LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hình thành ý tưởng, tìm kiếm tài liệu, khảo sát thực tế cho
tới khi hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt
tình từ lãnh đạo của các Sở, ban ngành, người dân tại xã Lộc Vượng thành phố
Nam Định cũng như gia đình, bạn bè và người thân của tôi, đây là một cơ hội quý
báu giúp tôi áp dụng tất cả lý thuyết mà nhà trường đã trang bị vào thực tiễn công
việc.
Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Lê Thị Hiền Giảng
viên trường Đại học Nội Vụ Hà Nội người đã hướng dẫn cho tôi những bước đầu
tiên trong quá trình hình thành ý tưởng cũng như phương hướng tiếp cận vấn đề.
Cuối cùng, tôi mong muốn được gửi lời cảm ơn của mình tới các thầy cô
giáo trong khoa Văn hóa – Thông tin và xã hội đã dạy bảo tôi trong suốt năm học
qua; cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi có thể
hoàn thành đề tài này.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây chính là bài nghiên cứu của cá nhân tôi, dựa trên tinh
thần nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát thực tế, tham khảo thông tin qua các số liệu thực
tế về khu di tích đền trần để làm bài nghiên cứu này.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN..................................................................................................................................1
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................................................2
MỤC LỤC.......................................................................................................................................3
PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...................................................................................................2
2.3.2.1. Công tác tổ chức, quản lý lễ hội..............................................................................39
2.3.2.2. Du lịch lễ hội đền Trần............................................................................................41
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA
QUẦN THỂ DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN TRẦN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH
NAM ĐỊNH...................................................................................................................................45
3.1. Giải pháp chung. ...........................................................................................................45
3.2. Giải pháp nghiệp vụ. ......................................................................................................47
3.2.1. Giải pháp quản lý khai thác và phát huy các giá trị trong phát triển du lịch. .............47
3.2.2. Quy hoạch và đầu tư du lịch. .....................................................................................50
3.2.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực. ..........................................................................52
3.3. Giải pháp xã hội hóa trong phát triển du lịch.................................................................53
3.4. Kiến nghị ........................................................................................................................53
3.4.1. Kiến nghị đối với UBND tỉnh và Phường Lộc Vượng...............................................54
3.4.2. Kiến nghị đối với Ban quản lý khu di tích.................................................................54
3.4.3. Kiến nghị đối với người dân.......................................................................................54
3.4.4. Kiến nghị đối với khách du lịch.................................................................................54
KẾT LUẬN....................................................................................................................................54
Tài liệu tham khảo.........................................................................................................................57
PHỤ LỤC......................................................................................................................................58
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Di tích lịch sử, các lễ hội gắn với các di tích là hoạt động phản ánh rõ nét
nhất những sinh hoạt văn hoá của một cộng đồng cư dân trong một không gian cụ
thể và là môi trường tốt nhất để lưu giữ những giá trị truyền thống qua các thời đại.
Mỗi vùng quê Việt Nam đều nằm trong dòng chảy văn hoá thống nhất nhưng nó
vẫn mang nét riêng biệt, đặc trưng của con người nơi đó tạo nên một bức tranh văn
đến hiện tượng bán ấn đen ngay trước cổng đền. Và hậu quả để lại sau mỗi buổi lễ
hội là sự ô nhiễm môi trường. Những yếu tố trên đã phần nào làm mất đi nét đẹp
cảnh quan, nét đẹp văn hoá lễ hội truyền thống của con người nơi đây.
Vì vậy nghiên cứu về Đền Trần và lễ hội đền Trần nhằm góp phần giữ gìn
bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của lễ hội vùng này đang bị biến đổi mạnh
mẽ trong đời sống xã hội hiện đại. Đồng thời qua đó phát huy giá trị văn hoá và
thắng cảnh của khu di tích lịch sử này nhằm phục vụ đời sống tinh thần của nhân
dân trong vùng và hoạt động du lịch của địa phương trong sự nghiệp phát triển
kinh tế hiện nay. Chính vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Khu di tích lịch sử văn hóa
và lễ hội đền Trần trong phát triển du lịch của tỉnh Nam Định” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Từ trước tới nay có nhiều nhà nghiên cứu về lễ hội nói chung ở những
góc độ, liều lượng khác nhau. Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lễ hội
truyền thống được công bố như: “Hội hè đình đám” của Toan Ánh(1969), “Lễ hội truyền thống và hiện đại” của Thu Linh và Đặng Văn Lung (1984), “ Lễ hội trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam” GS. Vũ Ngọc Khánh (2004).
Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã nêu khá đầy đủ về nội dung
và hình thức thể hiện của lễ hội truyền thống, đồng thời nó cũng mô tả diễn biến
của các lễ hội trong mối quan hệ trực tiếp với phong tục tín ngưỡng dân gian…
Trên đây là các công trình nghiên cứu liên quan đến lễ hội truyền thống
nhưng chủ yếu là các bài viết này chỉ nói sơ qua về tất cả các phong tục trong lễ
hội chung của Việt Nam chứ chưa đi vào một lễ hội cụ thể.
Viết về thời Trần cho đến nay nổi tiếng nhất vẫn là cuốn “Cuộc kháng chiến
2
chống xâm lược Nguyên Mông” của hai tác giả Đại học Tổng hợp Hà Nội là Hà
Văn Tấn và Phạm Thị Tâm in từ thập niên 60 của thế kỉ XX. Nhưng cuốn sách này
chỉ tập trung vào công cuộc giữ nước của nhà Trần, giúp người đọc hiểu thêm về
nhà Trần.
thống để khảo sát, phân tích.
Phương pháp so sánh: Để thấy cái chung và cái riêng của đối tượng nghiên
cứu.
Phương pháp thống kê: Để có cái nhìn khái quát về đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu.
Phương pháp điền dã: Khảo sát thực tế.
6. Cấu trúc đề tài.
Với những mục đích và lý do kể trên, ngoài phần mở đầu và các phụ lục, đề
tài của tôi bao gồm những phần chính sau:
Chương 1: Tỉnh Nam Định và những ảnh hưởng của triều đại nhà Trần tới
vùng đất Nam Định.
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại quần thể di tích lịch sử văn hóa,
lễ hội đền Trần – Nam Định
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy giá trị của quần thể
di tích và lễ hội đền Trần trong phát triển du lịch của tỉnh Nam Định.
4
CHƯƠNG 1: TỈNH NAM ĐỊNH VÀ QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN TRẦN
NAM ĐỊNH
1.1. Một số khái niệm.
Di tích lịch sử văn hóa.
- Theo Hán Việt tự điển
Di: Sót lại, rơi lại, để lại
Tích: Tàn tích, dấu vết
Di tích: Tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ
- Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Di tích lịch sử văn hóa là tổng thể những
công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn
hóa được lưu lại.
mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Số giờ
nắng trong năm: 1.650 – 1.700 giờ. Độ ẩm tương đối trung bình: 80 – 85%.
Mặt khác, do nằm trong cùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam Định thường
chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm. Thuỷ
triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 –
1,7 m; lớn nhất là 3,31 m và nhỏ nhất là 0,11 m.
Địa hình: Địa hình Nam Định có thể chia thành 3 vùng:
Vùng đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam
Trực, Trực Ninh, Xuân Trường. Đây là vùng có nhiều khả năng thâm canh phát
triển nông nghiệp, công nghiệp dệt, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí và
các ngành nghề truyền thống.
Vùng đồng bằng ven biển: gồm các huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa
Hưng; đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển.
Vùng trung tâm công nghiệp – dịch vụ thành phố Nam Định: có các ngành
công nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến, các ngành nghề
truyền thống, các phố nghề… cùng với các ngành dịch vụ tổng hợp, dịch vụ
chuyên ngành hình thành và phát triển từ lâu. Thành phố Nam Định từng là một
trong những trung tâm công nghiệp dệt của cả nước và trung tâm thương mại - dịch
vụ, cửa ngõ phía Nam của đồng bằng sông Hồng.
Nam Định có bờ biển dài 72 km có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi và
6
đánh bắt hải sản. Ở đây có khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Xuân Thủy (huyện
Giao Thủy) và có 4 cửa sông lớn: cửa Ba Lạt, cửa sông Đáy, cửa Lạch Giang và
cửa Hà Lạn.
1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển.
Theo các công trình nghiên cứu khoa học, miền đất Nam Định hình thành
cách đây khoảng 70 triệu năm do ảnh hưởng tạo sơn thời kỳ Đại Tân Sinh, nâng
ghềnh phía nam sông Hồng cao lên, biển Đông lùi dần và từng bước hình thành
trước đây lại chia tách và tái lập như cũ, đó là: Xuân Trường, Trực Ninh, Giao
Thuỷ, Nam Trực và tái lập huyện Mỹ Lộc (gồm 10 xã). Năm 1997, xã Nam Vân,
Nam Phong được cắt nhập từ huyện Nam Trực về thành phố Nam Định. Như vậy,
đến cuối thế kỷ XX, tỉnh Nam Định có 10 đơn vị hành chính, bao gồm: 1 thành
phố và 9 huyện, 225 xã, phường, thị trấn.
1.2.3 Tiềm năng du lịch.
Tỉnh Nam Định nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội
khoảng 90 km về phía Đông Nam. Nằm trên tuyến đường sắt Bắc Nam, tuyến quốc
lộ 10 nối với cửa khẩu Móng Cái và khu du lịch Hạ Long – Cát Bà; có dải bờ biển
dài 72 km cùng với hệ thống sông Hồng, sông Đáy. Nam Định có điều kiện
giao lưu thuận lợi với các vùng, miền trong nước, các quốc gia trong khu vực.
Thiên nhiên đã dành cho Nam Định sự ưu ái đặc biệt với những cánh đồng
thẳng cánh cò bay, những vườn cây trĩu quả, những dòng sông đỏ nặng phù sa và
những bãi biển trải dài cát mịn.
Từ xưa Nam Định đã được coi là miền đất “Địa linh nhân kiệt”, nơi phát tích
của Vương triều Trần, một triều đại hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến
Việt Nam. Từng là nơi gia tộc nhà Trần chọn làm nơi cư trú, dấy nghiệp với làng
Tức Mặc nổi tiếng là ngôi làng chỉ có một họ Trần, quê hương của các vua Trần,
trên mảnh đất Nam Ðịnh đâu đâu cũng mang đậm dấu ấn văn hóa của triều đại này.
Ngoài quần thể di tích văn hóa nhà Trần tập trung tại khu vực thành phố Nam Ðịnh
và huyện Mỹ Lộc còn có hàng trăm di tích gồm đền, phủ, chùa miếu, lăng với các
kiểu dáng kiến trúc đa dạng có liên quan đến tục thờ Ðức thánh Trần và các vua
quan, hoàng thân quốc thích nhà Trần. Một số di tích tiêu biểu của văn hóa thời
nhà Trần tại Nam Ðịnh có khả năng khai thác, phát huy giá trị phục vụ phát triển
8
du lịch, trước hết phải kể đến Khu di tích lịch sử văn hóa triều Trần trải rộng trên
phạm vi các phường Lộc Vượng, Lộc Hạ (thành phố Nam Ðịnh) và một số xã Mỹ
Thành, Mỹ Phúc, Mỹ Trung của huyện Mỹ Lộc bao gồm 45 di tích gắn với lịch sử
1.3.1 Triều đại nhà Trần với lịch sử Việt Nam
Thời nhà Trần (1226 – 1400) đã đi vào lịch sử Việt Nam với một diện mạo
riêng, một thần thái đặc biệt so với các triều đại khác kể từ Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý
đến Hậu Lê, Mạc và Nguyễn. Các sử gia xưa gọi là hào khí Đông A tức là hào khí
của đời Trần, không những thể hiện trong chiến đấu mà cả trong xây dựng. Những
người anh hùng đời Trần như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhân
Tông, Trần Tung… khi ở nơi chiến trường, họ làm nên những võ công hiển hách.
Lúc giặc tan, trời yên biển lặng, trên văn đàn hay chốn học thuật, họ lại có những
đóng góp lớn lao.
Những năm cuối thế kỷ XII, triều Lý bắt đầu rơi vào suy vong do các vua
đều lên ngôi khi còn nhỏ tuổi và bị chết yểu (Lý Thần Tông thọ 23 tuổi, Lý Anh
Tông thọ 40 tuổi, Lý Cao Tông thọ 38 tuổi, Lý Huệ Tông thọ 33 tuổi)…do đó
quyền hành rơi vào tay ngoại tộc vốn lắm kẻ gian tham, bất tài, hại dân. Vào cuối
thời Lý, các quý tộc quan lại họ Trần nổi lên như một thế lực lớn có công giúp nhà
Lý bình định thiên hạ.
Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạy lên Quy
Hoá, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ. Hoàng tử
Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý. Họ Trần đã
tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của
Phạm Bỉnh Di), đưa vua Lý trở lại kinh đô. Cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung
Từ đã được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ.
Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm
1211, tức là vua Lý Huệ Tông. Ông cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làm
nguyên phi. Lúc này, Tô Trung Từ được phong Thái uý phụ chính.
Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi
việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mông, người chức cao, quyền lớn nhưng không có
học thức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán. Vì thế chính sự
ngày một đổ nát. Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở
10
11
Về việc thi cử, học hành:
Trước kia dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi tam trường để lấy cử
nhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở ra khi nào triều đình cần người tài giỏi ra
giúp nước chứ chưa mở định kỳ. Năm 1232, vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi
Thái học sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm thì có một kỳ thi. Năm 1247,
nhà vua lại cho đặt ra khảo thi tam khôi để lấy trạng nguyên, bảng nhãn và thám
hoa. Lê Văn Hưu là người đầu tiên đậu bảng nhãn. Ngoài Quốc Tử Giám có tại
kinh đô từ đời nhà Lý, nhà Trần cho lập thêm Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư và
Ngũ Kinh. Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng.
• Đại phá quân Mông – Nguyên:
Một trong những chiến công lừng lẫy nhất của vương triều nhà Trần đó là ba
lần đánh thắng quân Mông – Nguyên, thế lực hung hãn nhất lúc bấy giờ vào những
năm 1258, 1285 và 1287.
Mông - Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới. Những nơi người
Mông bại trận lúc đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Indonesia đều có biển cả
ngăn cách và quân Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân nên mới bị thua
trận. Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục Trung Hoa, chung
đường biên giới cả ngàn dặm với người Mông mà người Mông vẫn không đánh
chiếm được. Một đế quốc đã bao trùm cả đại lục Á-Âu mà không lấy nổi một dải
đất bé nhỏ ở phía Nam. Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ địch và vị trí địa
lý với những quốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ đại của chiến
công 3 lần đánh đuổi quân Mông - Nguyên của nhà Trần.
Những võ công oanh liệt của quân và dân Đại Việt chống quân xâm lược
Mông – Nguyên thế kỷ XIII cùng với những công lao của nhà Trần trong việc
thống nhất đất nước, ổn định và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội đã đưa vương
triều Trần lên vị trí là một trong những triều đại có đóng góp lớn nhất đối với sự
phát triển của lịch sử dân tộc và trong công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc.
kè, nền sân, nền gạch, xuất lộ dấu tích kiến trúc mới như dải "hoa chanh", các ô
vuông bát giác dạng "Bồn hoa", các móng trụ... bước đầu nhận diện về kiến trúc
cung Trùng Hoa cổ của các vua Trần. Với hiện trạng nói trên, các di tích vừa được
phát hiện có ý nghĩa khoa học rất lớn. Đó là "khám phá" về một mặt bằng kiến trúc
13
hiếm có niên đại chuẩn của thời Trần (thế kỷ XIII-XIV). Các dấu tích kiến trúc ở
đây có sự tương đồng với kiến trúc Trần ở Thăng Long, bởi vậy thông qua việc
nghiên cứu các di tích này sẽ góp phần xác định niên đại cho nhiều di tích Trần ở
Thăng Long - Hà Nội như Đại La, Lý, Lê thuộc khu vực Cấm Thành. Theo GS.TS
Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội đồng bảo vệ di sản: Những di tích, di vật được phát
hiện qua đợt khai quật có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, là cơ sở khoa học
khẳng định Hành cung Thiên Trường là kinh đô thứ 2 của nhà Trần sau Thăng
Long.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhà Trần đã xây dựng miếu để thờ cúng tổ
tiên từ trước khi Trần Cảnh lên ngôi vua: "Tân Mão năm thứ 7 (1231), tháng 8 mùa
thu, nhà vua ngự đến hành cung Tức Mặc làm lễ hưởng ở Tiên Miếu". Tấm bia
Nam Mặc miếu trách bi ký dựng năm Duy Tân 9 (1915) có đoạn: "Tức Mặc đế
hương dã, Trần Miếu tại yên" (Tức Mặc là quê hương của nhà vua, miếu nhà Trần
ở đấy). Vùng đất Tức Mặc, nơi dấy nghiệp và lập căn cứ địa của 3 lần chống giặc
Nguyên - Mông, theo thuyết phong thuỷ xưa có dạng ngoạ long là thế đất đẹp, phát
về đường đế vương, khanh tướng. Thực tế lịch sử triều đại Trần - đỉnh cao của văn
minh Đại Việt với rất nhiều đức anh quân, văn thần, võ tướng đã minh chứng.
Ngay từ năm 1239, Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều Trần đã cho
xây dựng ở đây nhiều đền đài, cung điện nguy nga, tráng lệ. Sách Đại Việt sử ký
toàn thư ghi rõ: "Đến năm 1262, vào tháng 2, Thượng hoàng ngự đến hành cung
Tức Mặc ban tiệc to. Đổi hương Tức Mặc làm Phủ Thiên Trường, cung gọi là
Trùng Quang. Lại mà cung riêng cho vua đương triều đến chầu ở, gọi là cung
Trùng Hoa... Từ đây về sau các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này". Bao bọc
CHƯƠNG 2: QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA , LỄ HỘI ĐỀN
TRẦN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH.
2.1 Quần thể di tích lịch sử văn hóa đền Trần.
2.1.1 Vị trí và lịch sử phát triển.
Đền Trần thuộc thôn Tức Mặc xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định, cách
trung tâm thành phố 3km. Đây là quê hương của nhà Trần, nơi sinh ra Trần Hưng
Đạo, vị anh hùng dân tộc. Khu di tích rộng tới hàng chục hecta với đền Thiên
Trường, Cố Trạch, Trùng Hoa thờ các vua Trần và Trần Hưng Đạo. Trong chùa có
hàng cây lưu niên, hàng tường bao, cửa vào, sân gạch, hồ sen với 6 con rồng đá
trườn xuống nước như sắp vẫy vùng
Là một khu đền nằm ở ngoại thành Nam Định cách quốc lộ 10 chỉ khoảng
300m tạo điều kiện thuận lợi cho khu di tích về giao thông dễ ràng thu hút du
khách khắp nơi hành hương về đây lễ phật bằng các phương tiện giao thông khác
nhau. Tại đây ngoài là một điểm thu hút du khách về đây thắp hương, cầu khấn.
Đền Trần còn là một di tích có phong cảnh hữu tình, đến đây chúng ta còn có thể
vãn cảnh chùa để quên đi những sầu muộn của cuộc sống. Với điều kiện như vậy
hàng năm đền Trần đã thu hút rất nhiều du khách đến thăm quan mang lại nguồn
thu không nhỏ cho địa phương và cho ngành du lịch của tỉnh.
Trần Miếu, tên cổ của đền Trần - Tức Mặc Nam Định. Nói đến Trần Miếu
tất có người ngỡ ngàng, song dân gian trên địa bàn hiểu ngay đây là đền Trần. Nơi
thờ Tổ tiên dòng tộc Đông - A, các vua Trần, vương phi công chúa triều Trần cùng
Trần triều Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và thân quyến của Đại vương.
Phải chăng từ xa xưa cổ nhân muốn khu thờ tự này có sự khác biệt với các đền
miếu khác nên đặt tên Trần Miếu (Trần tức họ Trần, nhà Trần, Miếu có nghĩa đền
thờ Thánh, Thần lại còn hàm ý chỉ cung điện của các bậc đế vương). Cụ thể hơn là
miếu nhà Trần, nơi thờ tự có liên quan đến cung điện Thái thượng hoàng, phủ đệ
của các vương hầu.
Dân gian cũng phân biệt miếu nhà Trần khác hẳn Văn Miếu thờ Khổng Tử,
(1852), rồi Tự Đức Mậu Thìn (1868) được cải tạo mở mang thêm cũng không còn
nguyên vẹn. Nhưng kiểu dáng kiến trúc, phong cách vẫn giữ dấu ấn văn hoá thời
Nguyễn. Người xưa đánh giá việc hưng công đền thờ vua là quan trọng nên thời
17
gian trùng tu được ghi trên tấm biển lớn hai chữ “Trần Miếu” và hàng chữ nhỏ ghi:
Hoàng triều Tự Đức vạn vạn niên chi lục, tuế tại Quý Sửu lục nguyệt thượng cán,
phụng chỉ xuất khố tiền trùng tu. Mười sáu năm sau Trần Miếu lại tiếp tục sửa
chữa nên trên câu đầu gian giữa toà tiền đường Thượng Miếu ghi: Tự Đức Canh
Ngọ hạ - Mùa hè năm Canh Ngọ niên hiệu vua Tự Đức -1868.
Có lẽ tổng thể quy trình kiến trúc thời kì này chưa hoàn chỉnh, bình diện
chưa đáp ứng yêu cầu tín ngưỡng đối với khách hành hương, cũng như cộng đồng
làng xã, con cháu họ Trần nên dưới triều vua Thành Thái và đầu niên hiệu Duy
Tân ( cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) Thượng miếu được tôn tạo, đồng thời phục
dựng Hạ miếu, làm thêm cổng ngõ, hồ nước mặt tiền, ngũ môn… Khiến tổng thể
khu vực hài hoà đẹp mắt, tạo một bình diện toà ngang dãy dọc ẩn hiện dưới bóng
cây xanh, cây đại thụ trên khoảng đất cao ráo rộng tới tám hecta. Đây lại là đắc địa
bởi có thế ngoạ long, theo thuyết phong thuỷ là rất quý hiếm.
Thượng miếu thờ vua, đế hậu,đế phi cùng các bậc Thuỷ tổ tộc Đông-A.
Hạ miếu thờ Hưng Đạo đại vương cùng thân quyến, tả hữu tướng lĩnh, nhưng trong
tín ngưỡng thì có sự khăng khít. Dân gian về khu Trần miếu trong dịp Xuân - Thu
nhị kì, ngay cả những ngày kỉ niệm các vua ở Thượng miếu đều xuống lễ ở Hạ
miếu và ngược lại.
2.1.2 Hệ thống các công trình.
Đền Trần là một đền thờ tại đường Trần Thừa phường Lộc Vượng thành phố
Nam Định là nơi thờ các vua nhà Trần cùng các quan lại có công phù tá nhà Trần.
Đền Trần được xây dựng trên nền Thái miếu cũ của nhà Trần đã bị quân Minh phá
hủy vào thế kỷ 15.
Đền Trần bao gồm 3 công trình kiến trúc chính là đền Thiên Trường (hay
thần nhà Trần. Có ban thờ riêng cho các quan văn, và ban thờ riêng cho các quan
võ.
Đền Cố Trạch nằm phía Đông của đền Thiên Trường. Nhìn từ sân, là bên
phải đền Thiên Trường. Đền Cố Trạch được xây vào năm 1894. Theo bia Trùng
kiến Hưng Đạo thân vương cố trạch bi kí, thì lúc tu sửa đền Thiên Trường năm 21
đời Tự Đức (năm 1868), người ta đào thấy ở phía Đông đền Thiên Trường một
mảnh bia vỡ có ghi chữ Hưng Đạo thân vương cố trạch (nhà cũ của Hưng Đạo thân
19
vương). Do đó khi xây đền này vào năm 1894 khánh thành vào năm 1895, đền
được đặt tên là Cố Trạch Từ (đền nhà cũ). Đền Hạ là tên thường gọi.
Đền Cố Trạch đặt bài vị của Trần Hưng Đạo, gia đình và gia tướng. Tiền
đường của đền Cố Trạch là nơi đặt bài vị của 3 gia tướng thân tín của Trần Hưng
Đạo, đó là Phạm Ngộ, Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Chế Nghĩa.
Thiêu hương (kinh đàn) là nơi đặt long đình trong có tượng Trần Hưng Đạo
cùng 9 pho tượng Phật. Bên trái đặt bài vị các quan văn. Bên phải đặt bài vị của
các quan võ.
Gian tả vu là nơi đặt bài vị Trương Hán Siêu, Phạm Thiện Nhân và các bài
vị văn thần triều Trần.
Gian hữu vu là nơi đặt bài vị võ thần triều Trần, bài vị Trần Công và các
thân nhân họ Trần.
Tòa trung đường là nơi đặt bài vị và tượng của Trần Hưng Đạo, bài vị của 4
người con trai, của Phạm Ngũ Lão và các tả hữu tướng quân.
Tòa chính tẩm là nơi đặt bài vị của cha và mẹ Trần Hưng Đạo, của Trần
Hưng Đạo và vợ (công chúa Thiên Thành), của 4 người con trai và 4 người con
dâu của Trần Hưng Đạo, của con gái và con rể (Phạm Ngũ Lão).
Đền Trùng Hoa mới được chính quyền tỉnh Nam Định với sự hỗ trợ về kinh
phí của chính phủ xây dựng từ năm 2000. Đền được xây trên nền cung Trùng Hoa
xưa - nơi các đương kim hoàng đế nhà Trần về tham vấn các vị thái thượng hoàng.
ống muống (nhà nhỏ hai bên tiền tế), tả, hữu giải vũ, Ngũ môn (Ngọ môn) với 10
toà lớn nhỏ, được bố cục đăng đối hài hoà đẹp mắt. Bình diện công trình có sân
trong (còn gọi sân rồng) với hàng rồng đá từ trên thềm cao năm cấp nhao xuống,
cùng hàng gạch hoa trên đường chính đạo (gạch phục chế theo mẫu từ thời Trần).
Sân rồng còn có tường bao, đồng trụ, đôi voi lớn đứng chầu hai bên dưới bóng cây
bàng cổ thụ, khiến ngoại thất nơi tẩm miếu thoáng đãng, sáng chiều đều râm mát
gợi cảm. Phía ngoài sân rồng là hồ nước rộng hàng mẫu, xung quanh có vườn cây
cảnh, cây lưu niên, cây cổ thụ toả bóng nghiêng ngả trên hồ, hoà quyện với cột trụ,
tường hoa, mái ngói cùng mây trời như thêu dệt bức tranh thuỷ mặc Trần miếu.
Phía ngoài hồ nước có sân giữa với hàng cây cổ thụ nhiều dáng vẻ, rồi Ngũ môn cổ
21