DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Công nghiệp chế biến
Công nghiệp chế biến nông sản
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cơ sở hạ tầng
Khoa học công nghệ
Kinh tế - xã hội
Lực lượng sản xuất
Trách nhiệm hữu hạn
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Viết tắt
CNCB
CNCBNS
CNH, HĐH
CSHT
KHCN
KT-XH
LLSX
TNHH
VSATTP
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN
Trang
3
đề đặt ra cần giải quyết
Chương 3: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
53
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG
SẢN Ở TỈNH HẢI DƯƠNG THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm cơ bản đẩy mạnh phát triển công
65
nghiệp chế biến nông sản ở tỉnh Hải Dương thời
gian tới
3.2. Giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển công nghiệp
chế biến nông sản ở tỉnh Hải Dương thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
65
72
96
98
104
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công nghiệp chế biến nông sản là ngành có tác động mạnh mẽ vào lĩnh
như Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định đối tác xuyên Thái
Bình Dương (TPP), và là thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)… đã
đem lại những thời cơ cũng như thách thức đối với ngành chế biến nông sản của
Việt Nam nói chung, CNCBNS của tỉnh Hải Dương nói riêng. Nếu ngành
CNCBNS của tỉnh không kịp thời đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất
lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã thì nguy cơ “thua trên sân nhà” trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề hiện hữu. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển
CNCBNS là yêu cầu cấp thiết ở tỉnh Hải Dương hiện nay. Do vậy, tác giả lựa
chọn đề tài: “Phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở tỉnh Hải Dương”
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phát triển CNCBNS là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Hiện nay, đã có nhiều công trình của nhiều
nhà khoa học đề cập đến nó dưới những góc độ nghiên cứu khác khau, cụ thể là:
* Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, chỉ ra những vấn đề có
tính quy luật và xu hướng vận động của CNCBNS có các công trình sau:
“Phát triển CNCBNS ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”; Mã số
QK.04.03, do Đại học quốc gia Hà Nội chủ trì, người thực hiện Mai Thị
Thanh Xuân và Ngô Đăng Thành. Bằng các phương pháp thống kê, so sánh,
phân tích, tổng hợp, đề tài đã: Làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng phát triển
CNCBNS ở Việt Nam. Phân tích kinh nghiệm phát triển CNCBNS của một số
nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam, từ đó rút ra một số bài học mà
Việt Nam có thể vận dụng. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển CNCBNS
ở Việt Nam, nhất là CNCBNS xuất khẩu. Chỉ ra những thách thức và quan
điểm phát triển CNCBNS trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đề xuất
các giải pháp nhằm thúc đẩy CNCBNS phát triển hiệu quả hơn.
“Xu hướng phát triển của ngành CNCB ở thành phố Hồ Chí Minh”,
Luận án tiến sĩ kinh tế của Vũ Anh Tuấn, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 1998; đã luận giải những nét căn bản về lý luận và thực tiễn phát triển
4
và dịch vụ nhằm thúc đẩy sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Lào.
5
“Vai trò của CNCB nông lâm sản đối với sự phát triển của nền kinh
tế” của Tiến sĩ Trần Thị Ái Đức, đăng trên Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái
Bình Dương, số 274, tháng 3/2011. Bài báo đã phân tích vai trò của CNCB
nông lâm sản đối với sự phát triển nền kinh tế trên các khía cạnh: vai trò đối
với sự phát triển của sản xuất nguyên liệu; vai trò của nó đối với sản xuất
nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH; và vai trò đối với việc đẩy mạnh xuất
khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ, phát huy lợi thế so sánh trong nước; giải quyết
việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người dân, nhất là người dân
trên địa bàn nông thôn.
“Đặc điểm của CNCBNS và chuỗi giá trị đối với chuỗi ngành hàng
nông sản” của tác giả Nguyễn Thị Minh Phượng và Nguyễn Thị Minh Hiền,
đăng trên Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 367, tháng 6/2012.
Bài báo đã phân tích, nhấn mạnh những đặc điểm riêng biệt của ngành CNCB
các sản phẩm từ nông nghiệp và đưa ra chuỗi giá trị đối với ngành hàng nông
sản hiện nay.
“Phát triển CNCBNS và vai trò của nó trong bảo đảm hậu cần tại chỗ
cho khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”
của tác giả Đỗ Văn Nhiệm, luận án tiến sĩ quân sự, bảo vệ tại Học viện Chính trị
- quân sự năm 2006. Trong luận án, tác giả nghiên cứu sự phát triển của
CNCBNS với tính cách là một lĩnh vực kinh tế và giới hạn việc nghiên cứu trong
nhóm ngành chế biến thực phẩm và đồ uống. Luận án đã trình bày những vấn đề
chung, thực trạng và những giải pháp chủ yếu về phát triển CNCBNS và phát
huy vai trò của nó trong bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ tỉnh
(thành phố) vùng Đồng bằng sông Hồng.
* Nghiên cứu CNCBNS dưới góc độ là một trong những giải pháp để
nâng cao giá trị hàng nông sản Việt Nam trong quá trình hội nhập:
sách tiêu thụ nông sản ở Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó luận án đã đưa
ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách tiêu thụ nông sản
nhằm gia tăng giá trị nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; đảm
bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà
trung tâm là lợi ích của người nông dân trong quá trình thực hiện các cam
kết đối với WTO.
7
“Nông sản xuất khẩu Việt Nam trong thời kỳ hội nhập - Thực trạng và
giải pháp phát triển” của Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Thọ, đăng trên Tạp chí
Khoa học - ĐH TP Hồ Chí Minh, số 23 năm 2010. Bài viết đã phân tích thực
trạng, những thuận lợi, khó khăn của nông sản xuất khẩu Việt Nam, đồng thời
đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu quả KTXH và môi trường cho nông sản xuất khẩu Việt Nam trong thời kỳ CNH,
HĐH đất nước. Một trong những giải pháp chủ lực là phải phát triển
CNCBNS để có những mặt hàng nông sản có sức cạnh tranh.
* Một số công trình nghiên cứu về thị trường tiêu thụ hàng nông sản ở
Việt Nam nói chung và từng vùng - lãnh thổ nói riêng:
Tác giả Đặng Phong Vũ (2000), “Thị trường tiêu thụ nông phẩm của
Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay - đặc điểm và phương hướng phát triển”,
luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Dưới góc độ kinh
tế học chính trị, tác giả đã phân tích làm nổi bật đặc điểm của thị trường tiêu
thụ nông phẩm của Đồng bằng sông Cửu Long và vai trò của thị trường này
đối với sự phát triển KT - XH của vùng; phân tích thực trạng thị trường tiêu
thụ nông phẩm của Đồng bằng sông Cửu Long, làm rõ những mâu thuẫn đặt
ra cần giải quyết để phát triển thị trường tiêu thụ nông phẩm của vùng trong
thời gian tới, trên cơ sở đó tác giả đề ra phương hướng và phải pháp phát triển
thị trường tiêu thụ nông phẩm của Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, do
giới hạn về phạm vi nội dung nghiên cứu nên tác giả chưa đề cập đến những
nhân tố tác động đến việc phát triển thị trường tiêu thụ nông sản và các nội
Tác giả Lê Đình Thụ (2014), “Sức cạnh tranh hàng nông sản của tỉnh
Gia Lai hiện nay”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị. Dưới góc độ nghiên
cứu kinh tế chính trị, tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về sức
cạnh tranh của hàng nông sản ở tỉnh Gia Lai, tập trung vào bốn nhóm hàng
nông sản chủ lực (cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều), trên cơ sở đó đã đề xuất
quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh hàng
nông sản của tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, luận văn chưa nghiên cứu phát triển
CNCBNS ở tỉnh Gia Lai một cách toàn diện, mà chỉ giới hạn ở phạm vi
nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chỉ ra quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao
sức cạnh tranh của hàng nông sản chủ lực của tỉnh Gia Lai.
9
Như vậy, các công trình khoa học, luận văn, luận án đã nghiên cứu nhiều
vấn đề liên quan tới ngành CNCBNS. Có công trình nghiên cứu cơ sở lý luận và
thực tiễn phát triển CNCBNS. Có công trình lại nghiên cứu vấn đề trên ở góc độ
đặc điểm vai trò để chỉ ra xu hướng phát triển của CNCB. Một số tác giả nghiên
cứu CNCBNS với tư cách là một lĩnh vực kinh tế và tập trung đi sâu nghiên cứu
từng phân ngành nhỏ của CNCBNS như chế biến rau quả, chế biến gỗ, chế biến
thực phẩm, chế biến đồ uống... để chỉ ra những giải pháp đẩy mạnh CNCBNS.
Một số tác giả lại tập trung nghiên cứu về thị trường tiêu thụ nông sản nói chung,
nông sản chế biến nói riêng để tìm ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông
sản. Nhưng chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu phát triển ngành
CNCBNS ở tỉnh Hải Dương một cách hệ thống, từ cơ sở lý luận, thực trạng,
những vấn đề đang đặt ra, trên cơ sở đó đề ra những chủ trương, biện pháp phát
huy những thế mạnh của tỉnh, tạo bước đột phá không chỉ đối với ngành CNCB,
mà còn thúc đẩy ngành nông nghiệp của tỉnh phát triển. Chính vì vậy, việc lựa
chọn vấn đề nghiên cứu của tác giả là cần thiết ở tỉnh Hải Dương hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
pháp phù hợp đẩy mạnh phát triển CNCBNS ở tỉnh Hải Dương.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, bao gồm:
phương pháp nghiên cứu đặc thù của Kinh tế chính trị Mác - Lênin (phương
pháp trừu tượng hóa khoa học), cùng các phương pháp phân tích, thống kê, so
sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý hoạch định chủ
trương, chính sách phát triển CNCBNS trên địa bàn tỉnh Hải Dương và có thể
vận dụng đối với các địa phương khác.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy môn Kinh tế chính trị liên quan đến vấn đề phát triển CNCBNS.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phục lục.
11
Chương 1
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
1.1. Những vấn đề chung về công nghiệp chế biến và công nghiệp
chế biến nông sản
1.1.1. Quan niệm về công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến
nông sản
* Công nghiệp chế biến:
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội cho thấy sự hình thành ngành
CNCB gắn với phân công lao động xã hội dưới tác động của sự phát triển
LLSX. Phân công lao động xã hội đã phân chia nền sản xuất xã hội thành nhiều
thành 9 ngành đó là: Công nghiệp năng lượng, khai thác chế biến nguyên liệu;
Công nghiệp luyện kim; Công nghiệp chế tạo và sửa chữa thiết bị máy móc và
sản phẩm bằng kim loại; Công nghiệp hóa chất; Công nghiệp vật liệu xây dựng,
sành, sứ, thủy tinh, đá, gỗ và lâm sản; Công nghiệp lương thực, thực phẩm;
Công nghiệp dệt da, may mặc; Công nghiệp in và sản xuất các loại văn hóa
phẩm; và các ngành công nghiệp khác.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), thực hiện đường lối Đổi
mới, mở cửa, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nên việc
phân loại các ngành kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng đã được xác
định lại theo quan điểm mới nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lý và phù hợp với
sự phân chia theo tiêu chuẩn chung của quốc tế. Chính phủ đã ra Nghị định
75/CP ngày 27 tháng 10 năm 1993 Về việc ban hành “Hệ thống ngành kinh
tế quốc dân cấp I” [10, tr.7], và Quyết định số 143/TCTK/PPCĐ về việc ban
hành “Hệ thống ngành kinh tế cấp II cấp III và cấp IV” của Tổng cục trưởng
Tổng cục Thống kê ngày 22/12/1993 [54]. Theo cách phân loại mới này, các
ngành công nghiệp nước ta được chia làm 4 nhóm: Công nghiệp khai thác
mỏ; Công nghiệp chế biến; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt,
nước; Công nghiệp xây dựng. Với cách phân loại theo hai văn bản của Chính
phủ và Tổng cục Thống kê nêu trên, ta thấy CNCB là ngành kinh tế - kỹ thuật
độc lập, là một trong 4 nhóm của ngành công nghiệp. Bản thân CNCB lại bao
gồm nhiều nhóm ngành khác nhau nữa như: Công nghiệp lương thực - thực
phẩm; Công nghiệp dệt và may mặc; Công nghiệp đồ gỗ; Công nghiệp sản
13
xuất giấy và in; Công nghiệp hóa dầu; Công nghiệp luyện kim; Công nghiệp
chế biến các khoáng sản không phải kim loại...
Từ sự phân tích trên, theo tác giả: Công nghiệp chế biến là một phân
ngành kinh tế thuộc ngành công nghiệp, thông qua các hoạt động bảo quản,
cải biến mức độ, khả năng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng về giá trị sử
nông nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, nhất là thu nhập của
người dân nông thôn.
Về chức năng, nhiệm vụ: các nhà khoa học đều thống nhất rằng,
CNCBNS đảm nhiệm thực hiện các hoạt động bảo quản, cải biến, nâng cao
giá trị sản phẩm từ ngành nông nghiệp bằng phương pháp công nghiệp là chủ
yếu, nhất là ứng dụng những thành tựu mới nhất của KHCN trong quá trình
sản xuất, chế biến nông sản.
Về mục đích: CNCBNS nhằm tạo ra những sản phẩm phong phú, đa
dạng về chủng loại, có chất lượng và giá trị gia tăng cao, đáp ứng tốt nhu cầu
tiêu dùng trong nước cũng như cho xuất khẩu.
Như vậy, CNCBNS rất đa dạng về ngành nghề, sản phẩm, trình độ
KHCN... Nếu căn cứ vào công dụng của sản phẩm cũng như nguyên liệu chế
biến thì CNCBNS bao gồm các ngành hẹp như: ngành chế biến lương thực
(xay xát, chế biến các sản phẩm tinh bột); ngành chế biến trái cây, thức uống;
ngành chế biến các loại cây công nghiệp (dừa, mía...); ngành chế biến thức ăn
gia súc, gia cầm; ngành sản xuất chế biến đường, bánh kẹo; ngành chế biến
thịt, sữa và các sản phẩm từ thịt, sữa.
Từ sự phân tích nêu trên, theo tác giả: CNCBNS là một bộ phận của
ngành CNCB, sử dụng các phương pháp chế biến công nghiệp và một số phương
pháp khác để thực hiện các hoạt động bảo quản, cải tiến, nâng cao giá trị sử
dụng và giá trị nguyên liệu từ ngành nông nghiệp, nhằm tạo ra những sản phẩm
phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Như vậy, nếu tiếp cận theo yếu tố đầu vào là những sản phẩm có nguồn
gốc từ nông nghiệp, thì CNCBNS bao gồm nhiều ngành khác nhau. Trong
phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu ngành công nghiệp sản xuất
chế biến thực phẩm. Bởi lẽ, đây là ngành có tiềm năng, thế mạnh và được tỉnh Hải
Dương quan tâm triển khai thành đề án, với mục đích CNCBNS phát triển mạnh
15
thiết bị, công nghệ cần thiết. Giai đoạn này quyết định chất lượng sản phẩm
chế biến, làm gia tăng giá trị nông sản.
Hai là, sản phẩm của ngành CNCBNS gắn liền với nhu cầu cuộc sống
và ngày càng có nhu cầu cao hơn.
Do có nhiều yếu tố khác nhau (tâm lý tiêu dùng, tập quán tiêu dùng, thu
nhập tăng, tiến bộ KHCN, môi trường...) nên hiện đang có những xu hướng
tiêu dùng tác động mạnh mẽ đến việc phát triển CNCBNS: Xu hướng tăng
cường sử dụng các loại rau quả sạch; xu hướng tăng cường sử dụng các loại
nông sản đã qua chế biến. Hai xu hướng này làm cho các yêu cầu về VSATTP,
về đảm bảo chất dinh dưỡng, đảm bảo thời hạn sử dụng... ngày càng trở nên
nghiêm ngặt hơn. Điều này vừa có lợi cho CNCBNS nước ta trong cạnh tranh
với các sản phẩm của nước ngoài (do chưa có điều kiện sử dụng nhiều loại hóa
chất, chưa có điều kiện nuôi trồng nhân tạo nên phần lớn sản phẩm nông
nghiệp vẫn mang tính chất sản phẩm tự nhiên), nhưng đồng thời cũng tạo ra
những tác động bất lợi khác, đặc biệt là do công nghệ thường là công nghệ
thuộc các thế hệ cũ, không giải quyết được những yêu cầu mới nảy sinh.
Ba là, CNCBNS phát triển trong sự gắn bó mật thiết với nông nghiệp.
Nguyên liệu chính của CNCBNS là những sản phẩm của nông nghiệp
và hầu hết được sản xuất trong nước. Vì vậy, quy mô, tốc độ phát triển, cơ
cấu của CNCBNS phụ thuộc rất lớn vào quy mô, tính chất và trình độ phát
triển của sản xuất nông nghiệp. Nhưng mặt khác, là ngành chế biến các sản
phẩm của nông nghiệp nên CNCBNS lại là ngành đảm bảo đầu ra cho sản
xuất nông nghiệp, tạo động lực cho nông nghiệp phát triển. Tác động này của
CNCBNS sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa,
gắn với thị trường. Vì vậy, nếu thế mạnh của nông nghiệp nước ta là sản xuất
nhiều loại nông sản phẩm nhiệt đới thì việc phát triển CNCBNS sẽ tạo điều
kiện khai thác ngày càng tốt và có hiệu quả hơn thế mạnh đó. Tuy vậy, nhận
thức đặc điểm này cần lưu ý tới các vấn đề sau:
năng thu hút vốn đầu tư cao hơn.
Các đặc điểm trên quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh mối quan hệ
giữa LLSX với các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất; phản ánh mối
quan hệ giữa trình độ KHCN với thị trường. Cần nhận thức đúng các đặc
18
điểm trên và mối quan hệ giữa chúng để tác động có hiệu quả đến sự phát
triển ngành CNCBNS.
1.1.3. Vai trò của ngành công nghiệp chế biến nông sản đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội
Thứ nhất, CNCBNS góp phần kích thích, định hướng cho sản xuất nguyên liệu
Với tư cách là cầu nối giữa nguyên liệu với thị trường, CNCBNS có tác
dụng giữ gìn chất lượng nguyên liệu, tạo ra những sản phẩm có chất lượng
tốt, nhờ đó thu được lợi nhuận cao. CNCBNS chính là thị trường đầu ra của
khâu nguyên liệu. Nó có tác dụng định hướng về các mặt quy mô, cơ cấu,
kích cỡ, chất lượng, giá cả cho khâu sản xuất nguyên liệu một cách trực tiếp.
Việc ngành nông nghiệp sản xuất cái gì, sản xuất ra sao, khai thác như thế nào
phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của CNCB. Nếu không có CNCBNS thì
sản phẩm nông nghiệp không có nguồn tiêu thụ ổn định, sản xuất nông nghiệp
khó đưa lại hiệu quả kinh tế, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô, kém
khả năng cạnh tranh, bị thương lái chèn ép và thường bị thua thiệt.
Thứ hai, công nghiệp chế biến nông sản phát triển sẽ thúc đẩy nông
nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn
Nguồn nguyên liệu chính của CNCBNS là từ nông nghiệp nên để
ngành này phát triển tất yếu đòi hỏi nông nghiệp phải phát triển theo hướng
thâm canh, đa dạng hóa, tạo ra các loại sản phẩm, các vùng chuyên canh, có
năng suất cao, khối lượng hàng hóa lớn. CNCBNS phát triển sẽ tạo điều kiện
để nông nghiệp phát triển thuận lợi qua việc nâng cao hiệu quả của sản xuất
nông nghiệp, từ đó tăng khả năng tích lũy, tăng khả năng đầu tư mở rộng quy
không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn có tác dụng mạnh mẽ đối với
đời sống xã hội, nhất là ở địa bàn nông thôn. Tác dụng của CNCBNS được
thể hiện ở việc khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của kinh tế nông
nghiệp, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo
giữa thành thị và nông thôn.
Không những thế, sự phát triển của CNCBNS còn tác động mạnh đến
nhiều ngành kinh tế khác như công nghiệp, dịch vụ…, là giải pháp quan trọng
trong quá trình thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao hiệu quả
nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Sự
20
phát triển của CNCBNS là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá
trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
Ở nước ta hiện nay, CNCBNS có vị trí rất quan trọng trong sự phát
triển KT-XH. Một số sản phẩm của CNCBNS có giá trị xuất khẩu tăng như
chè, cà phê, cao su, thủy hải sản... đã thu được nguồn ngoại tệ lớn cho đất
nước. Tuy vậy, ngành CNCBNS ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế về số
lượng cơ sở chế biến, chất lượng chế biến nông sản chưa cao, khả năng cạnh
tranh trên thị trường còn thấp. Vấn đề đặt ra đối với CNCBNS là cần phát huy
lợi thế, khắc phục những hạn chế, mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước.
1.2. Quan niệm, nội dung và những nhân tố tác động đến phát triển
công nghiệp chế biến nông sản ở tỉnh Hải Dương
1.2.1. Quan niệm phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở
tỉnh Hải Dương
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản là đòi hỏi tất yếu đối với
một tỉnh nông nghiệp trong tiến trình CNH, HĐH. Là một trong những giải
pháp quan trọng để thực hiện thắng lợi chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp
của Đảng. Phát triển CNCBNS để sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu,
nhu cầu của thị trường.
Đối với các cơ sở sản xuất, hộ gia đình, doanh nghiệp chế biến nông
sản (gọi chung là doanh nghiệp CNCBNS) thuộc mọi thành phần kinh tế cần
nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở các cấp, có kế
hoạch thu mua nông sản của nông dân kịp thời vụ, với giá cả hợp lý, tổ chức
sản xuất kinh doanh ổn định, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm, hiệu quả kinh tế.
Phương thức phát triển: kết hợp sử dụng các quy luật của cơ chế thị
trường và các chính sách tác động của hệ thống chính quyền các cấp để phát
triển CNCBNS; kết hợp tăng cường đầu tư, xây dựng mới các doanh nghiệp
CNCBNS với mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh các
doanh nghiệp chế biến đã có.
1.2.2. Nội dung phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở tỉnh Hải Dương
Thứ nhất, phát triển về quy mô các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và khai thác có
hiệu quả nguồn nguyên liệu phong phú từ nền nông nghiệp của tỉnh, trong
22
thời gian tới tỉnh Hải Dương cần phải mở rộng về quy mô, tăng thêm số lượng
các doanh nghiệp chế biến nông sản, cụ thể là:
Sắp xếp lại các doanh nghiệp CNCBNS trong tỉnh cho hợp lý. Các
doanh nghiệp CNCBNS phải đặt ở địa điểm gần đường giao thông, gần cảng,
thị trường tiêu thụ và đặc biệt phải ở gần vùng sản xuất nguyên liệu, nhất là
những vùng nguyên liệu tập trung như các trang trại hay các vùng chuyên canh.
Nâng cấp các doanh nghiệp CNCBNS hiện có trong tỉnh, bao gồm đầu
tư nâng cấp các kho tạm trữ, bảo quản nông sản, tăng công suất của các doanh
nghiệp đang hoạt động hiệu quả, mua sắm máy móc, trang thiết bị phục vụ quá
trình chế biến.
ứng nhu cầu sản xuất, yêu cầu vận hành các dây chuyền thiết bị hiện đại, công
nghệ tiên tiến.
* Nâng cao cơ sở vật chất, trình độ kỹ thuật công nghệ trong các doanh
nghiệp chế biến nông sản:
Tích cực đầu tư xây dựng CSHT phục vụ sản xuất nguyên liệu và chế biến.
Xây dựng và nâng cấp các kho, trạm thu mua, sơ chế, bảo quản nông sản sau thu
hoạch. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp chế biến
hiện có theo hướng hiện đại, hiệu quả, quy mô hợp lý.
Sử dụng công nghệ chế biến nhiều tầng, trước mắt tận dụng kinh
nghiệm sơ chế bảo quản nông sản cũng như kỹ thuật chế biến nông sản truyền
thống (chế biến thủ công ở một số khâu) đã được nhân dân ta tích lũy qua
nhiều thế hệ. Đồng thời tăng cường trang bị dây chuyền sản xuất đồng bộ,
tiên tiến, áp dụng công nghệ chế biến hiện đại để nâng cao năng lực sơ chế,
bảo quản và năng lực chế biến nông sản. Tập trung vào phát triển công nghệ
sấy, đầu tư nâng cấp các kho bảo quản, tạm trữ, phát triển công nghệ bảo quản
rau quả, thủy sản tươi.
Nâng cao trình độ sản xuất của các doanh nghiệp CNCBNS, từng bước
phát triển năng lực chế biến công nghiệp. Áp dụng mạnh mẽ KHCN, đi thẳng
vào công nghệ hiện đại.
* Nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm:
Tăng năng suất lao động, chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào cho
phát triển CNCBNS bằng cách đưa nhanh tiến bộ KHCN và tăng cường cơ sở
24
vật chất kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp. Sử dụng những ưu thế và đặc tính
sinh học của các loại giống mới nhằm thu được nhiều sản phẩm nông sản có
chất lượng cao trên mỗi đơn vị diện tích ruộng đất hoặc mỗi đầu con gia súc.
Tỉnh cần lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái
của từng địa phương, từng loại ruộng đất, từng mùa vụ nhằm khai thác tốt nhất