MỤC LỤC
Trang phụ bìa..................................................................................................................i
Lời cam đoan.................................................................................................................ii
Lời cảm ơn...................................................................................................................iii
MỤC LỤC.......................................................................................................1
.......................................................................................................................... 4
MỞ ĐẦU..........................................................................................................5
1. Lý do chọn đề tài.........................................................................................5
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu..........................................................................8
3. Mục tiêu của đề tài......................................................................................9
4. Giả thuyết khoa học....................................................................................9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................9
6. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................10
7. Đối tượng nghiên cứu................................................................................10
8. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................10
9. Cấu trúc của luận văn...............................................................................11
NỘI DUNG...................................................................................................12
Chương 1.......................................................................................................12
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA, DẠY
HỌC TỰ CHỌN VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN.......................12
1.1. Cơ sở lí luận về dạy học phân hoá, dạy học tự chọn..................................................12
1.1.1. Nguyên tắc phân hoá trong dạy học...................................................12
1.1.2. Hình thức phân hóa trong dạy học....................................................12
1.1.3. Dạy học phân hóa của một số nước trên thế giới..............................13
1.1.4. Dạy học phân hóa ở trường THPT Việt nam....................................16
1.2.1. Một số khái niệm liên quan................................................................19
1
1.2.2. Đa phương tiện và vai trò của nó trong dạy học...............................25
Kết luận chương 2.........................................................................................66
Chương 3.......................................................................................................67
2
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.......................................................................67
3.1. Mục đích thực nghiệm..................................................................................................67
3.2. Nội dung thực nghiệm..................................................................................................67
3.3. Phương pháp thực nghiệm...........................................................................................67
3.3.1. Đối tượng thực nghiệm.......................................................................67
3.3.2. Bố trí thực nghiệm..............................................................................68
3.3.3. Các bước thực nghiệm........................................................................68
3.3.4. Xử lý số liệu.........................................................................................69
3.4. Kết quả thực nghiệm....................................................................................................69
3.5. Nhận xét kết quả của việc tổ chức hoạt động dạy học tự chọn phần Động lực học
vật rắn Vật lí 12 với sự hỗ trợ của đa phuơng tiện............................................................75
Kết luận chương 3.........................................................................................77
KẾT LUẬN....................................................................................................78
1. Kết luận............................................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt
Viết đầy đủ
PHT
Phiếu học tập
PPDH
Phương pháp dạy học
PTTQ
Phương tiện trực quan
QTDH
Quá trình dạy học
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
THCS
Trung học cơ sở
THPT
VIII quán triệt: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng
bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy
học..."[4]
Trong tình hình công nghệ thông tin phát triển mạnh như hiện nay, nhu cầu
tìm kiếm, chọn lọc, xây dựng và sử dụng tài liệu thông tin đang trở thành cấp thiết
đối với giáo viên và học sinh trong việc dạy học. Đồng thời việc áp dụng các
phương tiện kĩ thuật hiện đại vào quá trình dạy học giúp cải thiện điều kiện, môi
trường giáo dục chắc chắn rằng chất lượng dạy và học sẽ được nâng cao.
5
Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới hoạt động học tập
chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động, đề cao khả năng tự học của người
học và đề cao vai trò của người thầy về khả năng dạy cho người học cách học có
hiệu quả nhất.
Để thực hiện chủ trương trên thì một trong những tiếp cận hiện đại là ứng
dụng những thành tựu của Công nghệ thông tin trong giáo dục. Chỉ thị 58-CT/TW
của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục
là: “…đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo
ở mọi cấp học, bậc học và ngành học”[1].
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục hiệu quả nhất là sử dụng các
phần mềm dạy học vì nó tích hợp được truyền thông đa phương tiện. Một số nước
tiên tiến như Mỹ, Anh, Đức, Pháp…đã nghiên cứu và đang sử dụng nhiều phần
mềm dạy học ở trường phổ thông. Ở nước ta cũng có một số công trình nghiên cứu
xây dựng các phần mềm dạy học, nhưng có chưa nhiều số công trình nghiên cứu hệ
thống về quy trình xây dựng và sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để tổ
chức quá trình dạy học đạt hiệu quả cao.
Thực tế của quá trình đào tạo đã chứng minh rằng: Phương tiện dạy học ngày
càng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người học hiểu nhanh, nhớ lâu các nội
Tài liệu tự chọn vật lí giới thiệu chương trình và các chủ đề tự chọn, cấu trúc
mỗi chủ đề bao gồm Mục tiêu; Kiến thức cần nhớ; Bài tập có lời giải và Bài tập tự
giải. Như vậy tài liệu cung cấp chủ yếu về kiến thức để giáo viên tham khảo trong
quá trình dạy chương trình tự chọn và học sinh tham khảo để tự rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức giải bài tập. Phần gợi ý phương pháp tổ chức dạy hoc còn chung
chung và hạn chế do đó không có cơ hội để thiết kế hoạt động nhận thức cho học
sinh theo hướng tích cực. Mặt khác dạy học tự chọn là vấn đề hoàn toàn mới mẽ đối
với giáo viên nên nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức thực hiện dạy
học.
Ngoài ra, kiến thức phần Động lực học vật rắn là kiến thức hoàn toàn mới vừa
được đưa vào chương trình và sách giáo khoa hiện nay. Nhiều giáo viên lâu năm
không còn nhớ phần kiến thức được học trong phần Cơ học đại cương của các
trường đại học. Do đó việc việc hiểu về kiến thức phần này của giáo viên phần lớn
là chưa sâu sắc, chưa kể đến phải nghiên cứu kiến thức và tìm phương pháp để dạy
sao cho đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ những lý do trên với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng
7
dạy và học bộ môn vật lí nói chung và chủ đề Động lực học vật rắn lớp12 nói riêng,
chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực học
vật rắn Vật lí 12 với sự hỗ trợ của đa phương tiện”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Quang
Lạc, Quách Tuấn Ngọc, Phạm Xuân Quế, Lê Công Triêm,… về việc ứng dụng
CNTT trong dạy học Vật lí đã được đăng trên các tạp chí nghiên cứu giáo dục, các
báo cáo hội thảo khoa học … Trong đó các tác giả đều nhấn mạnh vai trò của công
nghệ thông tin trong dạy học hiện nay và việc ứng dụng CNTT một cách có hiệu
quả vào QTDH.
Các luận án tiến sĩ của nhiều tác giả cũng đề cập tương đối nhiều đến việc ứng
- Xây dựng được bộ tài liệu hướng dẫn tổ chức dạy học tự chọn phần Động
lực học vật rắn Vật lí 12 với sự hỗ trợ của đa phương tiện
- Thiết kế được tiến trình dạy học trên cơ sở bộ tài liệu được xây dựng
4. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng được tài liệu dạy học tự chọn phần “Động lực học vật rắn” Vật lí
12 với sự hỗ trợ của đa phương tiện vừa được xây dựng thì sẽ tích cực hóa hoạt
động nhận thức cho học sinh, nhờ đó mà hiệu quả dạy học tự chọn và chất lượng
học tập môn vật lý sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên nhiệm vụ nghiên cứu gồm những vấn đề
sau:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học phân hoá, dạy học tự chọn
5.2. Nghiên cứu cơ sở lí luận về đa phương tiện và vai trò của nó trong dạy
học
5.3. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài:
- Điều tra cơ bản về tình hình dạy học chương trình tự chọn môn Vật lí nói
chung và phần Động lực học vật rắn nói riêng ở trường trung học phổ thông.
- Điều tra cơ bản về tình hình dạy học tự chọn vật lí với sự hỗ trợ của đa
phương tiện ở trường trung học phổ thông.
5.4. Tập hợp các tư liệu hỗ trợ cho việc thiết kế kịch bản các giáo án giảng
dạy.
9
5.5. Thiết kế kịch bản các giáo án với sự hỗ trợ của đa phương tiện trong đó
sử dụng chủ yếu phần mềm công cụ (Powerpoint)
5.6. Thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả thực nghiệm để chứng minh
tính khả thi của đề tài.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực học
- Tiến hành giảng dạy một số tiết tự chọn có sự hỗ trợ của đa phương tiện
- Quan sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động của học sinh khi học các giờ học tự
chọn có sự hỗ trợ của đa phương tiện. So sánh với các lớp ĐC, kết hợp với việc
trao đổi ý kiến với giáo viên giảng dạy.
8.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư
phạm và kiểm định sự khác nhau trong kết quả học tập của hai nhóm thực nghiệm
và đối chứng.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học phân hóa, dạy học tự chọn
và dạy học với sự hỗ trợ của đa phương tiện
Chương 2: Tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 với
sự hỗ trợ của đa phương tiện
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
11
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA, DẠY HỌC
TỰ CHỌN VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
1.1. Cơ sở lí luận về dạy học phân hoá, dạy học tự chọn
1.1.1. Nguyên tắc phân hoá trong dạy học
Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành
các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, sở
thích, nhu cầu và các điều kiện học tập, nhằm tạo ra những kết quả học tập tốt nhất
cho người học.
Hoa kì và Canada:
Từ 14 đến 17 tuổi, học sinh sẽ trải qua bốn năm ở bậc trung học phổ thông,
trong thời gian này học sinh sẽ có hiểu biết sâu hơn về những môn học ở bậc trung
học cơ sở. Tại thời điểm này, học sinh thường có thể chọn những môn tự chọn trong
những lĩnh vực khác nhau. (Theo EF)
Anh quốc:
Học sinh bắt đầu học trung học vào năm 11 tuổi, đây là chương trình bắt buộc
năm năm (hay còn gọi là “bậc”). Từ bậc một lên đến bậc sáu (hay lớp 7 đến lớp 11),
học sinh trung học sẽ củng cố kiến thức với những môn đã học ở bậc tiểu học, thêm
vào ít nhất một ngoại ngữ. Vào bậc 4, họ bắt đầu chuẩn bị cho một loạt những kỳ thi
được gọi là Chứng chỉ Giáo dục Trung học (gọi tắt là GCSEs). Học sinh được kiểm
tra dựa trên khoảng 9 hay 10 môn học tùy theo lựa chọn của họ.
Úc:
Học sinh bắt đầu bậc trung học cơ sở vào năm lớp bảy, thường là vào khoảng
12 hay 13 tuổi. Bậc học trung học cơ sở là chương trình bắt buộc trong bốn năm,
trong thời gian này học sinh sẽ tìm hiểu sâu hơn về những môn học ở tiểu học hay,
nếu họ muốn, bắt đầu những môn học nghề để chuẩn bị cho họ một nghề nghiệp.
Vào cuối năm lớp 10, học sinh sẽ phải dự những kỳ thi lấy Chứng nhận Học vấn.
Sau đó họ có thể chọn lựa để rời trường học và bắt đầu đi làm, họ có thể vào một
trường dạy nghề hay học tiếp hai năm nữa để hoàn tất Chứng Nhận Lớp 12 và thỏa
mãn yêu cầu vào đại học.
Trung Quốc:
13
Tại Trung Quốc, tất cả các học sinh đều phải hoàn tất ít nhất 9 năm học.
Chương trình Tiểu học bao gồm 5 năm học và nối tiếp với 4 năm Trung học hoặc 6
năm học Tiểu học và 3 năm Trung học. Học sinh học Trung học cho đến năm 14, 15
tuổi, sau đó sẽ tiếp tục học phân ban cho đến năm 18 tuổi. Những môn học bắt buộc
cứu nhằm nâng cao năng lực phấn đấu, cạnh tranh với các quốc gia khác trên thế
giới.
Các trường đại học mở rộng việc tiếp nhận sinh viên nước ngoài. Việc tuyển
sinh cũng có những cải tiến, một số trường chuyển sang thí điểm xét tuyển nhằm
giảm nhẹ khâu thi cử. (TheoVYSA: Hội thanh niên sinh viên Việt Nam ở Nhật bản)
Như vậy nhiều nước trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến hiện nay trong hệ
thống giáo dục quốc dân, đối với bậc trung học phổ thông đều có xu hướng tuỳ
thuộc vào nhu cầu sở thích và năng lực từng cá nhân để định hướng mục tiêu giáo
dục đào tạo đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu xã hội.
Dưới đây là những hình thức chủ yếu đã được áp dụng rộng rãi ở nhìn chung
nhiều nước trên thế giới từ trước đến nay.
1.1.3.1. Phân ban
Hình thức này ra đời từ khoảng thế kỷ XVIII ở nhiều nước châu Âu. Hình
thức phân ban ngày càng được hoàn thiện và được áp dụng rộng rãi ở các nước châu
Âu và các nước thuộc địa chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp.
Đặc điểm của hình thức này là mỗi trường tổ chức dạy học theo một số ban đã
được quy định, học sinh được phân chia vào học các ban tùy theo năng lực, hứng
thú và nhu cầu của các em. Chương trình học tập của mỗi ban gồm các môn học
nhất định khác nhau giữa các ban[3].
Hình thức phân ban có ưu điểm là thuận lợi về mặt quản lý dạy học. Tuy
nhiên nó có nhược điểm là khó đáp ứng được sự phân ban đa dạng của học sinh. Do
vậy hiện nay chỉ còn một số ít nước thực hiện hình thức này ví dụ: Ghinê, Angiêri,
Mali, Campuchia.
1.1.3.2. Dạy học tự chọn
Hình thức phân hóa bằng dạy học tự chọn cũng ra đời vào khoảng thế kỷ XIX.
Dạy học tự chọn ngày càng được phát triển, đặc biệt ở Mỹ.
Đặc điểm của hình thức này là mọi học sinh phải học một số môn học cốt lõi
(hay còn gọi là môn học bắt buộc). Ngoài các môn học cốt lõi này học sinh có thể
chọn học một số môn học khác theo năng lực, nguyện vọng của cá nhân. Cũng có
hình thức tự chọn khác là ở tất cả các môn học trong nhà trường đều có hai loại
Luật Giáo dục 2005, tại Điều 29 quy định “Chương trình giáo dục phổ thông
thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi
và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt
16
động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp
và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông”[22].
Như vậy, chương trình giáo dục phổ thông là một kế hoạch sư phạm bao gồm:
- Mục tiêu giáo dục.
- Phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục.
- Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ đối với từng môn học sau
từng đơn vị kiến thức, sau mỗi lớp học và cấp học.
- Phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục.
- Đánh giá kết quả giáo dục từng môn học ở từng lớp, từng cấp học.
Trong chương trình giáo dục phổ thông của nước ta, chuẩn kiến thức, kỹ năng
và yêu cầu về thái độ là những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về
thái độ mà mỗi học sinh đều cần phải và có thể đạt được. Nói cách khác, chuẩn kiến
thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ là cơ sở học vấn phổ thông của giáo dục nước
ta.
Một chương trình với những quy định cụ thể về nội dung giáo dục nhằm đạt
được các chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ như vậy được gọi là
“chương trình chuẩn”. Chương trình chuẩn có thể được hiểu là chương trình nhằm
đảm bảo giáo dục mang tính phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho tất
cả học sinh trong cả nước.
Chương trình nâng cao của THPT
Ở cấp THPT ngoài chương trình chuẩn, để thực hiện dạy học phân hoá, một
số môn học còn có nội dung nâng cao như: toán, vật lý, hóa học, sinh học, ngữ văn,
lịch sử, địa lý, ngoại ngữ. Chương trình của các môn học với nội dung nâng cao này
học khác cho cả 2 loại chương trình này. Những việc làm trên đòi hỏi quá trình
chuẩn bị nhiều năm.
- Phải chuẩn bị đội ngũ giáo viên cho các môn học mới.
- Phải có đủ phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành để có thể bố trí các lớp
học theo sự lựa chọn đa dạng của học sinh.
- Ngoài những điều kiện nêu trên, dạy học tự chọn còn đòi hỏi nhiều điều kiện
khác mà hiện nay nền kinh tế - xã hội của nước ta chưa đáp ứng đầy đủ.
Hiện nay trong chương trình THPT có hai loại chủ đề tự chọn:
Ban cơ bản có nguyện vọng học tự chọn thì sẽ học các chủ đề nâng cao trong
số các môn học có nội dung nâng cao (Toán, Lí, Hoá, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại
ngữ). Các chủ đề này đề cập đến các nội dung nâng cao, nhằm bổ sung và phát triển
chưong trình chuẩn đạt mức tương đương chương trình nâng cao.
18
Các chủ đề bám sát chương trình chuẩn của các môn học trong kế hoạch giáo
dục. Các chủ đề này nhằm củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kĩ năng của
các môn học
Chương trình giáo dục THPT thể hiện tính phân hoá, nhằm phát triển kĩ năng
và hứng thú cá nhân của học sinh nhưng vẫn đảm bảo tính phổ thông toàn diện.
Mức độ phân hoá ở cấp THPT chưa quá sâu và rõ rệt.
Phương pháp dạy học các chủ đề tự chọn có khác phương pháp dạy học các
môn học không?
Phưong pháp dạy học phải căn cứ vào trình độ học sinh. Đối với các học sinh
học các chủ đề bám sát cần phải gợi ý, củng cố, làm mẫu,...
Đối với học sinh chọn các chủ đề nâng cao thì nên tổ chức và hướng dẫn học
sinh bằng các gợi ý cần thiết để học sinh tự giải quyết, tìm kiếm các mối liên hệ
giữa phần đã học và phần năng cao, gơi ý để tiếp tục nghiên cứu phát triển các vấn
đề đó nhằm tạo hứng thú và đáp ứng nguyện vọng của những đối tượng này.
1.2. Cơ sở lí luận về vai trò của đa phương tiện trong dạy học
thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học với tư cách là đại
diện cho hiện thực khách quan của sự vật, hiện tượng; tạo điều kiện thận lợi cho
việc khám phá, lĩnh hội kiến thức kỹ năng, kỹ xảo về đối tượng nghiên cứu, giúp
HS củng cố, khắc sâu, mở rộng, nâng cao và hoàn thiện tri thức; qua đó rèn luyện
những kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, năng lực quan sát, phân
tích tổng hợp, hình thành và phát triển động cơ học tập, tích cực làm quen với
phương pháp nghiên cứu khoa học. Từ đó, HS có khả năng vận dụng những tri thức
đã học vào thực tiễn để giải quyết những vấn đề của cuộc sống.
Phương tiện dạy học nói chung và PTTQ nói riêng là một công cụ trợ giúp đắc
lực cho GV trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học ở tất cả các khâu của quá
trình dạy học. Nếu sử phương tiện dạy học một cách lôgic, hợp lí nó sẽ giúp GV
trình bày bài giảng, tổ chức hoạt động cho HS một cách tinh giản nhưng đầy đủ sâu
sắc và sinh động, điều khiển quá trình nhận thức của HS theo hướng sáng tạo[11].
Phân loại các phương tiện trực quan:
Nếu phân loại theo tính chất, thì PTTQ gồm có 2 nhóm sau:
* Nhóm truyền tin: nhóm này cung cấp cho các giác quan của HS nguồn tin
dưới dạng tiếng hoặc hình hoặc cả 2 cùng một lúc.
Những phương tiện truyền tin dùng trong giáo dục phần lớn là các thiết bị
dùng trong sinh hoạt như: máy tính, máy chiếu, camera, máy ghi âm…
20
* Nhóm mang tin: là nhóm mà tự bản thân mỗi phương tiện đều chứa đựng
một khối lượng tin nhất định. Những tin này bố trí trên các vật liệu khác nhau và
dưới các dạng riêng biệt.
Những phương tiện mang tin gồm:
- Những phương tiện mang tin thính giác: là các phương tiện mang tin dưới
dạng tiếng như: đĩa âm thanh, băng âm thanh, chương trình phát thanh.
- Những phương tiện mang tin thị giác: là các phương tiện được trình bày và
* Các phương tiện nghe nhìn gồm hai khối: khối mang những tin và khối
chuyển tải thông tin.
Khối mang thông tin, gồm:
- Phim học tập: phim đèn chiếu, phim nhựa, phim truyền hình.
- Các băng hình, đĩa CD, đĩa DVD, đĩa VCD…
- Băng cassette.
- Các phần mềm dạy học.
- Giấy bóng trong đã có nội dung; Folie màu
Khối chuyển tải thông tin, gồm:
- Máy vi tính.
- Máy chiếu qua đầu.
- Máy chiếu đa chức năng.
- Đèn chiếu.
- Tivi.
- Đầu video, đầu đĩa: CD, DVD, VCD.
- Máy cassette
- Máy chiếu phim…
- Camera
- Đèn chiếu slide
Có thể hiểu rằng phương tiện nghe nhìn là những phương tiện dạy học mang
lại thông tin qua hiệu ứng âm thanh (ngôn ngữ) hoặc hình ảnh động (hoặc tĩnh),
hoặc kết hợp cả âm thanh lẫn hình ảnh. Như vậy các phương tiện nghe nhìn có thể
tác động đến người học thông qua kênh hình và kênh tiếng[10].
Trong QTDH, để đạt được mục đích dạy học, trước hết GV phải đưa ra được
các mục tiêu đúng đắn và kế hoạch hợp lí. Mục tiêu dạy học là những yêu cầu mà
HS cần phải lĩnh hội được cả về tri thức, kĩ năng, thái độ, hành vi sau mỗi bài học,
chương học hay cấp học. Để thực hiện được mục tiêu đó, GV cần phải căn cứ vào
22
rõ.
23
Sử dụng PTTQ có thể rút ngắn thời gian dạy học mà việc lĩnh hội kiến thức
của HS lại nhanh hơn, vững chắc hơn.
PTTQ giúp GV có nhiều thời gian và cơ hội thuận lợi để tổ chức, hướng dẫn
HS tự chiếm lĩnh tri thức mới. Bên cạnh đó nó còn giải phóng người thầy khỏi một
khối lượng các công việc tay chân, do đó làm tăng khả năng chất lượng dạy học.
PTTQ dễ dàng gây được cảm tình, sự chú ý của HS và cuốn hút đối với HS.
Sử dụng PTTQ, GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiến
thức cũng như sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo của HS.
Ngày nay, với những thành tựu của khoa học và công nghệ thì PTTQ càng
được phát triển cùng với sự ra đời của các phương tiện nghe nhìn hiện đại làm cho
PTTQ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong QTDH. Những thành tựu đó đã cho
phép đưa vào những nội dung diễn cảm và hứng thú làm thay đổi phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học, làm tăng nhịp độ của QTDH, tạo nên phong cách mới và
trạng thái tâm lí mới. Nhưng dù PTTQ có hiện đại đến đâu thì nó vẫn chỉ là công cụ
trong tay người GV, giúp họ thực hiện có hiệu quả QTDH.
1.2.1.3. Quá trình dạy học
QTDH theo nghĩa rộng nhằm hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ
một cách có ý thức, được tiến hành dưới tác động chủ đạo của nhà sư phạm. QTDH
là một quá trình tổng thể, toàn vẹn bao gồm các khâu, các yếu tố tồn tại trong sự
biện chứng: trí dục, đức dục, mĩ dục, thể dục, lao động… QTDH còn được hiểu là
hoạt động dạy và học, được cấu tạo bởi các thành tố cơ bản: mục đích và nhiệm vụ
dạy học; nội dung dạy học; phương pháp, phương tiện dạy học; người dạy; người
học; kết quả dạy học. QTDH luôn luôn vận động và phát triển theo các quy luật vốn
có của nó. Người dạy - nhà sư phạm phải biết tổ chức và điều khiển quá trình này,
phát huy cao độ vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người học, tạo ra hệ thống các
động lực, thúc đẩy và phát triển một cách tổng hợp và đồng bộ mọi thành tố của quá
ngồi trước một máy tính có nối mạng là bạn được ngồi trước một kho dữ liệu vô
tận, bao gồm các cơ sở dữ liệu ghi trên máy tính và các đĩa CD, DVD kèm theo, và
vô vàn các trang Web liên quan trên toàn thế giới, mà mọi cơ sở dữ liệu đó được kết
nối rất nhanh chóng khi tìm kiếm bằng công cụ siêu liên kết. Rõ ràng nếu hiểu "đa
phương tiện" theo cách như trên chúng ta mới thấy hết quy mô và sức mạnh diệu
kỳ của nó.
Với sự tiến bộ nhanh chóng của CNTT và vi điện tử, các công cụ lưu trữ
thông tin ngày càng có sức chứa lớn, chẳng hạn một CD-ROM thông thường có
dung lượng 700 MB, có thể chứa được cỡ 250.000 trang văn bản, cho phép ghi các
25