DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Hợp tác xã
HTX
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC
13
1.1.
Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt
ra từ thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở
Chương 3
tỉnh Phú Thọ
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
55
HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH PHÚ
63
3.1.
THỌ THỜI GIAN TỚI
Quan điểm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh
63
3.2.
Phú Thọ thời gian tới
Giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh
Phú Thọ thời gian tới
71
91
92
97
không nhỏ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh, nhất là giải
quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, sự phát triển của HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ còn bộc lộ những bất cập, hạn chế như: HTX nông nghiệp chưa thật sự
vững mạnh, nội lực còn yếu kém, quy mô dịch vụ nhỏ, năng lực cạnh tranh
yếu; hầu hết các HTX nông nghiệp còn gặp khó khăn về nguồn lực, kinh
nghiệm tham gia thị trường, sự gắn kết của các thành viên với HTX nông
nghiệp ở một số nơi còn hạn chế; một số cấp ủy, chính quyền địa phương
3
chưa quan tâm đúng mức đến công tác đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu
quả kinh tế tập thể… Hiện nay, khó khăn lớn nhất đối với HTX nông nghiệp
là lựa chọn mô hình phát triển như thế nào, đặc biệt từ khi Luật Hợp tác xã
năm 2012 có hiệu lực. Những hạn chế, khó khăn đó đã làm cho HTX nông
nghiệp chưa phát huy được vị thế, tiềm năng, đóng góp chưa xứng đáng vào
phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
Điều đó cho thấy, để phát triển HTX nông nghiệp thì những khó khăn,
hạn chế trên phải được khắc phục. Đó là vấn đề đặt ra cần nghiên cứu giải
quyết để HTX nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ phát triển. Bởi vậy, việc nghiên
cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển HTX nông nghiệp
ở tỉnh Phú Thọ là cần thiết, cấp bách hiện nay. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề
tài: “Phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn
chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phát triển kinh tế tập thể, trong đó nòng cốt là phát triển HTX nông
nghiệp đã được nhiều đề tài nghiên cứu, công bố trên các góc độ tiếp cận và
chuyên ngành khác nhau, điển hình trong số đó là:
* Các công trình nghiên cứu liên quan đến hợp tác xã, phát triển hợp tác xã
bằng sông Hồng đến năm 2010. Có thể nói đây là một công trình có nội dung
nghiên cứu khá toàn diện, bao gồm cả lý luận và thực tiễn về HTX, phát triển
HTX.
Nguyễn Thị Hồng Lâm (2005), Hợp tác xã ở nước ta hiện nay, những
vấn đề đặt ra và phương hướng phát triển, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.
Tác phẩm đã làm rõ thực trạng phát triển HTX ở nước ta, từ đó kiến nghị một
số phương hướng phát triển HTX trong thời gian tiếp theo. Đây là một tác
phẩm đề cập cả đến những vấn đề lý luận và thực trạng phát triển HTX.
Phan Văn Hiếu - chủ nhiệm đề tài (2011), Điều tra, đánh giá thực
trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã trên
5
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Đề tài khoa học cấp tỉnh, Trường Chính trị tỉnh
Quảng Ngãi. Đề tài tiếp cận bằng phương pháp nghiên cứu, tổng kết thực tiễn
và rút ra các bài học kinh nghiệm về các loại hình HTX, từ đó đề xuất mô
hình HTX hoạt động hiệu quả trong giai đoạn tới ở Quảng Ngãi. Đề tài góp
phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển HTX
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Bùi Văn Huyền, Phạm Văn Sáng, Nguyễn Quốc Thái (2011), Hợp tác
xã – nhìn từ thực tiễn Đồng Nai, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Các tác giả tập trung trình bày một số vấn đề lý luận về HTX, kinh nghiệm
phát triển HTX; đánh giá thực trạng phát triển HTX ở Đồng Nai và đề xuất
định hướng, giải pháp phát triển trong những năm tới.
Đặng Lễ Nghi (2001), “Để các hợp tác xã phát triển theo quỹ đạo xã
hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản, 5/2001. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn
phát triển HTX theo Luật Hợp tác xã năm 1996 có nhiều hạn chế, bất cập, tác
giả đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển các HTX đúng định hướng
XHCN, hoạt động có hiệu quả, nâng cao vai trò, vị thế trong nền kinh tế.
công ty, nếu chúng ta am hiểu tường tận bản chất của nó, biết cách sử dụng và
khai thác công cụ tập thể độc đáo này. HTX là phương tiện hữu hiệu giúp
kinh tế gia đình của mỗi xã viên nâng cao sức cạnh tranh và phát triển.
Nguyễn Thiện Nhân (2015), “Hợp tác xã kiểu mới - Giải pháp đột phá
phát triển nông nghiệp Việt Nam”, báo Nhân dân, số ra ngày 16/3/2015. Tác
giả đã đánh giá những thành tựu to lớn, những yếu kém kéo dài của kinh tế
hợp tác ở nước ta sau 60 năm hình thành và phát triển; từ nghiên cứu về bản
chất và vai trò của HTX qua thực tiễn quốc tế, theo tác giả cần phải đột phá tư
duy về mô hình, vai trò, cơ chế hợp tác, trên cơ sở đó khẳng định: phát triển
HTX kiểu mới là giải pháp đột phá phát triển nông nghiệp Việt Nam hiện nay.
7
Phùng Quốc Chí (2010), Phát triển hợp tác xã trong quá trình công
nghiệp hoá đến năm 2020 ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Chiến lược
phát triển, Hà Nội. Tác giả xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển
HTX ở Việt Nam, kinh nghiệm một số nước trên thế giới để đề xuất định hướng
phát triển HTX trong quá trình công nghiệp hóa đến năm 2020 ở nước ta.
* Những công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển HTX nông
nghiệp ở nước ta
Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999), Đổi mới tổ chức và quản
lý hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà
Nội. Với mục đích nghiên cứu mô hình tổ chức và quản lý HTX nên các tác
giả đã khái quát toàn bộ quá trình phát triển của các hình thức tổ chức, quản
lý HTX trong nông thôn Việt Nam từ trước đổi mới đến khi chuyển sang kinh
tế thị trường và phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý các HTX ở một
số địa phương tiêu biểu. Trên cơ sở đó, đề xuất một số phương hướng và giải
pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức có hiệu quả cho các loại hình
HTX trong nông nghiệp. Như vậy, ở công trình này, các tác giả chưa đề cập
nghiên cứu lý luận về phát triển HTX nông nghiệp.
Thủy, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
Hồ Văn Vĩnh (2005), “Phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số
8/2005. Bài viết đã bàn đến những cách thức chuyển đổi mô hình HTX nông
nghiệp kiểu cũ sang HTX nông nghiệp kiểu mới trên cơ sở quán triệt đường
lối đổi mới HTX nông nghiệp của Đảng. Tác giả đã phân tích mối quan hệ
biện chứng giữa phát triển HTX nông nghiệp với công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, đồng thời nêu lên nguyên nhân khó khăn, vướng mắc của phát triển HTX
nông nghiệp trong thời kỳ mới cùng những giải pháp tháo gỡ.
Phan Trọng An (2011), “Kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp ở
Nhật Bản và bài học rút ra cho Việt Nam”, , 14/4/2011.
9
Bài viết đã khảo sát kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp của Nhật Bản,
qua đó rút ra một số vấn đề và bài học để phát triển HTX nông nghiệp ở Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả kết luận: HTX nông
nghiệp chỉ phát triển và phát huy tác dụng tốt cho hộ nông dân khi HTX nông
nghiệp thực sự hoạt động theo nguyên tắc tự lực, tự chịu trách nhiệm, quản lý
dân chủ, hiệu quả hoạt động cao; việc lựa chọn khâu dịch vụ nào để HTX
nông nghiệp làm là hết sức quan trọng. Bốn khâu: cung ứng vật tư, hàng hoá
tiêu dùng, tín dụng tương hỗ, tiêu thụ sản phẩm và khuyến nông là rất phù
hợp với HTX nông nghiệp. Nhưng để chiến thắng tư nhân thì HTX nông
nghiệp nên tổ chức theo kiểu đa năng và tuyển chọn người giỏi làm giám đốc
để quản lý, điều hành. Ngoài ra để HTX nông nghiệp phát triển cũng cần sự
hỗ trợ của Nhà nước.
* Đánh giá khái quát kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đã
công bố và những vấn đề luận văn cần nghiên cứu
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu liên quan đã công bố và được
nghiên cứu, khảo sát dưới góc độ của nhiều chuyên ngành khác nhau, trong
Luật Hợp tác xã năm 2012, bao gồm cả dịch vụ nông nghiệp và sản xuất nông
nghiệp trong trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản.
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Về thời gian: Số liệu, tài liệu khảo sát sự phát triển HTX nông nghiệp ở
tỉnh Phú Thọ từ năm 2010 đến 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn
phát triển HTX nông nghiệp, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp
phát triển HTX nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ thời gian tới.
* Phương pháp nghiên cứu
11
Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết hợp lô gíc
với lịch sử và vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
xã hội như: điều tra, thống kê, khảo sát thực tế, so sánh, phân tích, tổng hợp
và phương pháp chuyên gia...
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được thực hiện thành công sẽ góp phần cung cấp cơ sở khoa học
cho lãnh đạo, chính quyền tỉnh Phú Thọ hoạch định chủ trương, chính sách
phát triển HTX nông nghiệp.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
nghiên cứu khoa học, giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác - Lênin.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài kết cấu thành 3 chương, 6 tiết.
12
tế hợp tác phản ánh đặc điểm, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và
13
hình thức phân công lao động tương ứng. Trong đó, kinh tế hợp tác phát triển
và được tổ chức ở trình độ cao chính là HTX.
HTX là một mô hình của kinh tế hợp tác được phát triển ở trình độ cao
hơn, xuất hiện trong nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản từ giữa thế
kỷ XIX, bởi trong nền kinh tế tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản, để tồn
tại và phát triển, những người sản xuất nhỏ phải hợp sức, hợp vốn với nhau
chống lại sự chèn ép, khống chế của các nhà tư bản.
Bàn về HTX, nhiều quan điểm thừa nhận: HTX là mô hình kinh tế hợp
tác, ra đời, phát triển ở trình độ cao hơn loại hình kinh tế hợp tác giản đơn.
Tuy nhiên, do cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên đã có rất
nhiều quan niệm khác nhau về HTX:
Quan điểm của các nhà CNXH không tưởng cho rằng: “Chỉ cần tập hợp
dân cư vào hợp tác xã là có thể biến kẻ thù của giai cấp thành người hợp tác
giai cấp, biến đấu tranh giai cấp thành hòa bình giai cấp” [17, tr.4]. Như vậy,
các nhà không tưởng chưa đưa ra được định nghĩa về HTX vì quan điểm trên
chỉ mang tính mơ hồ, gắn với học thuyết không tưởng về CNXH.
Kế thừa và phát triển lý luận của C.Mác, trong “Chính sách kinh tế
mới” và “Bàn về chế độ hợp tác xã”, V.I.Lênin xác định: Chỉ có tổ chức các
HTX mới thực hiện kiểm kê, kiểm soát về kinh tế. Trong thời kỳ thực hiện
chính sách kinh tế mới, kiểm kê, kiểm soát được thực hiện thông qua liên
doanh, liên kết và hợp đồng được ký kết giữa nhà nước với HTX. Theo
V.I.Lênin, HTX là hình thức phát huy sức mạnh của quần chúng lao động.
Người viết: “hợp tác xã tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hợp và tổ chức
hàng triệu người, sau đó toàn thể dân chúng và tình hình ấy lại là một điều lợi
lớn cho bước quá độ tương lai từ chủ nghĩa tư bản nhà nước lên chủ nghĩa xã
hội [27, tr.273]. V.I.Lênin không chỉ quan tâm đến việc tìm kiếm và khẳng
Mặc dù có nhiều định nghĩa hay quan niệm khác nhau về HTX, song
tựu chung, các định nghĩa hay quan niệm đều cho thấy các loại hình HTX trên
thế giới có đặc điểm chung: là tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự
15
nguyện góp vốn, góp sức hình thành; hoạt động chủ yếu nhằm mục đích phục
vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm giúp đỡ
lẫn nhau, cũng là giúp đỡ chính mình; nguyên tắc cơ bản của HTX là tự
nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ.
Để tạo hành lang pháp lý cho HTX đứng vững và phát triển, ngày
20/3/1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ
họp thứ 9 đã thông qua Luật Hợp tác xã.
Theo Điều 1 của Luật này: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do
những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn,
góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể
và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước” [34, tr.5].
Tổng kết 5 năm thực hiện chuyển đổi, thành lập HTX theo Luật Hợp
tác xã năm 1996, Hội nghị Trung ương 5 khoá IX (3/2002) đã ra Nghị quyết
về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” để lãnh
đạo phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX. Trên cơ sở nghị quyết của
Đảng và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, ngày 26/11/2003, tại kỳ họp
thứ 4, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Hợp tác xã sửa đổi, bổ sung Luật
Hợp tác xã năm 1996. Theo đó, HTX được định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức
kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là
xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo
quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham
gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất,
trên cơ sở đó nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của thành viên và cộng
đồng dân cư.
Ngoài những đặc điểm chung của HTX, HTX nông nghiệp còn có đặc
điểm mang tính đặc thù sau:
17
Thứ nhất, mục tiêu hoạt động của HTX nông nghiệp là mục tiêu kép,
vừa phục vụ lợi ích của HTX, đảm bảo lợi nhuận để duy trì sự phát triển của
HTX, vừa phục vụ cộng đồng dân cư nông thôn và thành viên. Sản phẩm dịch
vụ HTX nông nghiệp không chỉ cung cấp cho các thành viên (xã viên) của
HTX mà là cả cộng đồng dân cư ở nông thôn, bao gồm cả những người không
phải là thành viên của HTX. Ngoài ra, HTX nông nghiệp không chỉ cung cấp
các dịch vụ kinh doanh đầu vào, đầu ra phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn
cả các dịch vụ công ích ở nông thôn như: thủy lợi, nước sạch, vệ sinh môi
trường, chuyển giao khoa học kỹ thuật... nhằm nâng cao phúc lợi, giải quyết
việc làm cho lao động và đảm bảo an sinh xã hội ở nông thôn. Vì vậy chính
sách hỗ trợ HTX nông nghiệp phải khác biệt với chính sách hỗ trợ HTX phi
nông nghiệp, nhất là đối với HTX nông nghiệp cung cấp dịch vụ thiết yếu và
các dịch vụ công ích cho cộng đồng dân cư nông thôn và ở các vùng khó khăn.
Thứ hai, HTX nông nghiệp có thể hoạt động trong một lĩnh vực sản xuất
ngành nghề trong nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản …), hoặc có thể
tham gia hoạt động ở nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau (đa ngành, đa nghề).
Thứ ba, liên kết sản xuất, kinh doanh đang trở thành xu thế tất yếu
trong quá trình phát triển và hội nhập của ngành nông nghiệp, nên HTX nông
nghiệp có vai trò quan trọng của quá trình này nhằm gắn kết nông dân với các
doanh nghiệp. HTX nông nghiệp có vai trò là cầu nối giúp doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực nông nghiệp thực hiện liên kết với nông dân để sản xuất,
chế biến, tiêu thụ nông sản hiệu quả hơn. Do đó, cần có cơ chế, chính sách để
Năm là, hợp tác và phát triển cộng đồng: thành viên HTX nông nghiệp
phải phát huy và nâng cao ý thức hợp tác giữa các HTX trong nước và ngoài
nước theo qui định của pháp luật.
Thứ năm, về quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối trong HTX nông
nghiệp kiểu mới:
Về quan hệ sở hữu: Trong mô hình HTX nông nghiệp kiểu cũ, một đặc
điểm quan trọng nhất quyết định các quan hệ khác là chế độ sở hữu tập thể về
19
tư liệu sản xuất. Người nông dân khi vào HTX nông nghiệp phải góp ruộng
đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu; xóa bỏ sở hữu của hộ gia đình, sở hữu
cá nhân không được thừa nhận. Chính điều này đã làm nảy sinh tình trạng vô
chủ và sự thiếu trách nhiệm của nhiều thành viên đối với tài sản của HTX
nông nghiệp. Trong HTX nông nghiệp kiểu mới, sở hữu của thành viên HTX
nông nghiệp đồng sở hữu với mục đích chính là sử dụng dịch vụ của HTX.
Như vậy trong HTX nông nghiệp, tập hợp thành viên có tính chất rất đặc biệt
- thành viên vừa là người đồng sở hữu, quản lý hợp tác xã theo nguyên tắc
dân chủ, vừa là người sử dụng dịch vụ của HTX nông nghiệp.
Về quan hệ quản lý: Trong cơ chế quản lý của HTX nông nghiệp kiểu
cũ, quan hệ giữa xã viên với HTX là quan hệ phụ thuộc, xã viên bị tách khỏi
tư liệu sản xuất, trở thành người lao động làm công theo sự điều hành tập
trung của HTX nông nghiệp; tính chất hợp tác đích thực trong HTX nông
nghiệp không còn, người lao động phụ thuộc, bị động, thiếu chủ động sáng
tạo. Đặc trưng của HTX nông nghiệp kiểu mới là hoạt động sản xuất, kinh
doanh của HTX nông nghiệp không bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất,
kinh doanh của thành viên, mà chỉ diễn ra ở từng công đoạn, khâu công việc
nhằm hỗ trợ, phát huy thế mạnh của từng thành viên. Do đó, HTX nông
nghiệp kiểu mới phát huy được quyền làm chủ của họ. Thành viên trực tiếp
tham gia quản lý, giám sát hoạt động của HTX theo nguyên tắc quản lý dân
Bằng cơ sở lý luận và thực tiễn khoa học, các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác - Lênin khẳng định tính tất yếu và vai trò to lớn của kinh tế HTX
trong nền kinh tế quốc dân. Các ông đều cho rằng kinh tế hợp tác là con
đường để đưa nông dân đi tới CNXH. Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở
Pháp và Đức”, Ph.Ăngghen nhấn mạnh, sau khi giành chính quyền: nhiệm vụ
của chúng ta đối với tiểu nông, trước hết phải chuyển quyền sở hữu cá thể và
nền kinh doanh cá thể của họ vào con đường kinh doanh hợp tác, không phải
bằng bạo lực mà bằng những tấm gương và bằng sự giúp đỡ của xã hội. Vì
theo các ông, kinh tế HTX có vai trò hết sức quan trọng, lôi cuốn đại bộ phận
21
dân cư hoạt động trong nền kinh tế, cũng là hình thức tổ chức kinh tế mà qua
đó có thể dần xoá bỏ tình trạng bóc lột, nhưng mặt khác là hình thức có hiệu
quả để đảm bảo sự kết hợp hài hòa lợi ích của những tiểu nông với lợi ích của
xã hội. Hợp tác hoá là con đường để lôi cuốn những người sản xuất nhỏ vào
công cuộc xây dựng CNXH.
Kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, bằng phương pháp biện
chứng mác-xít và bằng hoạt động thực tiễn của mình, V.I.Lênin đã nghiên
cứu và phát triển các luận điểm của kinh tế HTX trong thời kỳ quá độ lên
CNXH và vận dụng vào nước Nga Xô viết với Chính sách kinh tế mới (NEP).
Trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác xã”, V.I.Lênin chỉ ra vai trò quan
trọng của HTX: “hợp tác xã là bước quá độ sang một chế độ mới bằng con
đường giản đơn nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân”. Bởi vì,
theo V.I.Lênin, HTX là cơ sở để thiết lập và củng cố khối liên minh công
nông, đồng thời là tổ chức mà thông qua đó phát huy được sức mạnh của quần
chúng lao động. Người viết “hợp tác xã tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên
hợp và tổ chức hàng triệu người, sau đó toàn thể dân chúng; và tình hình ấy
lại là một điều lợi rất lớn cho bước quá độ tương lai từ chủ nghĩa tư bản nhà
nước lên chủ nghĩa xã hội” [28, tr.272].
trình phân công lao động được thực hiện. Khi nghiên cứu về các loại hình
HTX, V.I.Lênin khẳng định sự cần thiết đối với HTX sản xuất và HTX tiêu
dùng. Người định nghĩa: “hợp tác xã là sự tập hợp công nhân và nông dân,
nhằm mục đích cung cấp và phân phối những sản phẩm cần thiết cho họ. Hợp
tác xã sản xuất là tập hợp những người tiểu nông và thợ thủ công nhằm mục
đích sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm vừa nông nghiệp (chẳng hạn như rau,
sản phẩm sữa và…), vừa phi nông nghiệp (sản phẩm công nghiệp đủ mọi loại,
đồ bằng gỗ, bằng sắt, bằng da…)” [28, tr.301].
Tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam, Hồ
Chí Minh đã nhận rõ vai trò quan trọng và Người đã đặc biệt quan tâm đến
kinh tế hợp tác trong việc định ra đường lối và chỉ đạo thực tiễn cho cách
23
mạng Việt Nam. Từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người
đã dành hẳn một chương để nói về HTX, qua đó lý giải nhiều vấn đề cốt lõi,
cơ bản và mang tính định hướng về hình thức HTX. Trong đó, Người viết:
“Hợp tác xã trước là có ích lợi cho dân, sau là bớt sức bóp nặn của tụi tư bản
và đế quốc chủ nghĩa” [40, tr.343]. Người kết luận: “Nói tóm lại, hợp tác xã là
rất có lợi cho nên dân các nước làm nhiều lắm” [40, tr.346].
Người xác định trong thời kỳ quá độ “chúng ta phải xây dựng nền tảng
vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”, “phải công nghiệp hoá xã hội chủ
nghĩa”. Người cho rằng: “muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói
chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính” [40, tr.180].
Song, muốn cho nông nghiệp thịnh, phát triển đầy đủ và người nông dân giàu
có, ấm no, hạnh phúc thì cần phải có HTX, con đường đó là: “nông thôn phải
trải qua hai cuộc cách mạng: cải cách ruộng đất là một cuộc, cuộc thứ hai là
từ chỗ thực hiện tổ đổi công, hợp tác xã, nông trường tập thể đến chỗ xã hội
hoá nông nghiệp” [41, tr.181]. Và Người chỉ rõ: “Muốn nâng cao đời sống thì
chỉ có một cách là tổ chức nông dân làm ăn tập thể, tức là tổ chức nông dân
khác. HTX nông nghiệp phục vụ, hỗ trợ kinh tế hộ vươn lên sản xuất hàng
hoá. Kinh tế hộ sản xuất hàng hoá phát triển cao tạo điều kiện tất yếu để HTX
nông nghiệp phát triển. Vì vậy, cần đặt ra yêu cầu phát triển HTX nông
nghiệp trong bối cảnh chuyển mạnh sản xuất hàng hoá có chất lượng, nâng
cao sức cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đảm bảo tính hiệu
quả và bền vững, đẩy mạnh liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế,
nhất là các doanh nghiệp nhà nước, mở rộng thị trường, tăng năng lực sản
xuất cho HTX nông nghiệp và các thành viên.
1.2. Quan niệm, nội dung, các yếu tố tác động đến phát triển hợp
tác xã nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
1.2.1. Quan niệm về phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về HTX; kế thừa,
phát triển các quan niệm về HTX nông nghiệp; xuất phát từ thực tiễn công tác
25