ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG LỤC BÁU
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƢỚC THẢI SINH HOẠT TẠI KÝ TÚC XÁ
K1 ĐẾN K6 TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học Môi trƣờng
Khoa
: Môi trƣờng
Khoá
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Qua
đó mỗi sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện về kiến thức lý luận, phương pháp
làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nghiên cứu
khoa học.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban giám
hiệu trường ĐH Nông lâm Thái nguyên và Ban chủ nhiệm khoa Môi trường,
em được phân công thực tập tại khoa Môi trường trường ĐH Nông Lâm Thái
Nguyên. Có được kết quả này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô
giáo Hoàng Thị Lan Anh cùng toàn thể các thầy cô giáo đã trực tiếp hướng
dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình làm báo
cáo đề tài tốt nghiệp.
Dù đã rất cố gắng, song luận văn vẫn không thể tránh khỏi được những
thiếu sót và hạn chế. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của
các thầy cô và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn.
Thái nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Hoàng Lục Báu
ii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Lưu lượng dòng chảy của một số dòng sông lớn..........................................15
Bảng 2.2: Diện tích được tưới của thế giới .....................................................................16
Bảng 3.1: Từng chỉ tiêu và phương pháp phân tích .......................................................25
Bảng 4.1: Bảng kết quả điều tra số lượng sinh viên sinh hoạt tại KTX K trường ĐH
Nông lâm Thái Nguyên ....................................................................................26
Bảng 4.2: Tổng lượng nước tiêu thụ và nước thải sinh hoạt cụ thể tại ký túc xá K1 –
STT
Nghĩa
1
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
2
NĐCP
Nghị định Chính phủ
3
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
4
NCKH
Nghiên cứu khoa học
5
BKHCNMT
Bộ khoa học công nghệ môi trường.
11
QH
Quốc hội
12
KTX
Ký túc xá
13
KLN
Kim loại nặng
14
ĐH
Đại học
15
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH SÁCH CÁC BẢNG .............................................................................. ii
DANH SÁCH CÁC HÌNH .............................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu................................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
2.1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................... 3
2.1.2. Một số khái niệm chung về môi trường nước thải .................................. 6
2.1.3. Ô nhiễm và phân loại ô nhiễm ................................................................ 9
2.1.4 . Định nghĩa, phân loại và nước thải ...................................................... 10
2.2. Cơ sở pháp lý ........................................................................................... 13
2.3. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 14
2.3.1. Tổng quan về tài nguyên nước trên Thế giới. ....................................... 15
2.3.2. Tổng quan về tài nguyên nước ở Việt Nam .......................................... 17
2.3.3. Tổng quan về tài nguyên nước tỉnh Thái Nguyên ................................ 19
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 21
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................... 21
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 21
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 21
TÀI LIỆUTHAM KHẢO ............................................................................. 41
PHỤ LỤC
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu và đảm bảo
cho sự sống trên trái đất, các hoạt động sống của con người gắn liền với nhu
cầu sử dụng nước đặc biệt là các hoạt động sinh hoạt. Ô nhiễm nước thải sinh
hoạt đang tác động tiêu cực, đe dọa đến chất lượng sống ở toàn bộ các khu đô
thị Việt Nam, quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở nước ta gây sức ép lên môi
trường, đặc biệt là tại các khu chung cư và các thành phố lớn lượng nước thải
sinh hoạt được thải ra mỗi ngày là vô cùng lớn, người dân sinh sống và làm
việc tại đây đang phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh do tiếp xúc với môi
trường nước đang ngày một ô nhiễm.
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên là một trong những trường lớn
với số lượng sinh viên vào khoảng 4000 người đang sống và sinh hoạt tại
KTX của trường. Trong đó có khu KTX K vừa mới được xây dựng, bao gồm
6K (K1 – K6), Phần lớn sinh viên đang học và sinh hoạt tại 6 dãy KTX K lên
đến khoảng 1700 sinh viên vậy nên nhu cầu về nước sinh hoạt là rất lớn kéo
theo đó là một khối lượng lớn nước thải sinh hoạt thải ra ngoài môi trường
gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nước và gây mất cân bằng sinh
thái đồng thời cũng gây mất mĩ quan trong khuôn viên của trường ngoài ra
ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người sinh sống và làm việc trong trường.
Xuất phát từ thực tiễn trên được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà
trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường và sự hướng dẫn của Th.s Hoàng Thị
Lan Anh tôi tiến hành thực hiện đề tài“Đánh giá hiện trạng nước thải sinh
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở lý luận
Hiện nay ở trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang trên đà phát triển. Dân số tăng lên nhanh
chóng đặc biệt là các khu đô thị, nơi tập chung đông dân cư, kéo theo đó
nhiều vấn đề cần lo ngại trong đó có nước thải sinh hoạt, với dân số đông
lượng nước thải sinh hoạt thải ra ngoài môi trường tăng mà đa phần là chưa
qua xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường nên gây ảnh hưởng lớn tới sức
khỏe con người và làm ảnh hưởng xấu tới cảnh quan môi trường.
Cùng với sự phát triển của nền giáo dục, số lượng các trường ĐH, CĐ,
Trung cấp và các trung tâm dạy nghề ngày càng tăng. Chính vì vậy các khu
nhà tập thể, nhà trọ, khu KTX sinh viên được xây dựng ngày càng nhiều
nhằm đáp ứng nhu cầu tạm trú của sinh viên, do đó lượng nước thải sinh hoạt
của các khu tập thể, khu KTX ngày càng lớn.
Các thành phần gây ô nhiễm đặc trưng của nước thải sinh hoạt thường
thấy là BOD5, COD, N, P ,colifom. Trong nước thải nguồn Nitơ và Photpho
rất lớn nếu không loại bỏ thì làm cho nguồn tiếp nhận nước thải bị phú dưỡng
– một hiện tượng thường xảy ra ở nguồn nước có hàm lượng Nitơ và photpho
cao, trong đó các loài thực vật thủy sinh phát triển mạnh rồi chết đi, thối rữa,
làm cho nguồn nước trở nên ô nhiễm tạo điều kiện cho các loại dịch bệnh phát
sinh và phát triển.
Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt đó là các
vi sinh vật gây bệnh, chúng có khả năng lây lan nhanh qua nhiều nguồn khác
nhau, qua tiếp xúc trực tiếp, qua môi trường (đất, nước, không khí, cây trồng,
4
một khối lượng nước nhất định, thường được biểu thị bằng hàm số mg/l hoặc
ppm (phần ngìn). TDS thường được lấy làm cơ sở ban đầu để xác định mức
độ sạch/ tinh khiết của nguồn nước.
+TSS (turbidity & suspendid solids): là tổng rắn lơ lửng. Thường đo
bằng máy đo độ đục (turbidimeter). Độ đục gây ra bởi hiện tượng tương tác
giữa ánh sáng và các chất lơ lửng trong nước như cát, sét, tảo và những vi
sinh vật và chất hữu cơ có trong nước. Các chất rắn lơ lửng phân tán ánh sáng
hoặc hấp thụ chúng và phát xạ trở lại với cách thức tùy thuộc vào kích thước,
hình dạng và thành phần của các hạt lơ lửng và vì thế cho phép các thiết bị đo
độ đục ứng dụng để phản ánh sự thay đổi về loại, kích thước và nồng độ của
các hạt có trong mẫu....
- Các chỉ tiêu hóa học, ví dụ như:
+ DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các
sinh vật nước (cá, lưỡng thể, thuỷ sinh, côn trùng, vvv...) thường được tạo ra
do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo. Nồng độ oxy tự do
trong nước nằm trong khoảng 8 - 10 ppm, và dao động mạnh phụ thuộc vào
nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo, vvv... Khi nồng độ DO
thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị chết. Do vậy, DO là một
chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực.
+ BOD (Biochemical oxygen Demand- nhu cầu oxy sinh hoá) là lượng
oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hoá các chất hữu cơ.
Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hoá sinh học xảy ra thì các vi
sinh vật sử dụng oxy hoà tan, vì vậy xác định tổng lượng oxy hoà tan cần thiết
cho quá trình phân huỷ sinh học là phép đo quan trọng đánh giá ảnh hưởng
của một dòng thải đối với nguồn nước. BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các
chất thải hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi sinh vật.
6
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014, môi
trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất
tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người
và sinh vật”.
- Khái niệm về ô nhiễm môi trường:
Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014: “Ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh
hưởng xấu đến con người và sinh vật”.
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại,
gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay sự phát
triển của con người và sinh vật trong môi trường đó. Chất gây ô nhiễm có thể là
chất rắn (như rác) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải của dệt
nhuộm, rượu, chế biến thực phẩm), hoặc chất khí (SO2 trong núi lửa phun, NO2
trong khói xe, CO từ khói đun …), các kim loại nặng như chì, đồng … cũng có
khi nó vừa ở thể hơi vừa ở thể rắn như thăng hoa hay ở dạng trung gian.
Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần
môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên.
- Khái niệm ô nhiễm môi trường nước: Ô nhiễm môi trường nước là sự
biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn
nước và gây nguy hiểm cho con người, cho động vật nuôi và các loài hoang
dã, ảnh hưởng tới sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá…..
Như vậy, sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính
chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người
và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một
ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số
bệnh cho người.
2.1.3 Ô nhiễm và phân loại ô nhiễm
Dựa vào tính chất ô nhiễm có thể phân loại ô nhiễm nước thải sinh hoạt
như sau:
- Ô nhiễm sinh học của nước: Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là
do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được: sự thải sinh hoạt hoặc kỹ
nghệ có chứa chất cặn bã sinh hoạt, phân tiêu, nước rửa của các nhà máy
đường, giấy, lò sát sinh...
Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng,
đặt thành vấn đề lớn cho vệ sinh công cộng chủ yếu các nước đang phát
triển. Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều
quốc gia chưa kể đến các trận dịch tả. Các sự nhiễm bệnh được tăng cường do
ô nhiễm sinh học nguồn nước. Ví dụ: thương hàn, viêm ruột siêu khuẩn.
- Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm
tăng lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là
gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi khuẩn và
các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên
thấu của ánh sáng.
- Ô nhiễm hóa học do các chất hữu cơ tổng hợp: chủ yếu do các hợp
chất dầu mỡ, bột giặt, xà bông …
Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950. Chúng là các chất hữu cơ có
cực (polar) và không có cực (non-polar). Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic
và non-ionic. Bột giặt anionic được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS
(tetrazopylène benzen sulfonate), không bị phân hủy sinh học.
Xà bông là tên gọi chung của muối kim loại với acid béo. Ngoài các xà
bông Natri và Kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còn các
xà bông không tan thì chứa calci, sắt, nhôm...sử dụng trong kỹ thuật (các chất
bôi trơn, sơn, verni).
11
loại mầm bệnh được lây truyền bởi các vi sinh vật có trong phân. Vi sinh vật
gây bệnh cho người bao gồm các nhóm chính là virus, vi khuẩn, nguyên sinh
bào và giun sán. Lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư phụ thuộc vào số
dân, vào các tiêu chuẩn cấp nước và đặc điểm của hệ thống thoát nước.
Thành phần của hệ thống nước thải sinh hoạt bao gồm 2 loại:
- Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh
- Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt chữa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học,
ngoài ra còn có các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất
nguy hiểm. Chất hữu cơ chứa trong nước thải sinh hoạt bao gồm các chất như:
protein (40-50%), hydratcacbon (40-50%), chất béo (5-10%), nồng độ chất
hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150-450mg/l. Lượng
nước thải sinh hoạt dao động trong phạm vi rất lớn, tùy thuộc vào mức sống
và các thói quen của người dân, có thể tính bằng 80% lượng nước được cấp.
Ở những khu dân cư đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém, nước thải sinh
hoạt không được xử lý thích đáng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng.
Nƣớc thải công nghiệp
Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản
xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản
xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt
của công nhân viên.
Nước thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần cũng như
lượng phát thải và phụ thuộc vàonhiều yếu tố: loại hình công nghiệp, loại hình
công nghệ sử dụng, tính hiện đại của côngnghệ, tuổi thọ của thiết bị, trình độ
quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ công nhân viên.Cơ sở để nhận biết và phân
loại như sau: Nước thải được sản sinh từ nước không được dùng trực tiếp
hiện. Về mặt kinh tế, nếu thực hiện tốt 2 khâu này sẽ giúp doanh nghiệp giảm
đáng kể chi phí sản xuất, chi phí xử lý nước thải.
13
Trong nước thải sản suất công nghiệp lại được chia ra làm 2 loại:
- Nước thải sản xuất bẩn, là nước thải sinh ra từ quá trình sản xuất sản
phẩm, xúc rửa máy móc thiết bị, từ quá trình sinh hoạt của công nhân viên,
loại nước này chưa nhiều tạp chất, chất độc hại, vi khuẩn, ...
- Nước thải sản xuất không bẩn là loại nước sinh ra chủ yếu khi làm
nguội thiết bị, giải nhiệt trong các trạm làm lạnh, ngưng tụ hơi nước cho nên
loại nước thải này thường được quy ước là nước sạch.
Nƣớc thải là nƣớc mƣa
Đây là loại nước thải sau khi nước mưa chảy tràn trên mặt đất và lôi
kéo theo các chất cặn bã, hóa chất BVTV, dẫu mỡ … đi vào hệ thống
thoát nước.
Hầu hết các khu đô thị, thành phố của nước ta đều có hệ thống thoát
nước thải và nước mưa. Lượng nước được chảy về nhà máy gồm nước thải sinh
hoạt, nước thải công nghiệp, nước ngầm thâm nhập và một phần nước mưa.
2.2. Cơ sở pháp lý
-Luật Bảo vệ môi trường của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 (Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015).
- Luật Tài ng n nước của Quốc Hội số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6
năm 2012.
- Các nghị định, thông tư, quyết định, chị thị và văn bản của Chính phủ,
cơ quan TW, địa phương liên quan đến công tác bảo vệ môi trường, tài
nguyên nước:
+ Nghị đinh 80/2006/NĐ-CP ban hành ngày 09/08/2006 của Chính phủ
cân xứng, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải tại Việt Nam vô cùng thô sơ.
Vì hệ thống cỗng rãnh thoát nước còn trong tình trạng thô sơ, không hợp lý
cũng như không theo kịp đà phát triển dân số tại các thành phố lớn nên việc
giải quyết và xử lý nước thải này hầu như không thực hiện được. Nước thải
sau khi qua mạng lưới cống rãnh được chảy thẳng vào song, rạch và sau cùng
đổ ra biển mà không qua giai đoạn xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận
15
nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Có thể nói người Việt Nam
đang làm ô nhiễm nguồn nước uống bằng chính nguồn nước sinh hoạt thải
ra hàng ngày.
2.3.1 Tổng quan về tài nguyên nước trên Thế giới.
Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước
trên Trái Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³. Trong đó 97,4% là nước mặn trong
các đại dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu
dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước
trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống.
Khối lượng nước đóng băng ở các cực của trái đất chiếm tỷ lệ lớn
(99%), nhưng lượng nước này rất khó khai thác cho nên lượng nước hàng
ngày chúng ta sử dụng chủ yếu được lấy từ các sông, suối ao, hồ …
Nước sông luôn vận động và tuần hoàn, nên nhanh chóng được phục
hồi. Nhờ vậy tuy thể tích chứa của các song ước tính bằng 1.200 km3 nhưng
lưu lượng dòng chảy song phong phú hơn nhiều, tăng gấp 34.6 lần, tức là từ
1.200km3 lên 41.520 km3. Điều đó đã làm tăng khả năng khai thác đáng kể
trên các dòng sông.
Bảng 2.1: Lƣu lƣợng dòng chảy của một số dòng sông lớn
TT
Cônggô
1.350
43.000
3.670
3
Hằng
1.200
38.000
2.000
4
Dương Tử
693
22.000
1.940
5
Nhu cầu sử dụng nước ở các quốc gia khác nhau cũng khác nhau. Tính
theo đầu người cho một năm thì nhu cầu này ở các nước đang phát triển là
100 m3 trong khi ở Mĩ là 1500m3, điêu đó nói lên rằng cùng với sự phát triển
của xã hội thì nhu cầu sử dụng nước của con người không ngừng tăng lên.
Theo điều tra của Ủy ban kinh tế châu Âu – năm 1966 ở 20 nước tỷ trọng
sử dụng nước trong các ngành là: Nước cho sinh hoạt và đô thị chiếm 14%, nước
dung trong nông nghiệp là 38%, nước dung trong công nghiệp là 48%.
Bảng 2.2: Diện tích đƣợc tƣới của thế giới
Năm
Diện tích được tưới(100 ha)
Khu vực
2000
2003
2005
Châu phi
9.125
10.319
11.058
Bắc mỹ và Trung mỹ
Oceania(Australia)
Liên Xô Cũ
1.636
11.991
1.864
18.608
2.105
20.485
Tổng cộng
176.390
216.132
227.108
(Nguồn: Dư Ngọc Thành, Bài giảng Quản lý tài nguyên nước,2010)[3]
17
Những khó khăn của hầu hết các nước về vấn đề nước: Đó là vấn đề ô
nhiễm công nghiệp và xử lý nguồn nước. Những thành phố công nghiệp lớn
của các nước hầu như được xây dựng ở nhưng nơi có sông chảy qua. Sông
Huson chảy qua Newyork, sông Themes chảy qua London, sông Seine chảy
qua Paris, … Do chất thải công nghiệp không được xử lý nghiêm ngặt ngay từ