VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG
GIÁO DỤC Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA ĐOÀN THANH
NIÊN TỪ THỰC TIỄN QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nguyễn Thanh Hiền
HÀ NỘI, 2016
HÀ NỘI - năm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ
Chính trị học “Giáo dục ý thức chính trị của Đoàn thanh niên từ thực tiễn quận Hà
Đông, thành phố Hà Nội” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài
khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐTN
Đoàn thanh niên
ĐVTN
Đoàn viên thanh niên
ĐV
Đoàn viên
CNCS
Chủ nghĩa cộng sản
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
HTCT
Hệ thống chính trị
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Bản đồ hiện trạng Quận Hà Đông .....
27
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thành phần thanh niên Quận Hà Đông
30
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ trình độ chuyên môn Đoàn thanh niên quận Hà Đông
31
Biểu đồ 2.4: Trình độ LLCT Đoàn thanh niên quận Hà Đông....
31
Biểu đồ 2.5: Biểu đồ hệ thống giáo dục ý thức chính trị cho Đoàn viên thanh niên Quận
Hà Đông
41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một
âm mưu thâm độc, cùng với nó là sự ảnh hưởng của mặt trái thị trường và các
trào lưu văn hóa phi vô sản đang tác động từng ngày từng giờ đến Đoàn thanh
niên. Tất cả những mặt trái đó làm cho một bộ phận thanh niên sống thiếu lý
tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp
hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc. Học vấn
của một bộ phận thanh niên nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên dân tộc
thiểu số còn thấp; nhiều thanh niên thiếu kiến thức và kỹ năng trong hội nhập
quốc tế. Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của
thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Tình
trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên gia tăng và diễn biến ngày càng
phức tạp.
Trong bối cảnh như vậy, việc không ngừng bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức
cách mạng cho Đoàn thanh niên nói chung và giáo dục ý thức chính trị nói riêng
cho đội ngũ này là nhiệm vụ quan trọng đặt lên hàng đầu, có ý nghĩa chính trị
lớn lao và mang tính cấp bách hiện nay. Ý thức chính trị đúng đắn sẽ quyết định
đến phẩm chất đạo đức, đến phương châm hành động của họ. Có ý thức chính trị
đúng thì những hành vi của Đoàn thanh niên mang tính tự giác, tránh được sai
lầm trong các hoạt động, mang lại hiệu quả cao trong công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước.
Hà Đông là một quận mới được thành lập khi Hà Nội mở rộng địa giới
hành chính. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quận Hà Đông có nhiều
khác biệt trên nhiều phương diện so với thị xã Hà Đông của tỉnh Hà Tây (cũ).
Nhiệm vụ đặt ra đối với Đoàn thanh niên quận Hà Đông hiện nay có nhiều điểm
mới mẻ, phức tạp và nặng nề hơn trước. Do đó, đòi hỏi Đoàn thanh niên của
quận cần phải cố gắng tích cực và nỗ lực hơn nữa, đặc biệt là việc không ngừng
giáo dục ý thức chính trị.
Vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: “Giáo dục ý thức chính trị của Đoàn
thanh niên từ thực tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học với hy vọng có thể góp phần đánh giá thực
2
- PGS. TS Vũ Quang Hiển và Ths. Hồ Thị Liên Hương của Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội có bài viết “Đảng với
3
công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Trích trong “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh - Những chặng đường phát triển”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014.
* Nhóm các công trình điều tra các số liệu liên quan đến đề tài:
Đây là nhóm tài liệu được coi là cơ sở để chúng tôi đánh giá thực trạng
thực hiện ý thức chính trị của Đoàn thanh niên nói chung. Qua đó có những
đánh giá khách quan đến ý thức chính trị của Đoàn viên thanh niên hiện nay.
Trong nhóm này phải kể đến đó là 2 cuộc điều tra về vị thành niên và thanh niên
Việt Nam do Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê thực hiện dưới sự hỗ trợ về kỹ thuật
và tài chính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
(UNICEF). Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm
2003 (SAVY 1) "là cuộc điều tra lần đầu tiên được tiến hành trên quy mô toàn
quốc tại 42 tỉnh thành. Điều tra đã tiến hành trên 7.584 thanh thiếu niên trong độ
tuổi từ 14 đến 25 tuổi" [9,tr 9]. SAVY 2 "có sự mở rộng về diện bao trùm và cỡ
mẫu, sử dụng dàn mẫu hộ gia đình của Tổng cục Thống kê, cuộc điều tra được
tiến hành với 10.044 vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi từ 14-25 sống
trong gia đình ở 63 tỉnh thành trên toàn quốc. SAVY 2 được phổ biến kết quả và
tháng 6 năm 2010" [10,tr2].
Cùng với 2 cuộc điều tra trên là Báo cáo Quốc gia về thanh niên Việt Nam
tháng 6 năm 2015. "Báo cáo sử dụng các số liệu thứ cấp từ các cuộc điều tra
quốc gia trong những năm gần đây để đưa ra các chỉ số định lượng và phân tích
định tính về thực trạng giáo dục, việc làm và chăm sóc sức khỏe cho thanh niên
và sự tham gia của thanh niên trong việc xây dựng và thực thi chính sách trong
các lĩnh vực này" [8,tr 3].
Cá nhân tác giả có thực hiện cuộc điều tra quy mô nhỏ khoảng 500 phiếu
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục ý thức chính trị của Đoàn
thanh niên quận Hà Đông, chỉ ra thành công, tồn tại, thuận lợi, khó khăn và triển
vọng của công tác này.
Ba là, nêu những quan điểm, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục ý thức chính trị của Đoàn thanh niên quận Hà Đông.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác giáo dục ý thức chính trị của
Đoàn thanh niên quận Hà Đông trong đó sẽ tập trung nghiên cứu các chủ thể
giáo dục, mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức, phương
tiện giáo dục và nhất là đối tượng giáo dục đó là các Đoàn viên thanh niên trên
địa bàn Quận Hà Đông.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài đi sâu nghiên cứu giáo dục ý thức chính trị của Đoàn thanh niên
trong địa bàn Quận Hà Đông chủ yếu từ năm 2008 đến nay (thời điểm hợp nhất
Hà Nội và Hà Tây)
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trước hết, Luận văn sử dụng các phương pháp chính trị học, xã hội học và
phương pháp nghiên cứu liên ngành để thực hiện Luận văn này. Đồng thời, Luận
văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội như
phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, logic - lịch sử, phương pháp thu thập
tài liệu, thảo luận, trao đổi, so sánh, hệ thống hóa, thống kê…
Để có thêm luận cứ thực tiễn phục vụ nghiên cứu đề tài, tác giả đã chú
trọng đến phương pháp điều tra xã hội học. Trong điều kiện, khả năng nghiên
cứu có hạn và thời gian cũng bị hạn chế, tác giả mới chỉ có thể thực hiện điều tra
xã hội học ở một số trường, phường và cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn Quận
Hà Đông. Vì vậy, đề tài sử dụng những số liệu thống kê trong SAVY 1, SAVY
2, bản tổng hợp điều tra xã hội học và báo cáo của Quận Đoàn Hà Đông từ năm
1.1. Quan niệm về giáo dục
1.1.1 Khái niệm
Trong Từ điển Tiếng Việt, với danh nghĩa là danh từ, giáo dục được hiểu là
hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy - giáo dục của một nước.
Với danh nghĩa là một động từ, giáo dục được hiểu là "hoạt động nhằm tác
động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối
tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng
lực như yêu cầu đặt ra" [22,tr.415].
Trong giáo trình Giáo dục học đại cương, NXB Giáo dục, Hà Nội 2005, tác
giả Hà Thị Đức đã nêu ra một số cách khiểu khác nhau về giáo dục:
Giáo dục (theo nghĩa rộng): là quá trình toàn vẹn nhằm hình thành, phát
triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch
thông qua hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục
nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội mà loại người đã tích lũy
trong lịch sử [21,tr.9].
Giáo dục (theo nghĩa hẹp): là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động
cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách của nhân cách, những hành vị, thói
quen, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh
vực tư tưởng - chính trị, đạo đức, lao động, thẩm mỹ và thể chất cho học sinh
[21,tr.9].
Trong phạm vi luận văn này, cá nhân tác giả đề cập đến giáo dục theo
nghĩa rộng nhất, phạm vi rộng nhất, nghĩa là giáo dục từ không chính quy đến
chính quy, giáo dục từ trong gia đình đến giáo dục trong nhà trường và giáo dục
trong xã hội. Giáo dục là một quá trình hành động phối hợp, thống nhất giữa chủ
thể - nhà giáo dục và đối tượng – người được giáo dục nhằm hình thành và phát
triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn
lịch sử nhất định. Giáo dục là quá trình có mục đích, có kế hoạch mà chủ thể
8
9
Tuy nhiên, mức độ và tính chất tác động của giáo dục trong gia đình đối
với cá nhân trong mỗi giai đoạn cuộc sống đều có những khác biệt. Càng trưởng
thành, sự tác động của giáo dục trong gia đình càng giảm dần và sự tiếp nhận
cũng có chọn lọc hơn.
Hình thức giáo dục khác rất quan trọng là giáo dục trong nhà trường. Nhà
trường là một tổ chức chuyên biệt đối với công tác giáo dục, được sự lãnh đạo
trực tiếp của Đảng và Nhà nước, nắm vững quan điểm, đường lối, mục tiêu bồi
dưỡng đào tạo con người xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, nhà trường luôn luôn có
đội ngũ thầy cô giáo - những chuyên gia sư phạm có trình độ, năng lực, đạo
đức...đã được đào tạo có hệ thống, đã được tuyển chọn kỹ càng. Giáo dục nhà
trường trong mọi thời đại có chức năng cơ bản là truyền thụ tri thức văn hóa, mở
mang trí tuệ cho học sinh. Kho tàng tri thức văn hóa đó từ bao thế hệ đúc kết lại.
Giáo dục trong nhà trường vạch ra kế hoạch và phương pháp bù đắp những
thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố bẩm sinh - di truyền hoặc hoàn cảnh gây nên,
nhằm xây dựng những nhân cách hoàn thiện nhất có thể. Nhà trường có thể phát
huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển nhân
cách và uốn nắn những sai lệch theo đúng hướng mong muốn của xã hội. Hơn
thế, giáo dục trong nhà trường có thể đi trước, đón đầu sự phát triển để "hoạch
định nhân cách trong tương lai" phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Cuối cùng, cần bàn đến hình thức giáo dục nữa là giáo dục trong xã hội.
Những tri thức văn hóa cơ bản, thông qua hoạt động thực tiễn của môi trường xã
hội mà thế giới quan khoa học và nhân sinh quan biện chứng của cá nhân được
hình thành và phát triển một cách vững vàng. Đời sống xã hội sẽ tạo ra những
điều kiện mà trong mỗi nhà trường không thể có được. Xã hội chính là môi
trường tốt để thử thách đối với mỗi cá nhân.
Trong sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước đang đổi mới hiện nay, rõ
ràng nổi lên yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng người lao dộng, đào tạo
hiệu quả thì phải dựa trên nền tảng giáo dục. Triết học giáo dục phương Đông
truyền thống quan niệm rằng: Muốn thực hiện tốt việc giáo dục người, trước hết
phải tự giáo dục chính bản thân mình, lấy mình ra làm mẫu cho mọi người noi
theo. Nếu xét về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những
kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người thì tự giáo dục chính là quá
trình chủ thể đồng thời thực hiện cả quá trình truyền đạt cũng như tiếp thu
11
những tri thức lịch sử xã hội dựa trên chính kinh nghiệm, tri thức của cá nhân.
Trong tất cả các phương thức giáo dục, tự giáo dục là con đường tốt nhất để phát
triển và hoàn thiện bản thân cũng như khai thác tối đa tài năng của mỗi người.
Trong phạm vi luận văn này chúng tôi đề cập đến giáo dục trong gia đình,
nhà trường, xã hội và cả quá trình tự giáo dục.
1.2. Quan niệm về Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
1.2.1 Khái niệm:
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) là tổ
chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và
Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.
Đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là thanh niên Việt Nam tiên tiến,
phấn đấu vì lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, có
tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc; có lối sống lành mạnh, cần kiệm, trung
thực; tích cực, gương mẫu trong học tập, lao động, hoạt động xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, gắn bó mật thiết với thanh niên; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của
Nhà nước và Điều lệ Đoàn [44].
Thanh niên Việt Nam tuổi từ 16 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo
vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Đoàn và tán thành Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt
động trong một tổ chức cơ sở của Đoàn, có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp
vào Đoàn. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành lập ngày 26/3/1931.
1.2.2 Tính chất của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh:
Đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức xã hội
chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh niên.
- Đối với các tổ chức xã hội của thanh niên và phong trào thanh niên:
Đoàn giữ vai trò làm nòng cốt chính trị trong việc xây dựng tổ chức và hoạt
động của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Đoàn viên thanh niên Việt
Nam và các thành viên khác của Hội.
- Đối với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh: Đoàn giữ vai trò là
người phụ trách xây dựng tổ chức Đội, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm
công tác thiếu nhi; tạo điều kiện về cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt động của
Đội.
13
1.2.4 Chức năng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh:
Đoàn là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, bổ sung đảng viên,
cán bộ cho Đảng, Nhà nước và các ngành. Đoàn luôn xác định nhiệm vụ của
mình là tích cực tham gia xây dựng Đảng và là người kế tục trung thành sự
nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là đội quân
xung kích thực hiện đường lối chính trị của Đảng.
Đoàn là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Việt Nam; tạo môi
trường đưa thanh niên vào các hoạt động giúp họ rèn luyện và phát triển nhân
cách, năng lực của người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay.
Đoàn là người đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi của tuổi trẻ. Chức năng
này khẳng định rõ tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức của thanh niên,
vì thanh niên.
1.3 Quan niệm về ý thức chính trị và ý thức chính trị của Đoàn thanh niên
1.3.1 Ý thức chính trị
- Ý thức:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ý thức là sự phản ánh thế giới
xung quanh vào bộ não con người. C.Mác gọi, ý thức, ý niệm là hiện thực khách
Dó đó, nghiên cứu ý thức xã hội cần gắn với tồn tại xã hội, với cơ sở tồn
tại xã hội sinh ra nó; đặt trong điều kiện giai đoạn lịch sử cụ thể để nghiên cứu;
không tách rời ý thức xã hội với tồn tại xã hội. Đây là cơ sở để có cách tiếp cận
đi vào nghiên cứu ý thức chính trị của Đoàn thanh niên.
Ý thức xã hội tiếp cận dưới góc độ trình độ phản ánh có các cấp độ: ý thức
xã hội thông thường và ý thức lý luận; tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Tiếp
cận ở góc độ phản ánh tồn tại xã hội thì có các hình thái ý thức xã hội như: ý
thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức tôn giáo, ý thức đạo đức… Như vậy ý
thức chính trị chỉ là biểu hiện một lĩnh vực phản ánh của ý thức xã hội đối với
tồn tại xã hội.
- Chính trị:
Chính trị là hiện tượng có tính lịch sử, xuất hiện trên nền tảng phát triển
của xã hội loài người, mà cụ thể là trên cơ sở của trình độ sản xuất của con
người, gắn liền với sự xuất hiện giai cấp, nhà nước và đồng thời cũng đánh dấu
giai đoạn văn minh của con người.
15
Từ khi xuất hiện, chính trị đã có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống
xã hội. Ngay từ thời cổ đại cho đến sau này đã có nhiều nhà tư tưởng lớn giành
thời gian công sức nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ bản chất của chính trị. Nhưng
chỉ đến khi xuất hiện chủ nghĩa Mác - Lênin, thì bản chất của chính trị mới được
nêu lên một cách đầy đủ trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Theo V.I.Lênin: "Chính trị là sự tham gia vào những công việc của nhà
nước, là việc vạch hướng đi cho nhà nước, việc xác định hình thức, nhiệm vụ,
nội dung hoạt động của nhà nước" [59, tr.404]. Như vậy cái quan trọng nhất
trong chính trị, theo V.I.Lênin là " tổ chức chính quyền nhà nước", chính trị là
mối quan hệ giữa các giai cấp và các cộng đồng xã hội về vấn đề nhà nước; là sự
tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước; là tổng hợp những
phương thức, những mục tiêu được quy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của
điều kiện môi trường và bảo hộ cho hoạt động kinh tế.
- Ý thức chính trị:
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin về ý
thức, ý thức xã hội và chính trị có thể rút ra những dấu hiệu bản chất trong nội
hàm của ý thức chính trị như sau:
Trước hết, là quan hệ giữa các giai cấp trong vấn đề giành, giữ và sử dụng
quyền lực nhà nước. Do đó, ý thức chính trị, điều đầu tiên cần kể đến, là những
hiểu biết, những nhận thức của một giai cấp nhất định về địa vị lịch sử, về
đường lối, chiến lược, sách lược và những nhiệm vụ của giai cấp mình trong sự
phát triển của lịch sử. Bên cạnh đó, ý thức chính trị còn thể hiện ở quan điểm
giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích chính trị mà các giai cấp, tầng lớp xã hội
đó đang theo đuổi; sự liên minh giai cấp, đấu tranh và hợp tác giữa các giai cấp,
tầng lớp vì những yêu cầu nhất định...
Ý thức chính trị rất phong phú, V.I.Lênin đã từng nói, chính trị là sự tham
gia vào các công việc của nhà nước, là chỉ đạo nhà nước, là xác định những hình
thức, những nhiệm vụ và nội dung hoạt động của nhà nước, vì thế ý thức chính
trị còn là sự nhận thức về nhà nước, về mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước và sự
tham gia của chủ thể vào hoạt động của nhà nước đó. Nhưng nhà nước lại luôn
là của một giai cấp nhất định, bị chi phối trực tiếp của một đảng phái nào đó.
Bên cạnh đảng cầm quyền còn có những đảng phái khác (cả đối lập và không
đối lập). Mọi quan hệ giữa các đảng phái ấy, đấy là chính trị. Đương nhiên, đảng
17
cầm quyền bao giờ cũng đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của mỗi nước,
chi phối các hoạt động của nhà nước. Do đó, đồng thời với việc nhìn nhận nhà
nước, ý thức chính trị còn là thái độ đối với hoạt động của các đảng phái.
Ý thức chính trị thể hiện một cách nhạy cảm nhất ở nhu cầu và lợi ích
chính trị. Ý thức chính trị cao hay thấp của một chủ thể nào đó được nhận thấy
thông qua sự nhận thức về nhu cầu chính trị đến đâu, chính đáng hay không
trị nêu trên, có thể đồng tình với quan niệm về ý thức chính trị của một giai cấp
như tác giả một cuốn sách như sau: Ý thức chính trị của một giai cấp được hiểu
là thái độ đối với các thể chính trị (nhà nước, đảng phái, ...); là nhận thức về
những nội dung chính trị quan trọng (chế độ chính trị, đường lối, chính sách...
phát triển quốc gia); là sự hiểu biết về mình với tính cách là một giai cấp trong
mối quan hệ với các giai cấp - tầng lớp cơ bản (kẻ thù, bạn, đồng minh ...), dân
tộc .. nảy sinh trong quá trình xây dựng chế độ chính trị của một đất nước.
1.4. Quan niệm về giáo dục ý thức chính trị của Đoàn thanh niên
Giáo dục ý thức chính trị của Đoàn thanh niên là quá trình tác động có mục
đích, có tổ chức của chủ thể tới đối tượng đoàn viên thanh niên nhằm truyền lại
các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính
trị, xã hội tới đối tượng Đoàn viên thanh niên từ đó làm cho Đoàn viên thanh
niên có ý thức chính trị tự giác, định hướng, suy nghĩ và hành động đúng đắn
theo Hiến pháp, pháp luật, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước đã đề ra.
Giáo dục ý thức chính trị của Đoàn thanh niên là nhiệm vụ thường xuyên
vừa có tính cấp bách vừa có tính lâu dài, điều đó xuất phát từ những lý do cơ
bản sau:
Thứ nhất, bắt nguồn từ vai trò lịch sử của Đoàn thanh niên: Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “nước
nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh phần lớn là do các thanh niên, thanh niên
muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần
và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cho cái tương lai tươi sáng
đó”. Bởi vậy, “phải củng cố tổ chức Đoàn, phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp
thanh niên”. Tổ chức Đoàn phải tổ chức được nhiều phong trào hành động cách
mạng nhằm thu hút thanh niên tham gia để từ đó giáo dục lý tưởng cho họ.
19
Trải qua các giai đoạn cách mạng, Đoàn thanh niên luôn khẳng định vai trò