ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
LỜI CẢM ƠN
Sau 5 năm học tập và thực hành tại trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng em đã tích
lũy được rất nhiều kinh nghiệm, kiến thức quý giá và đặc biệt là giúp em hoàn thiện nhân
cách sống tốt. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến sự giúp đỡ của tất cả các thầy cô đã
và đang công tác tại trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, các thầy cô trong khoa Hóa, đặc
biệt là thầy cô trong bộ môn Công Nghệ Sinh Học đã tích cực, nhiệt tình giúp đỡ, dạy dỗ
em trong suốt thời gian ngồi trên ghế giảng đường.
Trong suốt thời gian nghiên cứu và làm đề tài tốt nghiệp em xin chân thành cảm ơn
thầy giáo TS.Đặng Đức Long, TS. Lê Lý Thùy Trâm đã hướng dẫn tận tình giúp em có
được cách làm việc khoa học, khuyên bảo, an ủi những lúc em gặp khó khăn nhất để giúp
em hoàn thành tốt đề tài của mình. Em đã tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích và kinh
nghiệm thực hành trong quá trình rèn luyện, tìm hiểu nghiên cứu; giúp em có thể tiến tới
ước mơ được làm nghiên cứu sau này.
Em cũng xin cảm ơn chân thành tới các anh chị phụ trách phòng thí nghiệm bộ môn
Công Nghệ Sinh Học trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng là thầy Võ Công Tuấn và cô
Phạm Thị Kim Thảođã tạo điều kiện thuận lợi nhất, cố gắng về muộn hơn để giúp em
hoàn thành thí nghiệm.
Con xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ba mẹ và tất cả anh chị em trong gia đình đã
luôn luôn động viên an ủi, là nguồn động lưc giúp con vượt qua khó khăn trong quá trình
học tập để hoàn thành tốt công việc được giao. Đồng thời mình cũng xin cảm ơn tất cả các
bạn thành viên trong lớp 10SH nói chung, những người bạn thân và các bạn làm đề tài ở
phòng thí nghiệm nói riêng đã luôn ở bên cạnh mình những lúc khó khăn nhất, nhiệt tình
giúp đỡ trong suốt thời gian học tập và làm thí nghiệm.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Cán bộ phản biện và các thầy cô
trong Hội đồng bảo vệ đã dành thời gian để xem xét đánh giá và góp ý cho đồ án của em.
Chắc hẳn trong đồ án còn rất nhiều thiếu sót em mong thầy cô và các bạn thông cảm.
Đà Nẵng, ngày 01 tháng 06 năm 2015.
Võ Trần Khánh Huyền
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong luận văn nghiên cứu này, dầu được chiết tách ra khỏi cám gạo bởi các
hệ enzyme cùng với sự hỗ trợ của các phương pháp khác. Quá trình này nhằm thay
thế việc sử dụng dung môi hữu cơ n-hexan gây độc hại cho con người và ô nhiễm
môi trường để chiết tách dầu cám gạo trong các công nghệ sản xuất hiện nay. Hệ
enzyme được sử dụng là enzyme Cellulsase, vàenzyme Alcalase® và enzyme
Dextrozyme. Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện tốt nhất để xử lý enzyme đạt
hiệu suất cao là nhiệt độ 55oC; pH của dịch cám gạo là 7; tỷ lệ từng enzyme trên
dịch cám gạo là 3%theo thể tích; xử lý lắc trong vòng 14 giờ. Bên cạnh đó, kết hợp
với xử lý nhiệt dịch cám gạo ở 90oC trong vòng 15 phút và xử lý siêu âm phá mẫu ở
60oC, công suất 120W trong vòng 15 phút trước khi xử lý enzyme nhằm tăng hiệu
suất quá trình tách chiết . Hiệu suất quá trình đạt được là 45,7%.
ABSTRACT
In this research, oil extracted from rice bran by an enzyme system with the
help of other physical methods. This process aims to replace organic solvent, nhexane, a toxic chemical tohuman and environment to extract rice bran oil in the
current production technology. A mixture of three enzymes: Cellulsase,
Dextrozyme, and ALCALASE®, was used. The study showed that the best
conditionfor the enzyme reaction is at 55°C,pH of 7, and the proportion of each
enzyme 3% vol of the rice bran broth; with 14 hours of reaction. Furthermore, rice
bran was treated in a combination of a hydrothermal process at 90oC for 15 minutes
and an ultrasound process at 60°C, 120W power for 15 minutes before the enzyme
treatment resulted in an increase of enzyme extraction process. The extraction
efficiency so far was 45.7%.
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
-
enzyme.Xử lý cám gạo để thu hồi được dầu cám với chất lượng tốt.
Kết hợp phương pháp enzyme với các phương pháp xử lý khác nhằm tăng hiệu
suất tách chiết dầu cao nhất.Nghiên cứu phương pháp tách pha để thu hồi được
lượng dầu tinh sạch
Tôi hy vọng đề tài này sẽ được ứng dụng trong công nghệ sản xuất, góp phần
làm xanh, sạch, đẹp môi trường của chúng ta và thu được nguồn kinh tế to lớn từ
ứng dụng dinh dưỡng cao cho sức khỏe con người.
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 6
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Giới thiệu chung về cám gạo
1.1.1. Đặc điểm của cám gạo:
Trong quy trình xay xát và chế biến gạo, sau khi thu được sản phẩm chính là
gạo thì còn một sản phẩm phụ có giá trị sử dụng khá cao và giá thành sản phẩm
thấp, đó chính là cám gạo.
Cám gạo là phụ phẩm chính thu được từ lúa sau khi xay xát và thường chiếm
khoảng 10 - 12% trọng lượng lúa. Cám gạo được hình thành từ lớp vỏ nội nhũ và
mầm phôi của hạt, cũng như một phần từ tấm. Cám gạo có màu sáng và mùi thơm
lượng lớn vitamin, khoáng, chất béo và protein.
Ngoài ra, ở các nước khác trên thế giới đã tận dụng được giá trị dinh dưỡng
của cám để sử dụng vào các lĩnh vực khác như:
-
Cám chứa nhiều chất oxy hóa có lợi cho sức khỏe con người nên có tác dụng
-
rất tốt trong việc làm đẹp da, dưỡng da trắng sáng.
Cám có chứa nhiều loại vitamin và chất béo chưa bão hòa rất tốt cho sức
khỏe. Do đó, các nước phát triển đã trích ly dầu từ cám gạo và từ đó, có rất
nhiều ứng dụng khác [33].
1.2.
Dầu cám gạo:
1.2.1. Đặc điểm dầu cám gạo:
Dầu cám gạo là dầu béo được chiết
tách từ cám gạo trong hạt lúa.Dầu cám gạo
có đặc điểm là có điểm bốc khói rất cao
(2540C), hương vị nhẹ, màu vàng sáng,
thích hợp cho các ứng dụng liên quan đến
nhiệt độ cao như chiên, xào, nấu [35]. Loại
dầu này được sử dụng làm dầu ăn phổ biến
ở Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái
Lan,...
Hình 1.3: Dầu cám gạo.
Dầu nành
C
220o
Axit béo không
Axit béo không
bão hòa đơn
bão hòa đa
47%
33%
20%
77%
9%
14%
24%
61%
15%
1000
336
0
0
GAMMA-ORYZANOL
(ppm)
2000
0
0
Vì trong dầu gạo có chứa hàm lượng cao gamma oryzanol - dưỡng chất
chống ôxy hóa được tìm thấy trong hạt gạo nguyên cám. Cùng với phytosterol,
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
vitamin E, omega 3, 6, 9, dầu gạo có khả năng thúc đẩy tuần hoàn máu, bảo vệ vững
chắc sức khỏe tim mạch. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Dinh dưỡng của Mỹ
năm 2005 đã cho thấy lượng cholesterol đã giảm xuống trung bình 7% sau chế độ
ăn có sử dụng dầu gạo. Giảm lượng cholesterol đồng nghĩa với ngăn ngừa và làm
giảm nguy cơ bị đột quỵ cũng như các bệnh về tim.
Bên cạnh đó, dầu gạo có nhiệt độ bốc khói cao (khoảng 254 oC) nên có khả
năng hạn chế hiện tượng cháy khét, giúp lưu giữ hương vị thơm ngon của món ăn
trong tất cả hình thức chế biến như chiên, xào, trộn salad hay làm bánh. Do vậy, tại
các quốc gia tiên tiến như Úc, Nhật, New Zealand, Hàn Quốc... dầu gạo rất được tin
cho ra 2 sản phẩm gồm: dầu cám có giá trị dinh dưỡng cao, nhưng chủ yếu xuất
khẩu sang thị trường Nhật Bản, và cám gạo đã được trích ly có hàm lượng đạm cao
cung cấp chế biến thức ăn cho gia súc [33].
Hiện nay, ở nước ta đã có thêm một số nhà máy sản xuất dầu cám gạo để tiêu
thụ trong nước và xuất khẩu. Tiêu biểu là nhà máy trích ly dầu từ cám gạo có quy
mô lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long, thuộc liên doanh giữa Vocarimex (Việt Nam)
và Siteki Investments (Singapore), có công suất 100.000 tấn cám gạo/năm sản xuất
ra 15.000 tấn dầu cám gạo chất lượng cao. Ở phía Bắc nước ta cũng có các nhà máy
sản xuất dầu cám gạo bằng phương pháp ép cơ học.
1.2.3.2.
Tình hình sản xuất ngoài nước:
Theo báo cáo của Hiệp hội Solvent Extractor’s Association (SEA) năm 2014,
tổng lượng dầu cám gạo được sản xuất trên toàn cầu đạt 1,2 triệu tấn dầu. Trong đó,
Ấn Độ là nước xuất khẩu dầu cám gạo lớn nhất thế giới với năng suất hiện nay
khoảng 900.000 tấn dầu, chiếm khoảng 75% tấn dầu so với thế giới. Theo sau đó là
các nước như Nhật Bản (70.000 tấn dầu), Thái Lan (60.000 tấn dầu) và Trung Quốc
(50.000 tấn dầu) [35].
1.2.4. Các phương pháp sản xuất dầu cám gạo hiện nay:
Công nghệ sản xuất dầu cám gạo ở các nước, trong đó có Việt Nam, chủ yếu
vẫn theo phương pháp cổ điển là ép cơ học hoặc trích ly bằng dung môi hữu cơ, sau
đó tinh luyện bằng phương pháp hóa học.Dung môi hữu cơ thường được sử dụng là
n-hexane, thuộc loại dung môi không phân cực có thể trích ly được dầu gần như
tuyệt đối với hiệu suất 97-99% [28], dễ bay hơi và dễ thu hồi sau khi sử dụng. Tuy
nhiên, n-hexane là dung môi có độc tính gây hại đến sức khỏe con người. Nếu như
tiếp xúc lâu dài sẽ tích lũy trong cơ thể và gây ngộ độc, chóng mặt, mệt mỏi, nặng
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 11
116mg KOH/g sau 60 ngày. Hàm lượng dầu giảm từ 16% (lúc mới xay xát) xuống
còn 14% sau 60 ngày [6].
Vì vậy, để hạn chế giảm chất lượng của dầu cám gạo, sử dụng phương pháp
xử lý nhiệt ẩm để tiêu diệt lipase là hiệu quả. Quá trình gồm 3 công đoạn là chưng
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
gia ẩm đến độ ẩm 18-20%, sau đó sấy ở 100-105oC trong 60 phút cho đến khi độ ẩm
còn 4-5%, cuối cùng làm nguội đến 40-50oC. Cám gạo sau khi xử lý được bảo quản
trong bao gai hoặc bao dứa ở nhiệt độ bình thường. Sau 30 ngày, dầu cám ép ra có
chỉ số acid đạt giới hạn cho phép để chiết tách dầu cám có hiệu quả [4].
•
Nghiên cứu phương pháp chiết tách dầu cám gạo:
Theo bài báo nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Nguyệt tại Viện
nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, công nghệ chiết tách bởi hệ enzyme thủy phân gồm
7 công đoạn: làm sạch, xử lý nhiệt (100oC trong 5phút), làm nguội (45-50oC), xử lý
enzyme (Carbohydraze với liều lượng 0,1% trong 30phút đến 2 giờ), thay đổi môi
trường pH=10 dùng NaOH.3N trong 30phút, ly tâm 5000rpm trong 20phút, thu dầu.
Sản phẩm dầu thu được có màu vàng rơm hoặc xanh oliu, có mùi thơm đặc trưng,
chỉ số acid thấp khoảng 2-5mg KOH/g. Hiệu suất thu hồi dầu đạt 77-79% [3].
1.2.4.2.
Tình hình nghiên cứu tách dầu bằng enzym ngoài nước:
Theo kết quả nghiên cứu của P.Hanmounggjai (2002), enzym alcalase sẽ làm
phương pháp xử lý nhiệt cám gạo trước khi cho enzym thủy phân vào, với điều kiện
gia nhiệt ở 1000C trong vòng 9 phút thì sản phẩm dầu cám gạo sẽ có chỉ số acid (1-3
mgKOH/g) thấp hơn so với xử lý trong vòng 3 phút và khi không xử lý nhiệt [14].
Việc sử dụng enzym trong chiết tách dầu cám gạo là một biện pháp có triển
vọng ứng dụng vì phù hợp với quy mô vừa và nhỏ, tiết kiệm được công đoạn tinh
luyện nên giảm được hao hụt.
1.3.
Tổng quan về Enzyme:
1.3.1. Enzyme Cellulase:
Cellulase là một hệ enzyme thủy phân phức tạp, có khả năng cắt mối liên kết
β -1,4-O-glucoside trong phân tử cellulose để chuyển thành cellobiose và cuối cùng
thành glucose. Phức hệ enzyme này được xếp thành 3 nhóm cơ bản, đó là: endo-β1,4-glucanase hay carboxymethyl cellulase (CMCase); exo-β-1,4-glucanase hay
cellobiohydrolase và β-glucosidase hay β-D-glucoside glucohydrolase. Mỗi loại
enzyme tham gia thủy phân cơ chất theo một cơ chế nhất định và nhờ có sự phối
hợp hoạt động của các enzyme đó mà phân tử cơ chất được thủy phân hoàn toàn tạo
thành các sản phẩm đơn giản nhất. Enzyme Cellulase thường được tổng hợp mạnh
mẽ ở các giống nấm mốc như Aspergillus, Penicillium, Trichoderma,... và nhiều vi
khuẩn, xạ khuẩn khác cũng có khả năng tổng hợp mạnh.
1.3.1.1.
Cơ chế hoạt động của enzyme Cellulase:
Sự phân giải cellulose dưới tác dụng của phức hệ enzyme cellulase từ nấm
mốc Trichoderma reesi xảy ra theo 3 cơ chế chủ yếu sau:
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 14
thuộc vào pH môi trường phản ứng. Tùy thuộc vào bản chất của enzyme mà pH
thích hợp để enzyme hoạt động có thể trung tính, kiềm hoặc axit. Theo bài báo
nghiên cứu về enzyme Cellulase của Xiao-Zou Zhang, pH tối ưu cho hoạt động của
enzyme Cellulase từ Trichoderma reesi là nằm trong khoảng pH= 4 – 5 [22].
Ngoài ra, các dung môi hữu cơ như methanol, ethanol, acetone,... và các chất
tẩy rửa như Tween 20, Tween 80,... đều làm giảm hoạt tính của enyme.
1.3.2. Enzyme Protease:
Protease là các enzyme xúc tác sự thủy phân liên kết peptit (CO – NH) trong
phân tử protein và các cơ chất tương tự đến sản phẩm cuối cùng là các axit amin.
Ngoài ra, nhiều protease cũng có khả năng thuỷ phân liên kết este và vận chuyển
axit amin[5].
Hình 1.6: Cơ chế hoạt động của enyzme Protease.
Protease cần thiết cho các sinh vật sống, rất đa dạng về chức năng từ mức độ
tế bào, cơ quan đến cơ thể nên được phân bố rất rộng rãi trên nhiều đối tượng từ vi
sinh vật (vi khuẩn, nấm và virus) đến thực vật (đu đủ, dứa...) và động vật (gan, dạ
dày bê...). So với protease động vật và thực vật, hệ protease vi sinh vật là một hệ
thống rất phức tạp bao gồm nhiều enzyme rất giống nhau về cấu trúc, khối lượng và
hình dạng phân tử nên rất khó tách ra dưới dạng tinh thể đồng nhất [3].
1.3.2.1.
Phân loại Protease:
Enzyme protease được phân chia thành hai loại: endopeptidase và
exopeptidase.
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 16
Carlsberg, subtilisin BPN). Các serine proteinase thường hoạt động mạnh ở vùng
kiềm tính và thể hiện tính đặc hiệu cơ chất tương đối rộng.
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
+ Cysteine protease: các protease chứa nhóm –SH trong trung tâm hoạt động.
Bao gồm các protease thực vật như papain, bromelin, một vài protease động vật và
protease ký sinh trùng. Các cystein protease thường hoạt động ở vùng pH trung
tính, có tính đặc hiệu cơ chất rộng.
+ Aspartic protease: hầu hết các aspartic proteinase thuộc nhóm pepsin, bao
gồm các enzyme tiêu hóa như: pepsin, chymosin, cathepsin, šauk h. Các aspartic
proteinase có chứa nhóm carboxyl trong trung tâm hoạt động và thường hoạt động
mạnh ở pH trung tính.
+ Metallo protease: là nhóm protease được tìm thấy ở vi khuẩn, nấm mốc
cũng như các vi sinh vật bậc cao hơn. Các metallo protease thường hoạt động vùng
pH trung tính và hoạt độ giảm mạnh dưới tác dụng của EDTA.
Ngoài ra, protease được phân loại một cách đơn giản hơn thành ba nhóm:
+ Protease acid
: pH= 2-4
+ Protease trung tính: pH = 7-8
+ Protease kiềm
1.3.2.2.
: pH = 9-11 [11].
thủy phân các mối liên kết α-1,6 và α-1,3 nhưng rất chậm (10-13 lần). Tốc độ thủy
phân phụ thuộc vào bản chất của các liên kết kề cận với các liên kết glucoside được
thủy phân, cũng như kích thước và cấu trúc của cơ chất bị thủy phân. Nhất là với
các α-glucan mạch dài (amylose và amylopectin) thì bị thủy phân nhanh hơn là với
các maltodextrin và các oligosaccaride.
Hình 1.8: Cơ chế hoạt động của enyzme Glucoamylase.
1.3.3.2.
Ứng dụng của enzyme Glucoamylase:
Hiện nay, enzyme Glucoamylase có vị trí hàng đầu về hiệu lực thủy phân
tinh bột và các sản phẩm trung gian. Vì thế việc sử dụng các chế phẩm
Glucoamylase tách từ các chủng vi sinh vật hoạt động trong sản xuất rượu, bia,
mạch nha có ý nghĩa và triển vọng vô cùng lớn. Theo thời gian, enzyme công
nghiệp càng ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến như nhóm enzyme
protease, cellulase, ligase,... và một trong số đó nhóm enzyme được ứng dụng rất
phổ biến ở nhiều lĩnh vực khác nhau, đó là nhóm Amylase.
-
Trong y học và dược phẩm: thuốc và hóa chất chứa hoạt tính enzyme Glucoamylase
được sử dụng để chẩn đoán viêm tụy cấp và trong các sản phẩm chứa men tiêu hóa
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
-
Trang 20
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
CHƯƠNG 2:
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1.
Thời gian và địa điểm:
2.1.1. Thời gian:
Thời gian bắt đầu thực hiện:
Thời gian kết thúc: 30/05/2015.
-
2.1.2. Địa điểm:
-
Phòng thí nghiệm Bộ môn Công Nghệ Sinh học tại trường Đại học Bách
-
Khoa Đà Nẵng.
Trung tâm Nghiên cứu Sinh học và Môi trường tại trường Đại học Bách
Khoa Đà Nẵng.
2.2.
Dung dịch đệm photphate: NaH2PO4.2H2O; NaH2PO4.12H2O.
Thuốc thử Folin 1X;
Dung dịch TCA.0,4M.
CMC; DNS; tinh bột; casein; tyrosin; D-glucose.
Phenolphtalein; Sodium Potassium tartrate.
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
Tất cả các hóa chất đều có nguồn gốc từ Trung Quốc.
2.2.3.
Dụng cụ, thiết bị sử dụng:
Trong đề tài này, tôi đã sử dụng một số dụng cụ, thiết bị và máy móc của
phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học, Khoa Hóa, Trường Đại Học Bách Khoa Đà
Nẵng.
Một số thiết bị phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học như:
-
Bếp điện (Hữu Nghị, Việt Nam).
Lò vi sóng (Sharp).
Cân kỹ thuật (ARC 120 OHAUS – Mỹ).
Cân phân tích điện tử (E1240-OHAUS – Mỹ).
Tủ ấm (BE 500 – Memmert – Đức).
Máy đo pH (MP 220-Metter Toledo – Thụy Sĩ).
Micropipet (Axygen).
Làm sạch
Nước cất
Khuấy trộn
Điều chỉnh pH, nhiệt độ
Xử lý enzyme
Enzyme Cellulase
Enzyme Alcalase
Enzyme Dextrozyme
Ly tâm
Tách pha
Dầu cám
Hình 2.1: Quy trình chung tách chiết dầu từ cám gạo bằng enyzme
Cám gạo thu nhận về có màu vàng được làm sạch qua dụng cụ rây để loại bỏ
các tạp chất như sạn, các sinh vật nhỏ (mọt) và sấy khô ở 80 oC đến khối lượng
không đổi. Cám gạo trở nên mịn và có màu vàng sáng hơn. Khuấy trộn cám gạo với
nước cất ở tỷ lệ nhất định (1:4) bằng máy khuấy từ. Điều chỉnh pH của hỗn hợp
cám gạo và nước bằng dung dịch NaOH.0,5N hoặc CH 3COOH.0,5N và đưa nhiệt
độ đến điều kiện thích hợp cho enyme hoạt động. Các hệ enzyme phân giải như
Cellulasesẽ phá vỡ thành tế bào, còn các enzyme protease sẽ làm nhiệm vụ thay đổi
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 23
Quá trình tách được thực hiện bằng dụng cụ Soxhlet bao gồm: 1 trụ chiết, 1
ống sinh hàn và 1 bình cầu.
SVTH: Võ Trần Khánh Huyền – 10SH
Trang 24
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NĂM 2015
Hình 2.2: Bộ chiết Soxhlet.
•
Tiến hành:
- Sấy khô nguyên liệu đến khối lượng không đổi (100-105 0C). Cân chính xác
khoảng 5g nguyên liệu bằng cân phân tích, cho vào túi giấy lọc đã được sấy khô.
(Túi giấy phải có đường kính nhỏ hơn đường kính trụ chiết và chiều dài phải ngắn
hơn chiều cao của ống chảy tràn).
- Đặt túi giấy chứa mẫu vào ống trụ chiết.
- Lắp trụ chiết vào bình cầu đã được sấy khô (xác định khối lượng) và lắp
ống sinh hàn).
- Cho dung môi vào trụ chiết sao cho một lượng dung môi chảy xuống
khoảng ½ bình cầu và còn một lượng trên trụ chiết đủ ngập mẫu.
- Mở nước vào ống sinh hàn.
- Đặt hệ thống Soxhlet lên bếp cách thủy và điều chỉnh nhiệt độ sao cho chu
kỳ hoàn lưu của dung môi đạt từ 5-8 lần trong một giờ (45-50 0C). Chiết trong 8-12
giờ cho đến khi trích ly hoàn toàn chất béo. Thử thời điểm kết thúc quá trình trích
bằng cách lấy vài giọt ether từ đầu cuối trụ chiết cho lên đĩa kính sạch. Sau khi dung
môi bay hơi hết, trên mặt kính không để lại vết dầu loang thì được xem như chất