Đánh giá hiện trạng nước thải làng nghề giết mổ trâu, bò phúc lâm bắc giang và đề xuất các biện pháp xử lý nước thải - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian hoc tập và rèn luyện tại Trường Đại học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội em đã được sự dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của các
thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi trường, cũng như các thầy cô giáo trong
Ban Giám hiệu Nhà trường, các Phòng ban và Phòng đào tạo điều đó giúp em
tiếp thu và tích lũy kiến thức và phục vụ cho cuộc sống.
Đây là một khoảng thời gian rất quý báu, bổ ích và có ý nghĩa vô
cùng lớn đối với bản thân em. Tại nơi đây em đã được trang bị một lượng
kiến thức về chuyên môn , nghiệp vụ và một lượng kiến thức về phường hội
để sau này khi ra trường em không còn phải bỡ ngỡ và có thể đóng góp một
phần sức lực nhỏ bé của mình để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và trở thành người có ích cho phường hội.
Để hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự phấn đấu và lỗ lực
của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và rất tâm huyết của các
thầy giáo, thầy giáo trong Khoa Môi trường, đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ đạo
tận tình của thầy giáo Mai Quang Tuấn. Đồng thời về thực tập tại công ty
trung tâm môi trường và khoáng sản – chi nhánh Công ty CP Đầu tư CM ,em
đã nhận được sự quan tâm hướng dẫn giúp đỡ của các anh chị , đặc biệt là của
anh Nguyễn Văn Tản .
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn vô hạn, em xin được bày tỏ
lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa, trong Ban giám hiệu nhà
trường, em xin cảm ơn .
Cuối cùng em xin gửi lời kính chúc sức khỏe đến tất cả mọi người.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên

Trần Trung Nghĩa



- Đánh giá hiện trạng nước thải giết mổ trâu bò của làng nghề giết mổ trâu,
bò Phúc Lâm Bắc Giang.
- Đề xuất hệ thống xử lý nước thải giết mổ gia súc cho làng nghề giết mổ
trâu, bò Phúc Lâm Bắc Giang.

5


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Phúc Lâm (thuộc xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nằm cận
kề với quốc lộ 1A cũ cách Hà Nội 50 km về phía Bắc, xung quanh làng có hệ thống
ao hồ, kênh mương chứa nước.Hai ao lớn có diện tích hàng nghìn mét vuông, trước
kia có thể nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu nước cho đồng ruộng xung quanh. Hiện tại
nước tù đọng đen ngòm, ruồi muỗi sinh sản, rất dễ trở thành nguồn gây bệnh. Hàng
loạt ao chứa nước bao quanh làng Phúc Lâm cạn khô vì chất thải giết mổ qua
mương thoát nước dẫn về, lâu ngày làm lòng ao hồ đầy lên mà không ai dám đặt
chân xuống để nạo vét. Những ao, hồ còn lại đang đứng trước nguy cơ tương tự.
Làng được chia thành bốn xóm: xóm Si, xóm Gạo, xóm Làng, xóm Đông, xóm Trại
và hai phố: phốCũ, phố Mới gần đường quốc lộ 1A cũ nhất.
Phúc Lâm là một làng đồng bằng, nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Giang.
Khí hậu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc. Một năm
có bốn mùa rõ rệt. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hòa.
Nhiệt độ trung bình 22 – 23oC, độ ẩm dao động lớn từ 73 - 87%. Lượng mưa hàng
năm đủ đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống. Nắng trung bình hàng năm
từ 1.500 - 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới.
Tài nguyên khoáng sản chủ yếu là đất sét sử dụng làm gạch ngói.
Lượng mưa trung bình năm từ 1400 – 1600 mm.
Diện tích của làng 100 ha (trong đó 15 ha là ao, hồ).

phát sinh ô nhiễm môi trường của làng nghề giết mổ trâu, bò như sau:

Bảng 1.1: Các hoạt động phát sinh ô nhiễm môi trường từ l
àng nghề giết mổ trâu, bò
TT
1
2

3
4
5
6

T Các hoạt động phát sinh
Các loại chất thải
chất thải
1
Nước thải, phân, cám,
Nơi nuôi nhốt tập trung
mùi hôi thối, tiếng
kêu của trâu, bò
2 Công đoạn giết mổ (cắt
Nước thải, phân, cám,
tiết, nhúng nước sôi, làm
mùi hôi thối, tiếng
lông, mổ, làm sạch nội
kêu của trâu, bò
tạng…)
3 Khu vực lò hơi hoặc khu
Bụi, nhiệt, khí xỉ than

Hầu hết gia súc cung cấp cho làng nghề giết mổ đều được chuyên chở từ các
vùng chăn nuôi lân cận hoặc từ các tỉnh khác đến. Do đó các làng giết mổ đều có
những khu nhốt gia súc tập trung chờ giết mổ, các khu vực này đã tạo ra một lượng
8


lớn chất thải rắn (phân, cám thừa) gây ra mùi hôi thối làm ô nhiễm môi trường
không khí, ảnh hưởng tới sức khỏe con người xung quanh lò mổ.
Ngoài ra còn có các chất thải rắn trong quá trình giết mổ ở công đoạn làm
lông và làm nội tạng, xẻ thịt tuy nhiên lượng chất thải rắn ở công đoạn này thường
không lớn, vì chỉ có một phần là các nội tạng thừa, xương vụn trong quá trình giết
mổ được thải vào môi trường cùng với nước thải và một phần chất thải rắn sinh hoạt
do các công nhân làm tại làng giết mổ thải ra.

1.2.2. Khí thải, bụi
Phát sinh từ các phương tiện giao thông chuyên chở trâu, bò và nuôi nhốt
chờ giết mổ, mùi hôi của trâu, bò khi sống và mùi thối từ các chất thải đang bị phân
hủy, khí than, bụi từ các bếp lò nấu nước để làm lông động vật. Các khí thải từ lò
giết mổ chủ yếu là NOx, CO2, CO, SO2, bụi, CxHy...

1.2.3. Chất thải lỏng
1.2.3.1. Nguồn gốc
a. Nước thải sản xuất: chất thải lỏng chủ yếu là nước thải, nước thải sản xuất
phát sinh chủ yếu từ khâu làm vệ sinh trước và sau khi giết mổ, vệ sinh thiết bị lò
mổ, làm nội tạng. Dòng thải này có hàm lượng chất hưu cơ cao nhưng dễ phân hủy
sinh học. Quá trình trao đổi chất của vi sinh vật đã tạo ra các khí như NH 3, H2S, các
hợp chất amin…gây ra mùi hôi thối. Nước thải sản xuất tại các lò giết mổ gia súc
không được xử lý ứ đọng gây ô nhiễm môi trường nước bề mặt, nước ngầm và hiện
tượng phú dưỡng nguồn nước.
b. Nước thải sinh hoạt: phát sinh từ khâu vệ sinh của công nhân tại làng

bằng phương pháp sinh học ở nồng độ nhất định [8].

1.3. Các phương pháp xử lý nước lò mổ
Các loại nước thải đều chứa các tạp chất gây ô nhiễm có tính chất rất khác
nhau: từ các loại chất rắn không tan, đến các loại chất rắn khó tan và những hợp
chất tan trong nước. Xử lý nước thải là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch lại nước và
có thể đưa nước đó vào nguồn hoặc tái sử dụng. Để đạt được những mục đích đó
chúng ta thường dựa vào đặc điểm của từng loại nước thải để lựa chọn phương pháp
sử lý thích hợp. Thông thường có các loại phương pháp sử lý sau: xử lý nước thải
bằng phương pháp cơ học, xử lý nước thải bằng phương pháp hóa – lí và xử lý nước
thải bằng phương pháp sinh học [2,6]. Như đã phân tích ở trên nước thải giết mổ rất
phù hợp để đưa vào xử lý sinh học.
Phương pháp sinh học là quá trình biến đổi các chất bẩn hữu cơ có trong
nước thải ở dạng hòa tan, keo và phân tán nhỏ nhờ các quá trình sinh hóa dựa vào
sự hoạt động của vi sinh vật có khả năng tiêu thụ các chất bẩn hữu cơ trong nước
thải. Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học dựa trên hoạt động của vi sinh vật,
chủ yếu là vi khuẩn dị dưỡng hoại sinh có trong nước thải. Quá trình hoạt động của
chúng cho kết quả là các chất hữu cơ gây nhiễm bẩn được phân hủy thành các chất
10


đơn giản hơn. Mức độ phân hủy và thời gian phân hủy phụ thuộc trước hết vào cấu
tạo các chất hữu cơ, độ tan trong nước và hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng khác. Vi
sinh vật có trong nước thải sử dụng các hợp chất hữu cơ và một số chất khoáng làm
nguồn dinh dưỡng và tạo ra năng lượng. Quá trình dinh dưỡng làm cho chúng sinh
sản, phát triển tăng số lượng tế bào (tăng sinh khối), đồng thời làm sạch (có thể là
gần hoàn toàn) các chất hữu cơ hòa tan hoặc các hạt keo phân tán nhỏ. Do vậy,
trong xử lý sinh học, người ta phải loại bỏ các tạp chất phân tán thô ra khỏi nước
thải trong giai đoạn xử lý sơ bộ [6].
Nói chung xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học thường bao gồm các

Các chất hữu cơ (tan và không tan trong nước)→ các axit hữu cơ, axit béo,
rượu → CH4 + CO2 + N2 + H2…
Tùy thuộc vào tính chất hoạt động của các vi sinh vật có trong nước thải mà
người ta có phương pháp phân hủy kị khí với sinh trưởng lơ lửng thường sử dụng
để xử lý nước thải có độ ô nhiễm cao và sinh trưởng bám dính thường được sử dụng
để xử lý nước thải có độ ô nhiễm thấp. Với hàm lượng các hợp chất hữu cơ
(COD≥2000mg/l) có trong nước thải giết mổ gia súc cao nên sử dụng phương pháp
kỵ khí sinh trưởng lơ lửng [2,6].
* Phương pháp kỵ khí với sinh trưởng lơ lửng
Xử lý nước thải bằng phương pháp kỵ với khí sinh trưởng lơ lửng được
dùng phổ biến nhất, đó là quá trình phân hủy kỵ khí xáo trộn hoàn toàn trong điều
kiện không có không khí, thường thì thời gian lên men trong khoảng 15 ngày hoặc
ít hơn, phương pháp kỵ khí sinh trưởng lơ lửng là một trong những quy trình xử lý
bùn cặn lâu đời nhất, có hai phương pháp kỵ khí với sinh trưởng lơ lửng là phương
pháp tiếp xúc kỵ khí và phương pháp xử lý nước thải ở lớp bùn kỵ khí với dòng
hướng lên (UASB), hai phương pháp này thường được sử dụng nhiều để xử lý nước
thải có hàm lượng COD và BOD cao như giết mổ gia súc, chế biến sữa, thủy hải
sản, bia…thông thường sau kỵ khí người ta sẽ đưa vào xửlý hiếu khí tiếp vì xử lý
kỵ khí không xử lý hết được BOD, NH4 [6].
-

Bể tiếp xúc kị khí

Bể tiếp xúc kỵ khí là bể lên men có thiết bị trộn và có một bể lắng riêng biệt
giữa hai bể này đặt một máy bơm bùn tuần hoàn.

12


Hình 1.2: Bể tiếp xúc kị khí

CxHyOzNt + O2 + NH3

+ emzyme
tế bào vi sinh vật
+
+ H2O + C5H7NO2 + năng lượng

CO 2

Đây là phương trình tóm tắt quá trình sinh tổng hợp tạo thành tế bào vi sinh
vật.
3. Tự phân hủy
C5H7NO2 + 5O2

enzyme

5CO2+ 2 H2O + NH3 + năng lượng

Xử lý nước thải bằng phương pháp hiếu khí nhân tạo được chia thành 2 loại:
loại xử lý nước thải dựa trên sinh trưởng lơ lửng của vi sinh vật và xử lý nước thải
dựa trên sinh trưởng bám dính của vi sinh vật. Trong xử lý hiếu khí sử dụng vi
khuẩn sinh trưởng lơ lửng có bểaeroten, mương oxi hóa…còn trong xử lý hiếu khí
sử dụng vi khuẩn sinh trưởng bám dính thì có lọc sinh học [6].

1.3.2.1. Xử lý hiếu khí sử dụng vi khuẩn sinh trưởng lơ lửng
Xử lý hiếu khí sử dụng vi khuẩn sinh trưởng lơ lửng có các loại bể Aeroten,
mương oxi hóa…Trong khóa luận này chúng tôi chỉ giới thiệu về bể aeroten là loại
bể hiện đang được sử dụng nhiều ở Việt Nam để xử lý nước thải giàu hợp chất hữu
cơ như nước thải giết mổ gia súc.
Bể phản ứng hiếu khí – Bể aeroten

Giai đoạn thứ ba: sau một thời gian khá dài tốc độ oxi hóa cầm chừng và có chiều
hướng giảm, lại thấy tốc độ tiêu thụ oxi tăng lên,đây là giai đoạn nitrat hóa các
muối amon, sau cùng nhu cầu oxi lại giảm và cần phải kết thúc quá trình làm việc
của bể aeroten. Ở đây cần lưu ý rằng, sau khi oxi hóa được 80% - 95% BOD trong
nước thải, nếu không khuấy đảo hoặc thổi khí, bùn hoạt tính sẽ lắng xuống đáy, cần
phải lấy bùn cặn ra khỏi nước. Nếu không kịp thời tách bùn, nước sẽ bị ô nhiễm thứ
cấp, nghĩa là sinh khối trong bùn sẽ bị tự phân hủy, ngoài ra tế bào vi khuẩn có hàm
lượng protein rất cao, chất béo khi bị tự phân sẽ làm ô nhiễm nguồn nước [2,6].
+ Phân loại bể aeroten
Có rất nhiều cách để phân loại bể aeroten [6].
- Phân loại theo chế độ thủy động: aeroten đẩy, aeroten khuấy trộn
- Phân loại theo chế độ làm việc của bùn hoạt tính: aeroten có ngăn hoặc bể
tái sinh bùn hoạt tính tách riêng và loại không có ngăn tái sinh bùn hoạt tính tách
riêng.
- Phân loại theo tải trọng BOD trên 1 gam bùn trong một ngày: aeroten tải
trong cao, aeroten tải trọng trung bình và aeroten tải trọng thấp.
- Phân loại theo số bậc cấu tạo trong aeroten (xây aeroten có nhiều ngăn hoặc
hành lang) ta có: các aeroten 1 bậc, 2 bậc, 3 bậc…

1.3.2.2. Xử lý hiếu khí sử dụng vi khuẩn sinh trưởng bám dính - Lọc sinh học
Phương pháp lọc sinh học dựa trên quá trình hoạt động của vi sinh vật ở
màng sinh học, oxi hóa các chất bẩn hữu cơ có trong nước. Các màng sinh học, là
tập thể các vi sinh vật (chủ yếu là vi khuẩn) hiếu khí, kị khí và kị khí tùy tiện. Các
vi khuẩn hiếu khí được tập trung phần lớn ở ngoài cùng màng sinh học. Ở đây
chúng phát triển và gắn với giá mang là các vật liệu lọc (được gọi là sinh trưởng gắn
kết hay sinh trưởng dính bám). Trong quá trình làm việc, các vật liệu lọc tiếp xúc
với nước chảy từ trên xuống, sau đó nước thải đã làm sạch thu gom xả vào lắng 2.
Nước vào lắng 2 có thể kéo theo những mảnh vỡ của màng sinh học bị tróc ra khi
15


1.3.4. Phương pháp thủy sinh
Thực vật nước có vai trò quan trọng trong xử lý ô nhiễm nước thải. Trong
khi vi sinh vật tham gia trực tiếp vào quá trình phân hủy chất hữu cơ và tạo ra các
16


chất vô cơ (N,P, các chất khoáng khác…) cho thực vật sử dụng. Nhiều loại thực vật
nước có thể cung cấp oxi để tăng cường quá trình phân hủy hiếu khí các chất hữu
cơ. Để tăng trưởng, thực vật nước hấp thụ tích cực và đồng hóa các chất vô cơ dạng
NO3-, NH4+, PO43+…Đây chính là một trong những cơ chế quan trọng khi sử dụng
thực vật thủy sinh để làm sạch nước thải[1].
Cần nói thêm là bên cạnh các phương pháp hóa – lí và phương pháp sinh học
sử dụng vi sinh vật để xử lý nước thải, thực vật thủy sinh hiện nay đang là đối tượng
được các nhà nghiên cứu quan tâm do nó có những ưu điểm sau [1]:





Sử dụng thực vật thủy sinh là phương pháp thân thiện với môi trường.
Tăng trưởng nhanh nên hấp thụ các chất khoáng nhanh.
Giá thành sử dụng thấp.
Sinh khối sau xử lý có thể tận dụng cho chăn nuôi, sản xuất khí metan, làm
phân bón.

Thực vật thủy sinh là những loại thực vật sinh trưởng tốt trong môi trường
nước. Chúng được phân ra thành các loại: sống ngập hoàn toàn trong nước hoặc rễ
thân trong nước nhưng lá và hoa lại ở trong không khí ở trên mặt nước. Những loại
có lá trên mặt nước thì lấy CO 2 từ không khí lại được phân ra thành nhóm những
loại có rễ bám chặt trong đất và những loài nổi trên mặt nước. Ngoài hấp thụ CO 2

( mg/l )

COD
( mg/l )

0

40,0

20,6

0,1

3,6

60,0

3

71,2

18,7

0,2

3,1

46,6

5

NO3( mg/l)

Photpho tổng COD
( mg/l)
(mg/l)

0

200

88,0

0,3

3,1

183

3
5
7
9
14

282,7

52,0
39,5
27,9
2,1

khác nhau. Bèo tấm sinh trưởng tốt ở vùng có nồng độ amoni là 150mg/l, trong khi
rau muống sinh trưởng phát triển tốt ở khoảng nồng độ 50 – 350mg/l.
- Hiệu quả xử lý amoni và COD của bèo tấm lớn hơn rau muống do tốc độ
tăng trưởng sinh khối lớn hơn.
Có thể nói thực vật thủy sinh có khả năng xử lý nước thải ở những nồng độ
thích hợp. Vì vậy việc nghiên cứu đưa ra các hệ thực vật thủy sinh để xử lý nước
thải đang được các nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt với những nước thải giàu hợp
chất hữu cơ, nitơ và photpho như nước thải giết mổ gia súc, nước thải thủy sản [1].

1.3.5. Các yếu tố ảnh hưởng
1.3.5.1. Ảnh hưởng của tải trọng các hợp chất hữu cơ
Phương pháp xử lý sinh học nước thải dựa trên cơ sở hoạt động của vi sinh
vật để phân hủy các chất hữu cơ nhiễm bẩn nước. Do vậy, điều kiện đầu tiên và rất
quan trọng là nước thải phải là môi trường sống của quần thể vi sinh vật phân hủy
các chất hữu cơ trong nước thải, các chất hữu cơ có trong nước thải là cơ chất dinh
dưỡng nguồn cacbon và năng lượng cho vi sinh vật. Các hợp chất hidratcacbon,
protein, lipit hòa tan thường là cơ chất dinh dưỡng rất tốt cho vi sinh vật, nước thải
đưa vào xử lý sinh học có hai thông số đặc trưng là COD và BOD. Tỉ số của hai
thông số này phải là: COD/BOD < 2 hoặc = 2 mới có thể đưa vào xử lý sinh học
(hiếu khí). Nếu COD lớn hơn nhiều lần so với BOD, trong đó xenlulozo,
hemixenlulozo, protein, tinh bột chưa tan thì phải qua xử lý sinh học kị khí [2,3].

1.3.5.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ nước thải trong các hệ xử lý sinh học ở một địa bàn cũng thay đổi
mạnh theo mùa, có nơi sai lệch vài chục độ. Nhiệt độquá cao hay quá thấp cũng ảnh
hưởng xấu đến các đối tượng tham gia vào quá trình làm sạch nước. Vì nhiệt độ tối
ưu cho hoạt động của từng nhóm vi sinh vật cũng khác nhau.
Ví dụ vi khuẩn hoạt động tốt trong khoảng 25 – 30 o C, tuy nhiên phân hủy
hiếu khí và nitrat hóa (NH 4+ thành NO2-, NO3-) dừng lại ở nhiệt độ ≥ 50 oC. Nhiệt độ
thấp hơn 150C vi khuẩn sinh metan hầu như ngừng hoạt động, nhiệt độ tối ưu cho


2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Điều tra tại làng nghề giết mổ Phúc Lâm hai lần :
+Lần 1 vào hai ngày mùng 4 và mùng 5 tháng 3 năm 2015
+Lần 2 vào hai ngày 15 và 16 tháng 4 năm 2015
Phỏng vấn bác Truất - trưởng thôn Phúc Lâm.
Phỏng vấn các hộ gia đình :
+Gia đình ông Nguyễn Văn Xứng, chủ một lò mổ nhỏ ở trong làng với công
suất 5 con/đêm.
+Gia đình ông Nguễn Văn Cảnh, chủ một lò mổ lớn ở trong làng với công
suất 10 con/đêm.
+Gia đình ông Đỗ Văn Vô kinh doanh da trâu, bò, lợn.
Khảo sát các hệ thống rãnh, mương và các hồ ao nhận nước thải.

2.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu
Trong bài báo cáo này đã sử dụng tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau : Các
báo cáo khoa học, các tài liệu liên quan, các sách chuyên đề, các bài báo khoa học
được đăng tải trên các tạp chí khoa học, môi trường trong và ngoài nước như là:
+Xử lý nước thải lò giết mổ đăng trên tạp chí Bảo Hộ Lao Động tháng
10/2008, Tạp chí khoa học.
+Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 48, 2008.
+ Lương Đức Phẩm,Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học.
NXB Giao Dục, 2003.

21


Mục đích của phương pháp này là tham khảo và lựa chọn một số phương
pháp đánh giá ô nhiễm nước thải từ các làng nghề giết mổ gia súc và học tập phong

- Nước thải giết mổ.
Nước thải sinh hoạt
Sông

( 480 hộ )
Rãnh thải chung
Nước thải lò mổ

Ao, hồ

( 30 hộ )
Hình 3.1: Các nguồn nước thải ở làng nghề Phúc Lâm.

- Từ các số liệu thu thập được trong quá trình thực địa, ta có thể tính được cụ
thể lượng nước thải như sau :
Làng có 480 hộ với 2000 dân thì tổng lượng nước thải trong 1 ngày là :
(2000 x 80) : 1000 = 160 m3/ngày
Với 30 hộ giết mổ thì tổng lượng nước thải trong 1 ngày là:
30 x 3,3m3/ngày = 99 m3/ngày
- Nước mưa chảy tràn.
Tổng lượng nước mưa chảy tràn qua làng nghề bằng :
(Lượng mưa năm) x (Diện tích của làng)
→ (1400 -1600 mm) x 100ha = 1,4 – 1,6 triệu m3/năm
→ Nước mưa, nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất thường không được
phân biệt và được thải thẳng trực tiếp ra ngoài không qua xử lý vào các ao, hồ xung
quanh làng hoặc các kênh tiêu trong vùng. Hệ thống thoát nước chỉ là một số rãnh
nhỏ, phần lớn là không có nắp đậy chạy dọc theo đường làm nhiệm vụ tiêu nước
thải cũng như thoát nước mưa chung.

23

Cạo lông
Rửa lại
Mổ

24


Cắt đầu, chân, bỏ mỡ

Nước thải chứa các chất thải nội tạng, tủy, xương vụn, phân. Tăng lượng mỡ trong nước thải.
Rút bỏ tim, gan, lòng…

Rửa lại

Xẻ thịt, lọc thịt

Làm lòng

Phân loại, cân, bảo quản kho lạnh

Hình 3.2: Sơ đồ giết mổ trâu bò và và nước thải ở các khâu của
làng nghề giết mổ Phúc Lâm.
Trâu, bò thu mua từ các tỉnh thành lân cận được nhốt trong chuồng cho đến
khi bị giết. Quy trình giết mổ, sơ chế và xử lý sản phẩm phụ được thực hiện ở lò mổ
của mỗi gia đình. Để thu được thành phẩm gồm thịt tươi, cùng với một số phụ phẩm
như tim, phổi, lưỡi các quy trình đều được thực hiện trong lò mổ. Trâu bò được làm
ngất trước khi chọc tiết ngay trên sàn lò mổ. Tiếp đó dội nước đun sôi ở 100 oC để
làm lông, quy trình làm lông rất thủ công chỉ dùng dao để cạo. Sau bước cạo lông
trâu, bò sẽ được rửa lại bằng nước sạch để mổ. Phần thân động vật được xẻ ra, rửa
sạch cắt bỏ đầu, chân, mỡ. Tim, gan, thận, lưỡi, não... được đưa vào ướp lạnh trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status