MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY
10
10
1.1.
1.2.
Một số vấn đề lý luận về giảm nghèo bền vững ở tỉnh Hà Nam
Sự cần thiết và những nhân tố tác động đến giảm nghèo bền
1.3.
vững ở tỉnh Hà Nam
20
Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của một số địa
phương trong nước và bài học đối với tỉnh Hà Nam
26
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở TỈNH
2.1.
HÀ NAM THỜI GIAN QUA
33
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến giảm
nghèo bền vững ở tỉnh Hà Nam
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
82
PHỤ LỤC
88
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đói nghèo là một hiện tượng xã hội, một phạm trù lịch sử, thu hút sự
quan tâm của cả cộng đồng quốc tế. Trong thế giới đương đại, nhiều quốc gia
trên thế giới đã nỗ lực xóa đói nghèo và đạt được những thành tựu nhất định.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hàng tỷ người ở nhiều quốc gia vẫn còn nghèo khổ;
cuộc chiến chống đói nghèo gặp nhiều khó khăn, thách thức không thể giải
quyết triệt để một sớm một chiều. Vì vậy, đây là vấn đề các chính phủ, các nhà
lãnh đạo, các tổ chức quốc tế quan tâm để tìm ra giải pháp hạn chế và tiến tới
xoá bỏ cuộc sống nghèo khổ trên phạm vi toàn cầu... Bước vào thế kỷ XXI, đói
nghèo vẫn là một trong những thách thức lớn của nhân loại. XĐGN được coi là
một trong những nhiệm vụ quan trọng ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu phát
triển của thế giới hiện đại.
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề XĐGN luôn được Đảng, Nhà nước và
toàn xã hội quan tâm thực hiện trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc XHCN, đồng thời xem đó là nhiệm vụ quan trọng để phát triển nhanh và
bền vững. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng
định: “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo
ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hóa các nguồn lực và
phương thức xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn,
phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói, giảm nghèo
Ph.Ăngghen đã từng đề cập vấn đề nghèo dưới góc độ kinh tế chính trị ở
nhiều tác phẩm như: “Bản thảo kinh tế - triết học”, “Tình cảnh giai cấp công
nhân ở Anh”, “Lao động làm thuê và tư bản”, đặc biệt là bộ “Tư bản” rất nổi
tiếng. Hai ông đã phân tích sâu sắc bản chất bóc lột của giới chủ tư sản, sự đối
lập giàu - nghèo, thảm cảnh của những người lao động làm thuê, lao động bị
tha hóa trong xã hội tư bản và nguyên nhân của thực trạng đó. Đồng thời, các
ông còn vạch rõ con đường, biện pháp giải quyết triệt để sự bất công, bất bình
đẳng và nghèo đói trong xã hội tư bản.
Trong một số tác phẩm của mình, V.I. Lênin đã đề cập đến thực trạng
và nguyên nhân đói nghèo của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân ở
nước Nga. Tiêu biểu là các tác phẩm: “Gửi nông dân nghèo”, “Sự phát triển
của chủ nghĩa tư bản ở Nga”, “Những biến đổi về kinh tế trong đời sống nông
4
dân”. Đặc biệt, Lênin đã khởi xướng và lãnh đạo thành công việc thực hiện
Chính sách kinh tế mới (NEP), khắc phục được sự khủng hoảng trầm trọng về
KT - XH, giải quyết nạn đói nghèo của nhân dân trong những năm đầu chính
quyền Xô viết non trẻ mới được thành lập.
Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến
tình trạng đói nghèo của nhân dân trong nước và người dân ở các nước thuộc
địa. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng này và con đường giải
phóng các dân tộc bị áp bức, bóc lột, đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc
cho các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động. Người đã xác định “đói”
cũng là một loại giặc và phải kiên quyết “Diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại
xâm”. Trong cách mạng XHCN, Người đề xuất chủ trương: “Làm cho người
nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm”,
“Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”...
Trong cuốn “Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay” [Nguồn:
Viện phát triển quốc tế Harvard, nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1994], các tác
điều hòa quan hệ phân phối giữa khu vực thành thị và nông thôn. Đây cũng là
một gợi ý rất thiết thực trong hoạch định chính sách, giải pháp XĐGN ở nước
ta hiện nay.
* Các công trình và bài viết của tác giả trong nước
Từ trước cho đến nay, đã có nhiều cuốn sách, nhiều bài viết của các
tác giả được xuất bản đề cập đến đói nghèo và công tác XĐGN ở Việt Nam
nói chung, các khu vực và địa phương nói riêng. Đáng chú ý là công trình
nghiên cứu “Đói nghèo ở Việt Nam” của Bộ LĐ-TB&XH. Trong công trình
này, các tác giả đã đưa ra quan niệm, tiêu chuẩn đánh giá về nghèo đói, cung cấp
một bức tranh khá sinh động, sát thực về đói nghèo, những thành tựu và hạn chế
trong công tác xóa đói giảm XĐGN Trong cuốn “Nghèo đói và xoá đói giảm
nghèo ở Việt Nam” của Lê Xuân Bá và Chu Tiến Quang (đồng chủ biên), xuất
bản năm 2001, các tác giả đã tập trung làm sáng tỏ vấn đề nghèo đói với những
số liệu, tư liệu sống động, cùng những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này,
đồng thời đưa ra các biện pháp để XĐGN ở Việt Nam. Nhóm các tác giả trong
“Ảnh hưởng của tự do hóa giá cả và cải cách thị trường đối với tình trạng nghèo
đói tại nông thôn Việt Nam”, tập trung bàn về vấn đề nghèo đói ở nông thôn Việt
Nam và sự tác động của giá cả, thị trường đến nghèo đói. Trên cơ sở đó đưa ra
6
những khuyến nghị nhằm khắc phục vấn đề này.
Nhiều công trình, bài viết hướng vào giới thiệu mô hình, kinh nghiệm
XĐGN. Tiêu biểu là cuốn “Những mô hình, kinh nghiệm giảm nghèo ở Việt
Nam” của Bộ LĐ-TB &XH, xuất bản năm 2007; bài viết “Làm theo lời Bác,
lực lượng vũ trang Quân khu 5 thực hiện tốt mô hình “xóa một hộ đói, giảm
một hộ nghèo” của Trần Quang Phương, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12,
2013... Vấn đề được bàn đến trong các công trình, bài viết này khá bổ ích, nó
đã giới thiệu, cập nhật được một số mô hình, kinh nghiệm giảm nghèo có hiệu
quả, giúp cho việc tiếp cận, nghiên cứu và áp dụng phù hợp với điều kiện thực
GNBV ở tỉnh Hà Nam dưới góc độ kinh tế chính trị. Có thể khẳng định, đề
tài tác giả lựa chọn không trùng với các công trình nghiên cứu khác.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề GNBV ở tỉnh Hà Nam; từ đó
đề xuất quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu đẩy mạnh GNBV ở tỉnh Hà Nam
thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải và làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm về GNBV ở tỉnh
Hà Nam.
- Đánh giá thực trạng GNBV ở tỉnh Hà Nam thời gian qua.
- Đề xuất các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu thực hiện GNBV
ở tỉnh Hà Nam thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Giảm nghèo bền vững trong giai đoạn hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về GNBV trên địa bàn
tỉnh Hà Nam.
Về thời gian: Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu, phân tích số liệu
từ năm 2005 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Luận văn dựa vào cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
8
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm rõ cơ
sở lý luận và thực tiễn vấn đề giảm nghèo bền vững ở tỉnh Hà Nam.
Đề tài tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về GNBV của các
Đói, nghèo là một hiện tượng lịch sử, có thể sinh ra, tồn tại, phát triển và
mất đi ở mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi quốc gia hay mỗi chế độ xã hội.
Vấn đề đói, nghèo đã thu hút được nhiều nhà khoa học, nhiều học giả, nhiều
trường phái trong lịch sử cũng như hiện tại quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên,
mỗi thời đại khác nhau, ý thức hệ và cách tiếp cận khác nhau dẫn đến lý giải
khác nhau về bản chất, nguyên nhân và cách giải quyết đói, nghèo.
Các nhà triết học duy tâm dựa vào các lực lượng siêu nhiên như Chúa
trời, thánh thần để giải thích hiện tượng đói, nghèo, từ đó họ khuyên mọi
người nên an phận, thủ thường, chấp nhận với cuộc sống hiện tại. Khổng Tử,
nhà triết học Trung Quốc cổ đại, người sáng lập ra học thuyết Nho giáo đã đề
cập đến đói, nghèo trong quan điểm “thiên mệnh” của mình. Theo ông, mệnh
trời là ý trời, trời cho người ta sống được sống, bắt chết phải chết, cho giàu
được giàu, bắt nghèo phải nghèo. Đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm, không
có cơ sở khoa học và đã bị Mặc Tử, nhà triết học duy vật sau này phê phán.
Trong quan điểm “phi thiên mệnh”, Mặc Tử cho rằng: Giàu, nghèo, thọ, yểu
không phải do định mệnh của trời mà do con người, nếu người ta nỗ lực làm
việc, tiết kiệm tiền của thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói.
Thomas Robert Malthus (1766 - 1884), học giả kinh tế học tư sản cho rằng:
Đói, nghèo là do tình trạng dân số tăng theo cấp số nhân, của cải tăng theo cấp
số cộng, nên lượng lương thực, thực phẩm và các tư liệu sinh hoạt cần thiết khác
cho cuộc sống con người sẽ tụt xuống dưới mức cần thiết. Vì vậy, một bộ phận
dân cư phải sống trong điều kiện đói, nghèo là lẽ đương nhiên. Sai lầm của
Thomas Robert Malthus là đã so sánh sự gia tăng dân số cơ học ở Mỹ với tăng
tư liệu tiêu dùng ở Pháp để đưa ra mệnh đề trên. Mặt khác, ông không tính đến
10
sự phát triển của tiến bộ khoa học và đặc điểm phát triển của nhân khẩu học.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã từng đề cập đến đói, nghèo trong xã hội tư
bản. Trong nhiều tác phẩm của mình, các ông đã phác họa “bức tranh” chân
người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”.
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995 đã đưa ra định nghĩa về nghèo: "Người
nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 USD (đô la) mỗi ngày cho
mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại".
Nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình XĐGN
ở Việt Nam, năm 1995, cho rằng: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc
tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”.
Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đưa ra định nghĩa: “Nghèo là một khái
niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ
gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến
năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương,
không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”.
Mặc dù còn có những nội dung khác nhau, nhưng các quan niệm trên
đều có điểm chung là: Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, đó
là thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm
tiêu dùng ở mức độ tối thiểu, đặc biệt là những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương
trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó
khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình
ra quyết định, có cảm giác không được người khác tôn trọng.
Từ quan niệm chung này, người ta còn đi sâu nghiên cứu và đưa ra hai
khái niệm khác, đó là nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối.
Nghèo tương đối, là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay
một nhóm dân cư này thấp so với mức sống của cộng đồng hay nhóm dân cư
khác. Quan niệm này có phần phiến diện, vì nếu đặt trong sự so sánh thu nhập
giữa các nhóm dân cư trong xã hội, chẳng hạn chia xã hội thành năm nhóm
theo thu nhập, thì ở bất cứ xã hội nào cũng có nhóm giàu nhất, nhóm nghèo
nhất và nhóm trung bình. Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy, ngay trong nhóm
12
13
Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai
đoạn 2011 - 2015 như sau:
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000
đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000
đồng đến 650.000 đồng/người/tháng [xem phụ lục 1].
Như vậy, chuẩn hộ nghèo, cận nghèo tiếp cận, đo lường thông qua tiêu chí
thu nhập. Phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo bằng thu nhập đã bộc lộ những hạn
chế. Thực tế, có những nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng được bằng tiền, có
những người tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại không tiếp cận được một số
nhu cầu cơ bản về điều kiện sống, y tế, giáo dục, thông tin... Nếu chỉ sử dụng
thước đo thu nhập thì chưa phản ánh đầy đủ, chính xác, thậm chí bỏ sót đối tượng
nghèo. Vì vậy, chuẩn nghèo mới cần tiếp cận đa chiều, gồm: Y tế, giáo dục, điều
kiện sống, tiếp cận thông tin, bảo hiểm và trợ giúp xã hội.
Từ trước đến nay, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đối
với hộ nghèo nông thôn và thành thị được đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, giúp
vốn sản xuất, chăn nuôi, hoặc những chương trình hỗ trợ xây nhà. Ngoài ra, còn
rất nhiều chương trình an sinh xã hội khác, đã giúp cho nhiều gia đình thoát
nghèo, vươn lên khá giàu.
Tuy nhiên, có những khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã
hội, trình độ và chất lượng nguồn nhân lực giữa các khu vực, các vùng trong cả
nước và ngay cả trong một tỉnh, do đó, việc giảm nghèo cần phải tính đến đặc
nghèo là quá trình xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và chế độ phân
phối này. Còn nếu hiểu nghèo là do tình trạng thất nghiệp gia tăng, hoặc xã hội rơi
vào khủng hoảng, suy thoái thì giảm nghèo là tạo nhiều việc làm, xã hội ổn định và
phát triển...
15
* Quan niệm về giảm nghèo bền vững
Bền vững theo tiếng Anh: Sustainability là khả năng duy trì. Trong sinh
thái học, từ “bền vững” lý giải cách thức hệ thống sinh học duy trì được sự đa
dạng giống loài và sinh sôi theo thời gian. Những vùng đất ẩm ướt và khu
rừng tươi tốt lâu đời là điển hình cho hệ thống sinh học bền vững. Đối với con
người, tính bền vững là khả năng duy trì lâu dài trạng thái sức khỏe tốt, điều
này chịu ảnh hưởng bởi môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Theo Từ điển tiếng Việt, bền vững là vững chắc và bền lâu [36, tr.45].
Trong nhiều thập kỷ qua, nhiều quốc gia trên thế giới chỉ quan tâm đến
tăng trưởng về mặt kinh tế, ít chú trọng đến mặt xã hội và môi trường sống,
dẫn đến những hậu quả tiêu cực và kém tính bền vững trong phát triển. Vì
vậy, phát triển bền vững là yêu cầu tất yếu đặt ra đối với mọi quốc gia trên thế
giới. Năm 2002, tại Johannesburg - Cộng hòa Nam Phi, Hội nghị Thượng
đỉnh thế giới về phát triển bền vững đã tổng kết và đánh giá lại 10 năm thực
hiện Chương trình Nghị sự phát triển bền vững toàn cầu, trên cơ sở đó bổ
sung và hoàn chỉnh khái niệm về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là
quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của
sự phát triển, đó là: Phát triển kinh tế; phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
nhằm đáp ứng nhu cầu và đời sống của con người trong hiện tại, nhưng không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Từ những quan niệm trên, tác giả cho rằng: GNBV là hoạt động có tính
chủ động, tích cực của các chủ thể lãnh đạo, quản lý nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội, các chủ thể kinh tế, doanh nghiệp và sự nỗ lực vươn lên của
nghèo đã xác định theo tiêu chí chung (tùy theo thời gian nhất định) trên địa
bàn tỉnh.
Mục tiêu GNBV là căn cứ vào các tiêu chí vùng nghèo, hộ nghèo và
người nghèo đã xác định trong từng giai đoạn để phấn đấu giảm dần tỉ lệ vùng
nghèo, hộ nghèo và người nghèo hàng năm một cách vững chắc, tiến tới
không còn vùng nghèo, hộ nghèo, người nghèo trên địa bàn tỉnh. Phương thức
giảm nghèo là: Phát triển kinh tế bền vững, thực hiện tốt các chính sách an sinh
xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái; tạo ra các điều kiện vật chất - kỹ thuật hỗ
trợ các đối tượng nghèo vươn lên thoát nghèo theo phương châm “Cho cần câu,
dạy cách câu, chứ không chỉ cho xâu cá”.
17
* Nội dung giảm nghèo bền vững ở tỉnh Hà Nam
Nội dung của chương trình giảm nghèo xét trên giác độ các vấn đề
can thiệp bao gồm nhiều biện pháp được sử dụng như: hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ
đất đai sản xuất và nhà ở, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ y tế và giáo dục...
các biện pháp này có thể chia thành ba nhóm chính: Nhóm các chính sách hỗ
trợ cho người nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập; nhóm các chính sách
tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và nhóm các
chính sách tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người nghèo. Căn cứ vào
điều kiện cụ thể của địa phương, có thể xác định nội dung GNBV ở Hà Nam
như sau:
Một là, đẩy mạnh phát triển KT - XH của địa phương bền vững, tạo ra
các điều kiện, cơ hội để các đối tượng nghèo và dân cư địa phương có việc
làm, thu nhập ổn định, trang trải được các nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
Khi đánh giá vấn đề nghèo đói, các tổ chức quốc tế cũng như các nước khác
nhau lựa chọn phương pháp và chỉ tiêu đánh giá cơ bản giống nhau, song cách
xác định và mức độ cụ thể có những khía cạnh khác nhau. Để làm căn cứ tính
toán mức nghèo đói người ta đều thống nhất dựa vào hai loại chỉ tiêu sau:
Điều đó cho thấy: Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng
nghèo, tạo điều kiện cho hộ nghèo, người nghèo được tiếp cận hệ thống cơ sở
hạ tầng tốt hơn đi đôi với nâng cao trình độ SXKD cho hộ nghèo, người
nghèo là một nội dung quan trọng trong công tác GNBV ở Hà Nam hiện nay.
Ba là, hỗ trợ về cơ chế, chính sách và bảo đảm an sinh xã hội đối với
các đối tượng nghèo. Một nội dung quan trọng của GNBV là phải tạo điều
kiện để giúp người nghèo tiếp cận có hiệu quả với các dịch vụ y tế, dịch vụ tài
chính, tín dụng và tiến bộ khoa học - công nghệ. Hỗ trợ người nghèo về y tế
để họ có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, hạn chế được bệnh tật, từ đó có
điều kiện tái sản xuất sức lao động, đây là yếu tố quan trọng để tăng trưởng về
phát triển.
Người nghèo là những người có thu nhập thấp nên những lao động
nghèo thường thiếu vốn để kinh doanh, thiếu kinh nghiệm sản xuất, thiếu thông
tin thị trường và thiếu kiến thức về KHCN. Do vậy, hoạt động giảm nghèo phải
hỗ trợ cho người nghèo có được sự tiếp cận tốt hơn những yếu tố trên.
Bốn là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực
19
hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở địa phương. KTTT có tác dụng to lớn trong
việc giải phóng các động lực tăng trưởng kinh tế, song lại là tác nhân thúc đẩy
phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn. Do vậy, giải quyết tốt mối quan hệ tăng
trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội ở địa phương cũng là một nội
dung, yêu cầu của GNBV.
Trong thực tiễn công tác giảm nghèo diễn ra tình trạng khá phổ biến là có
nhiều hộ gia đình sau khi thoát nghèo một thời gian, nhưng do nhiều nguyên
nhân khác nhau như: gặp rủi ro trong kinh doanh, ốm đau, do tác động của
phân hoá giàu - nghèo của quá trình phát triển... lại trở thành những hộ nghèo
(tái nghèo). Vì vậy, nhiệm vụ của công tác giảm nghèo không chỉ hỗ trợ để hộ
nghèo, người nghèo sinh tồn và vượt qua ngưỡng nghèo một cách thụ động
thuận trong xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo, sự chênh lệch mức
sống giữa các khu vực, tầng lớp dân cư; củng cố và giữ vững niềm tin của
nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền địa phương; đồng thời, góp phần đẩy lùi
tiêu cực và tệ nạn xã hội... Chỉ tiêu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần
thứ XIX, khóa 2015 – 2020 đề ra: Giải quyết việc làm mới bình quân 16.000
lao động/năm; đến năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn 3,3%; tỷ
lệ nghèo bình quân giảm 1,3%/năm trở lên [47, tr.22]
Về quốc phòng - an ninh: GNBV góp phần tăng thêm nguồn lực để
củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Đẩy lùi
việc lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, phát triển KT - XH và
khoảng cách giàu - nghèo trên địa bàn tỉnh để chống phá cách mạng của các
thế lực phản động, thù địch.
Ba là, GNBV nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững
của tỉnh.
Trên phương diện nào đó, xét về ngắn hạn, khi phân phối một phần
đáng kể trong thu nhập xã hội cho chương trình giảm nghèo thì nguồn lực
dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị ảnh hưởng, song xét một cách toàn
diện về dài hạn thì kết quả GNBV lại tạo tiền đề cho tăng trưởng nhanh và
bền vững. Mặt khác, GNBV phản ánh rõ nét bản chất ưu việt của chế độ
XHCN là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
cho nhân dân, đẩy lùi bất bình đẳng và đói nghèo. GNBV trên địa bàn tỉnh
Hà Nam mặc dù phải đối diện với những khó khăn, thách thức không nhỏ cần
21
phải vượt qua, song những tiền đề và điều kiện cơ bản đã được tạo dựng trong
nhiều năm qua là cơ sở hiện thực, đồng thời, việc khảo sát nghiên cứu đánh
giá đúng thực trạng và tìm ra chủ trương, quyết sách và giải pháp GNBV
đúng, trúng, hiệu quả sẽ đem lại sự thành công, theo đó, mục tiêu phát triển
bền vững của tỉnh sẽ được hiện thực hóa.
thị trấn huyện lỵ tiềm năng vào năm 2015 trên tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TU
của Tỉnh ủy Hà Nam về phát triển đô thị [47, tr.6,22]. Nhờ quá trình CNH, HĐH và
đô thị hóa ở Hà Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, mang lại diện
mạo mới, thúc đẩy phát triển KT - XH; đồng thời góp phần quan trọng vào quá
trình GNBV của tỉnh.
Đồng thời, với tác động tích cực của CNH, HĐH và đô thị hóa, thì nguy cơ
xuất hiện tác động tiêu cực là rất lớn, làm cản trở việc thực hiện mục tiêu không
ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Bên cạnh những bộ phận dân cư có thể
nhanh chóng ổn định cuộc sống cũng như hoạt động kinh doanh, một bộ phận dân cư
không nhỏ chịu tác động tiêu cực của đô thị hóa cần được quan tâm giúp đỡ để
không rơi vào tình trạng nghèo hoặc tái nghèo. Vì phần lớn người nghèo có nhận
thức và hiểu biết về vấn đề nghèo và cách thức, biện pháp thoát nghèo rất hạn
chế. Người nghèo ở nước ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng thường tập
trung ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi đang chịu ảnh hưởng rất
lớn của những tập quán, thói quen canh tác, sản xuất lạc hậu, được truyền từ
đời này sang đời khác nên rất khó thay đổi với tư tưởng bảo thủ, không chịu
tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn mới đã và đang là nhân tố cản trở
người nghèo vươn lên phát triển SXKD.
Một số hộ khác do thiếu kiến thức, kinh nghiệm, thông tin về thị
trường, cách thức, tổ chức SXKD không phù hợp dẫn đến bị thua lỗ, thậm chí
phá sản. Rất nhiều hộ nghèo được nhận hỗ trợ từ phía Nhà nước, của tỉnh
song đã không cố gắng để thoát nghèo, tâm lý trông chờ, ỷ lại vào các nguồn
hỗ trợ, cho nên hỗ trợ hết lại tiếp tục nghèo. Tình trạng trên làm cho các chính
sách giảm nghèo thường khó đạt được hiệu quả như dự định, tái nghèo cao.
Do đó, đòi hỏi trong các chính sách giảm nghèo, ngoài các cơ chế hỗ trợ thì
cần phải khơi dậy và phát huy tinh thần tự lực, khát vọng cho người nghèo
tự vươn lên GNBV, không trông chờ, ỷ lại.
23
24
[18, tr.235-236]. Nhờ thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn đó, đã mở ra
nhiều cơ hội thuận lợi, thu hút nguồn lực quan trọng từ bên ngoài, kết hợp
giữa phát huy nội lực với ngoại lực tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa đến những
thành tựu to lớn về phát triển KT - XH, quốc phòng - an ninh được củng cố,
bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc. Quá trình hội nhập ngoài việc tăng vị thế trên trường quốc tế
nước ta và tỉnh Hà Nam cũng đã thu hút được một số lượng đáng kể vốn đầu
tư nước ngoài (Nhật Bản, Hàn Quốc...) và viện trợ phát triển chính thức quốc
tế (từ năm 2011 đến 31/3/2015 toàn tỉnh đã thu hút được 191 dự an, trong đó
có 88 dự án của FDI) [47, tr.2]; tiếp thu những thành tựu mới về khoa học
công nghệ cũng như tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý tiên tiến phục
vụ cho sự phát triển của đất nước, của tỉnh.
Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế có tác động hai mặt tới GNBV, vừa
tạo cơ hội thu hút nguồn lực cho giảm nghèo, song cũng làm trầm trọng thêm
tình trạng phân hóa giàu nghèo và nghèo đói trong nước. Tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, bên cạnh những cơ hội thì Việt Nam nói
chung và tỉnh Hà Nam nói riêng cũng phải đối mặt với những thách thức
nghiêm trọng, đặc biệt là những vấn đề trực tiếp tác động đến đói, nghèo.
Kinh tế trong nước và của tỉnh chịu ảnh hưởng mạnh của những biến động
trên thế giới như khủng hoảng, giá cả gia tăng, trong khi nội lực còn hạn chế,
yếu kém. Điều này tác động đến SXKD và giá cả các mặt hàng trên địa bàn
của tỉnh, mà người nghèo luôn là nhóm đối tượng khó khăn nhất khi giá cả
các mặt hàng phục vụ sản xuất và sinh hoạt tăng.
Năm là, sự biến đổi khó lường của khí hậu thời tiết, dịch bệnh.
Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh đang trở thành những
vấn đề mang tính toàn cầu. Nước ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng chịu
ảnh hưởng lớn của sự biến đổi khí hậu dẫn đến thời tiết, khí hậu ngày càng
sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với các cấp cơ sở và
người dân; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát từ cấp tỉnh đến huyện đối
với tiến độ thực hiện các dự án; dân chủ trong xây dựng các dự án nên tính
khả thi của dự án cao.
* Kinh nghiệm của tỉnh Sóc Trăng: Là một tỉnh ven biển thuộc đồng
bằng sông Cửu Long, nằm ở hạ nguồn sông Hậu, có diện tích tự nhiên 3.223
26