, trọng chữ tín.
16
Thứ ba, vươn tới sự hoàn hảo: điều này giúp doanh nhân không ngừng
tu dưỡng bản thân, có hoài bão, có lý tưởng, giúp doanh nhân hình thành lý
tưởng nghề nghiệp và quyết tâm vươn lên để thành đạt bằng KD.
Thứ tư, đương đầu với thử thách: đức tính này giúp doanh nhân không
ngại khó, vượt qua những gian khổ mà nghề KD gặp phải.
Thứ năm, coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội: doanh
nhân phải không ngừng nâng cao hiệu quả trong hoạt động KD, đồng thời
phải có những đóng góp xứng đáng cho xã hội.
Tài năng doanh nhân
Tài năng KD của các doanh nhân có thể được biểu hiện thông qua các
năng lực sau:
Thứ nhất, sự hiểu biết về thị trường: bao gồm hiểu biết về ngành hàng,
về thị trường, về khách hàng, về đối thủ cạnh tranh,..
Thứ hai, những hiểu biết về nghề KD: kiến thức chuyên môn, nghiệp
vụ kinh doanh như kiến thức về phương pháp quản trị, marketing, chất lượng
sản phẩm, tài chính, công nghệ,…
được khoảng cách là họ phải hiểu nhau, đồng cảm cùng nhau, quan tâm đến
nhau và biết cách giúp đỡ nhau khi cần thiết. Từ đó xây dựng những nét VH
riêng có trong DN, làm sao cho các thành viên cảm nhận được tình cảm gắn
bó lẫn nhau trong một gia đình lớn là DN. Ngoài giờ lao động, họ có nhiều lý
do để giao tiếp, ứng xử. Có thể xây dựng VH trong DN qua việc xây dựng và
giữ gìn truyền thống của DN, thể hiện sự quan tâm đến nhau như tổ chức kỷ
niệm ngày sinh, ngày cưới, ngày về nhà mới...; thăm hỏi khi đồng nghiệp ốm
đau, sinh con; chia buồn khi đồng nghiệp có người thân qua đời. Sự chia vui
và chia buồn, tính chất của từng sự việc rất rõ ràng, VH ứng xử phải phù hợp
với cách thức thực hiện rất khác nhau giữa các DN [8].
1.2.4.2. Văn hóa trong xây dựng và phát triển thương hiệu
Hình ảnh thương hiệu là tất cả những sự liên tưởng khi khách hàng
nghĩ đến một thương hiệu, là một tập hợp những liên kết có tổ chức dưới dạng
18
hình ảnh hiển thị hay hình ảnh trong tâm thức đối tượng tiêu dùng. Tạo dựng
hình ảnh thương hiệu là một việc làm mang tính chiến lựoc và dài hạn. Vì vậy
nó đòi hỏi phải có sự đồng lòng và cam kết xuất phát từ cấp lãnh đạo cao nhất
của DN. Nếu hiểu thương hiệu là những giá trị của DN mà khách hàng, xã hội
nhận thức được thì VHDN là một phần không thể thiếu để cấu thành nên hình
ảnh thương hiệu. Việc xây dựng thương hiệu phải là công việc đồng bộ từ cấu
trúc đến môi trường VHDN, chăm lo các sản phẩm, dịch vụ đồng thời cũng
không được quên quảng bá hình ảnh và tên tuổi của mình [4].
Một DN sẽ trở nên danh tiếng bởi chất lượng sản phẩm, tinh thần, thái
độ phục vụ khách hàng v.v... Đặc biệt trong lĩnh vực KD dịch vụ thì điều này
thể hiện rất trực giác, trực diện, khách hàng cảm nhận một cách dễ dàng.
Cung cách giao tiếp, thái độ ứng xử, sự thể hiện các mối quan hệ xã hội – tất
cả đều tạo ra những cảm nhận tiêu cực hay tích cực đối với một thương hiệu
và qua một quá trình trải nghiệm, khách hàng sẽ có ấn tượng tốt hay xấu về
hiệu là một thành phần phi vật thể, nhưng là thành phần thiết yếu của DN.
Thương hiệu xét từ góc độ VH chính là sự tích hợp ở trình độ cao của VHKD.
Như vậy thương hiệu là một quan hệ VH giữa người với sản phẩm, giữa
người sản xuất và người tiêu dùng, hay đó chính là mối quan hệ giữa thương
hiệu với khách hàng. Ý nghĩa thực sự của thương hiệu là sự nâng cao và thăng
hoa không ngừng của chính thương hiệu, hiệu quả và VH trong quá trình cạnh
tranh [7].
*Văn hóa trong định giá sản phẩm
Chính sách giá thường bị ảnh hưởng bởi các thái độ VH đối với sự thay
đổi thông qua “giá tâm lý”. Ở một số nơi, sự thay đổi thường xem là tích cực
nên hàng thời trang mốt được đặt giá rất cao vì nó tượng trưng cho sự thay
đổi. Nhưng ở nơi khác sự thay đổi có thể được xem là không tốt, một mức giá
cao hơn cho sản phẩm mới thường chỉ làm sản phẩm thêm quá đắt cho người
tiêu dùng bình thường.
20